TIN TỨC

Các cuộc chiến trong lòng chiến tranh...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-04-05 18:25:12
mail facebook google pos stwis
1249 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Mô tả các cuộc chiến nhỏ trong lòng cuộc chiến tranh lớn chống Mỹ cứu nước ở một quân y viện tiền phương, cuốn tiểu thuyết HOÀNG HÔN DÁT ĐỎ nhắc nhở chúng ta các cuộc chiến đó vẫn kéo dài đến hôm nay và còn đó cuộc chiến tranh không tuyên bố giữa những người trung thực yêu nước và những kẻ cơ hội thể hiện dưới sắc mầu phôi phai.

HOÀNG HÔN DÁT ĐỎ là cuốn tiểu thuyết của Nhà văn Tố Hoài do Nhà xuất bản Lao động ấn hành năm 2016.

Lấy câu nói của nhân vật nữ (dược sỹ Hồng Vinh) “Mầu hoàng hôn dát đỏ” khi họ leo lên vách đá cheo leo, phía dưới là vực sâu để lấy hoa chuối về làm thức ăn cho Quân y viện tiền phương Mặt trận phía tây Quảng Trị, đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 919 – trang 83.

Nhưng đó không phải là mặt trận chiến đấu với kẻ thù mà là mặt trận cứu sống thương bệnh binh, tù binh và người dân trong vùng chiến sự.

Đây là mặt trận ác liệt nhất; hứng bom rơi, pháo bầy và còn chứa đựng rất nhiều cuộc chiến trong cuộc chiến tranh để cuối cùng là điểm tựa tinh thần cho người lính xông lên trên chiến trường.

Hoàng hôn dát đỏ khai thác góc độ phức tạp và các cuộc chiến tranh nội bộ trong bệnh viện quân y dã chiến phục vụ chiến trường...

Cuộc chiến kìm lại sự nghi ngờ đồng đội. Trong lúc cùng đồng đội kiếm rau, Bài cho biết đã dẫm phải mìn lá trong khu vực dò mìn diện rộng. Chính trị viên Thơi nghi ngờ Bài tự thương, để được về hậu phương.

Tổ trinh sát tiền phương đồi 500 để chuyển vị trí bệnh viện, gặp phải đơn vị biệt kích ngụy. Lực lượng không cân sức, trình độ chiến đấu nghiêng về phía kẻ thù, tổ đành nằm yên tránh bị phát hiện. Trưởng Ban Dược sỹ Đẳng, hoảng sợ, định tháo chạy xuống sông, buộc bác sỹ Hùng (nguyên mẫu nhân vật chính là tác giả) rút súng cảnh cáo: “Anh chạy, tôi bắn vỡ sọ” - trang 219. Ở chiến trường, kẻ chiêu hồi nguy hiểm hơn kẻ thù. Chính trị viên Thơi chứng kiến, nhìn nhận Đẳng muốn chiêu hồi nên muốn phân công người quản lý. Họ phải kìm lại các ý kiến nhìn nhận khác nhau về hành vi của Đẳng để cùng hướng về nhiệm vụ chính.

Một mặt trận khác là mặt trận tư duy khoa học và tư duy thiển cận do vụ lợi của người quyền chức (Đẳng) với cấp dưới (Hồng Vinh). Đẳng muốn Ban dược tự pha dịch truyền tại tiền phương, bị dược tá Hồng Vinh phản đối. Do điều kiện thiếu thốn ở chiến trường, dịch truyền pha chế không đảm bảo chất lượng, đã ảnh hưởng đến tính mạng thương binh. bác sỹ Hùng quyền viện trưởng ủng hộ Hồng Vinh. Bác sỹ Đẳng phản ứng bằng cách hạn chế cung cấp dịch truyền khiến việc điều trị trở nên khố khăn. Thủ kho Tú Ngọc cung cấp tờ kiểm kho Dược cho bác sỹ Hùng – trang 91, làm cơ sở để bác sỹ Cao Lãnh… giúp Hùng trong việc buộc Đẳng phải cấp phát đủ thuốc cho chữa trị thương binh - trang 96.

Bằng vốn kiến thức y học ứng dụng vào thực tiển cực kỳ khó khăn, ác liệt trên chiến trường, nhà văn đã vẽ ra cuộc chiến khoa học cứu sống con người chống lại phản khoa học vị lợi ích ích kỹ của cá nhân...

Quân y viện tiền phương thiếu đủ thứ. Thiếu máu, Bác sỹ Hùng đã yêu cầu “Y sỹ Tiêu bơm hút máu trong ổ bụng thương binh. Tiêm trả lại cơ thể…” trang 171. Mổ khâu vết thủng đại tràng cho thương binh xong, bác sỹ Hùng khâu đóng ổ bụng. Bác sỹ Dụ, trưởng ban, lớn tuổi, đầy kinh nghiệm chịu trách nhiệm phụ mổ số 2 không đồng ý vì theo giáo trình phẩu thuật, mổ đại tràng, phải để hỡ cho đến khi lành. Bom đạn, hầm hào ngập ngụa và đối diện với bom pháo lien miên, việc di chuyển có thể đến cấp kỳ nên bác sỹ Hùng lấy quyền mổ chính để quyết định – trang 195. Đó là tư duy phản biện lấy lập luận lô gic cộng với dùng đến quy luật: trong thực tế khắc nghiệt, buộc phải chấp nhận cái gì do tự nhiên sinh ra đều là tốt nhất. Bác sỹ Hùng đã thành công trong cuộc chiến với kiến thức sách vỡ giáo điều trong hoàn cảnh thiếu thốn và khắc nghiệt của chiến tranh. Trong cuộc chiến này, con người tuân theo quy luật tự nhiên luôn được tự nhiên nâng đỡ vượt qua định kiến sách vở để tìm ra lối thoát mới, tốt hơn...

Dược tá Hồng Vinh, dù được người mình yêu (bác sỹ Hùng) đồng ý làm theo nguyện vọng một thương binh hoại thư, vô cùng đau đớn trước khi vĩnh viễn ra đi; anh muốn cảm nhận được nụ hôn người con gái. Cô lấy hết can đảm để dành cho anh nụ hôn, trong mùi thối do hơi sinh ra từ vết thương bị hoại thư và làn hơi lạnh toát từ da thịt tỏa ra trước lưỡi hái thần chết, để giảm đi đau đớn cho anh phút lâm chung - trang 205. Nó là cuộc đấu tranh giữa ý nghĩ phản bội và lòng từ tâm của con người, còn hơn cả một cuộc chiến…

Bác sỹ cũng phải tham gia vào cuộc chiến chống đói cho thương binh và cả mình. Phải lặn lội về kho lấy gạo và nhận được “Hầu hết (gạo) đã vón cục vào nhau. Có cục mốc rêu” – tranh 125. Để có được thứ gạo ấy, trên đường đi, họ bị máy bay ném bom vào đội hình và may mắn thoát chết nhờ hàm ếch do núi rừng tạo nên – trang 127.

Mặt trận gửi về Quân y viện 3 tù binh bị thương trong đó có Henri Emerson là cố vấn quân sự - Trang 129 nó cho thấy sự kỳ lạ: mặt trận ở đây còn bị ảnh hưởng của yếu tố hai phía chiến tranh và của đa dân tộc kéo theo đa văn hóa.

Người lính biệt kích Tuần, do vết thương nặng được uống sửa là tiêu chuẩn cao nhất, lại xin được ăn cơm gạo mốc, rau tàu bay, thịt đi qua là thức ăn của bác sỹ và thương binh – trang 135.

Henri bị sốt cao, lạnh, dùng võng, bạt để đắp vẫn không đỡ lạnh, bác sỹ Hùng ôm lấy Henri làm lò sưởi cho bệnh nhân cũng là tù nhân – trang 141; là hành động chỉ có ở người Việt, nơi mà: “Ở phía sau chiến tranh (sát với chiến trường), sự căm thù nhường lại cho tình người. Vẫn chưa thể xóa nhòa máu và nước mắt. Nhưng tình người dịu lại (bừng lên cả) trong từng giọt máu và nước mắt ấy” – trang 138. Phần trong ngoặc đơn là cách hiểu của Henri với tư duy khoa học, duy lý.

Sau chiến tranh, Hùng gặp lại Henri ở bang Illinói; “Henri còn khóc hu hu như đứa trẻ” - trang 335 và họ trở thành bạn. Không chỉ bác sỹ Hùng, bức thư Henri nhờ dược tá Hồng Vinh gửi về quê nhà đã được chuyển đến đúng địa chỉ trong khoảng thời gian hai nước không có quan hệ ngoại giao, không có đường bưu chín bình thường...  

Nó còn là cuộc chiến nhân ái, con đường duy nhất để xóa bỏ định kiến, hận thù của những người lính xâm lược và bè lũ bán nước; gieo mầm cho hòa giải với Hoa Kỳ và hòa hợp dân tộc...

Nhưng tất cả lại diễn ra trong cuộc chiến tranh sống còn; của hai bên và sự tàn khốc. “Suốt đêm qua, Tiêu phụ mổ cả bốn ca liền. Không kịp ăn uống gì. Sáng ra đói run cả chân tay. Tiêu bảo về làm ngụm sửa” – trang 176. “Tiêu cầm ly sữa bột, loay hoay mãi vì không có nước nóng để pha. Tiêu ra ngoài lấy nước lã… bị mảnh pháo cắt ngang bụng. Ruột vắt lên cành cây cao. Nửa người xoay ra sau lưng. Sửa tung óe dưới đất” – trang 177.

Khi chiến tranh kết thúc là thời khắc cho những kẻ cơ hội ngoi lên giành quyền bính. Sau vài chục năm hoặc vài trăm năm, bền bỉ như cỏ dại, len lõi vào mọi ngóc ngách, những kẻ cơ hội trở thành số đông, khiến nhân tình xấu xa, thế nước đi xuống, tạo thời cơ cho giặc ngoại xâm thôn tính đất nước.

***

Bước ra khỏi chiến tranh, bác sỹ Hùng rơi vào cuộc chiến ảo, không kém phần khốc liệt để giành cho mình chỗ đứng, được hành nghề, được sống bằng sức lao động của mình. Đó là cuộc chiến âm thầm, kẻ cơ hội nhân danh sự phát triển trong hòa bình. Bắt đầu loại bỏ những cá nhân có tài, có đức, chiến đấu hết mình ra khỏi bộ máy. Đẳng leo lên chức viện phó và trực tiếp gợi ý bác sỹ Hùng xuất ngũ - trang 295.

Nó bắt đầu một “Thực tế ảo” tên chương 17 – trang 297. Hùng tìm về quê Hồng Vinh, gia đình cô đã chuyển vào Sài Gòn – trang 297. Gặp lại đồng đội cũ, Phiếm thú nhận biết Bài tự thương nhưng lúc đó không nói – trang 300. Đó là 2 trận đánh đầu tiên trong thời bình, kết quả, bác sỹ Hùng thất bại.

Tốt nghiệp đại học, bác sỹ Hùng không được đi học nghiên cứu sinh nước ngoài do độ tuổi được xét đi học là lúc anh chiến đấu ở chiến trường – trang 302. Gặp lại người lính biệt kích ngụy ở Sài Gòn, “thương cảnh Kim (người lính biệt kích được bác sỹ Hùng cứu chữa). Chiến tranh, ai cũng chịu ít nhiều mất mát” trang 320.

Tìm mọi cách thay đổi số phận, anh tự túc học nghiên cứu sinh ở Hoa Kỳ, trở thành tiến sỹ ngoại. “Cũng như hôm nay, cái bằng Tiến sĩ của anh, tấm vé không ghi số ghế nên không tìm thấy chỗ” – trang 447. Số phận đưa đẩy Tiến sỹ y khoa về làm bác sỹ trên con tàu viễn dương cũng là nơi gian khổ khốc liệt. Trong hoàn cảnh sóng to gió cả “dềnh dập đâu khác chiến trường, bom B52 dội trúng nóc hầm” trang 349. Các khó khăn về vật tư y tế, thiếu thốn “Tôm, cá trạng thái lạnh rữa ươn ở chợ Cầu Muối… được ướp đá lại trong Fi-gô tàu. Cua đồng giả nát (kèm vài vại muối). Rau muống, luộc lên, ướp lạnh dự trữ. Tất cả đó, một loại thức ăn thứ cấp, thủy thủ viễn dương dành cho dăm bảy tháng biển xa” - trang 350. Với tư chất bác sỹ quân y tiền phương, Bác sỹ Hùng đã vượt qua để giải các bài toán sức khỏe cho thuyền viên.

Anh đang tay chạm vào vấn đề y học đường biển”. “Thời mở cửa hé ra. Cơ chế hạch toán bắt đầu! Cánh cửa nghiên cứu khoa học đóng sập… Hàng ngày anh tham gia nhặt rau, rửa bát, lau hố xí cho thủy thủ và bê nước tiếp khách thuyền trưởng” – trang 351. Anh bị cái gọi là cơ chế loại ra.

***

Xuyên suốt tiểu thuyết là cuộc tình tay ba: Tú Ngọc, hoa khôi của Viện, có cá tính mạnh mẻ yêu bác sỹ Hùng. Bác sỹ Hùng đem lòng yêu mến Hồng Vinh, cô gái sống có nội tâm, có sự đằm thắm, sâu sắc, bản lĩnh và tư duy khoa học là người phù hợp với anh.

Cuộc chiến tranh giành giật và bảo vệ tình yêu bột phát hồn nhiên của các cô gái với đồng nghiệp của mình. Tú Ngọc hỏi “Anh Hùng ton hót với Hồng Vinh, đúng không?” trang 107, khiến độc giả thích thú với tính cách mạnh mẽ của các cô gái quân y đẹp nhất Quân y viện, ở nơi sống nay, chết mai là việc bình thường. Đó là tình cảm thơ ngây trong trắng của Tú Ngọc và sau này, được sử dụng tối đa làm nguồn gây dư luận...

Khi Bác Sỹ Hùng và dược sỹ Hồng Vinh nhận lời yêu nhau; một cuộc chiến khác âm thầm diễn ra để phá hoại tình yêu này dưới mọi nỗ lực mang danh lòng tốt và bí mật, tinh vi đến mức cặp trai tài gái sắc, cả đến độc giả cũng được tác giả kể theo logic sự việc nên không thể đoán ra... Chính cách kể chuyện khách quan đã góp phần lớn làm nên tính hấp dẫn của tác phẩm.

Tình yêu giữa Bác Sỹ Hùng và dược sỹ Hồng Vinh rơi vào ngỏ cụt của hiểu lầm chia xa và dẫn đến tự chia ly nhau trong đau đớn, nhưng vẫn không có gì lý giải. Để hấp dẫn và theo mạch logic, gần cuối tác phẩm (trang 325); Tác giả mới để ánh sáng chiếu vào...

Tận dụng cơ hội Hồng Vinh bị thương, Đẳng đưa y tá Mỹ là nam giới đến giúp đỡ, trong khi Ban dược có nhiều chiến sỹ nữ. Cuộc chiến này gây hậu quả khi có ai đó đã bí mật lợi dụng bộ máy lãnh đạo tư tưởng của bộ đội để tiến hành mà chính Thơi không hề hay biết.

Chính trị viên Thơi hồn nhiên trao đổi với Hùng như là lời cảnh báo do lòng tốt và trách nhiệm quản lý đến tình yêu nam nữ trên mặt trận: “Mỹ bảo, mé vú trái phía nách Hồng Vinh có một mụn, không rõ nốt ruồi hay mụn cóc?” – trang 246. Nó khơi nguồn cho sự hoài nghi. Tiếp đến, Thơi cho biết Đẳng đề nghị chuyển Hồng Vinh ra tuyến sau và được Ban chỉ huy đồng ý, ra quyết định – trang 247.

Tình yêu gặp thử thách, nhưng ở chiến trường, do lòng cao thượng của người lính bị đẩy lên rất nhiều nên Hùng không dám hỏi rõ Hồng Vinh. Trong con người trung thực của Tú Ngọc buộc cô lên tiếng gợi ý cho bác sỹ Hùng xem xét lại lý do Đẳng đưa Hồng Vinh về tuyến sau “Vậy thì Ngọc gợi ý nhé, Ông Đẳng bắn một mũi tên trúng hai đích”– trang 257, nhưng bác sỹ Hùng quá thơ ngây và tin vào đồng đội nên không liên kết nổi với việc Thơi nói về mụn cóc; anh không thể chấm dứt được hoài nghi.

Khi người lính vào chiến trường, họ mang theo văn hóa ông tơ bà nguyệt vốn có ích ở trong lũy tre làng và kể cả lòng tốt được tận dụng tối đa, để ly dán hai người. Thanh, em ruột của Tú Ngọc đến quân y viện thăm bác sỹ Hùng tự cho mình có tư cách là em rể của bác sỹ Hùng – trang 263.

Thủy chung, son sắt, Hồng Vinh xin về Đoàn điều dưỡng ở quê hương Bác sỹ Hùng điều trị và gặp được gia đình Hùng. Nhưng ở đâu đó, cuộc chiến vẫn được tiếp tục khởi động bằng dư luận. Cô gái Hiệp ở đội điều trị 16 ghé thăm Hồng Vinh và khẳng định bác sỹ Hùng đang “Tán tỉnh Tú Ngọc” trang 268. Cuộc chiến bằng sự không rõ ràng được thương binh Thanh về đoàn điều dưỡng khẳng định luôn “là anh rể tương lai (sẽ lấy Tú Ngọc)”- trang 277.

Hồng Vinh nhẩm lại vị đắng tình yêu. Nó không còn ngọt nữa. Chỉ thấy còn lại vị chát..”. Vốn thiên về lý trí, cô chấp nhận tự chia tay với lòng mình trong hoàn cảnh đường thư, tin tức không có. Cô đổi nguyện vọng thi vào đại học dược, chuyển qua nguyện vọng thi vào đại học ngân hàng.

Số phận cho bác sỹ Hùng gặp lại Hồng Vinh ở Sài Gòn trong tình thế anh xin bảo lãnh tài sản để du học tự túc và Hồng Vinh lúc này là tổng giám đốc Ngân hàng Đông Hải – trang 310. Tình yêu của họ vẫn còn nguyên vẹn.

Bác sỹ Hùng chủ động chất vấn nốt ruồi chỗ kín của Hồng Vinh mà chính trị viên Thơi cho rằng Mỹ thấy. Hồng Vinh cho Bác sỹ Hùng xem. “Không có nốt ruồi nào bên trái”. Đến đây, mọi mưu mô dàn dựng, mượn và tự tay thực hiện của Đẳng đã rõ. Tuy nhiên, cũng như những kẻ cơ hội khác trong chiến tranh, Đẳng không bị trừng trị vì những gì mình gây ra cho đồng đội trong chiến tranh.

Sau từng ấy thất bại trong cuộc chiến thời bình. Không chấp nhận đi theo những kẻ vụ lợi, không được làm đúng nghề để được sống lương thiện bằng sức lao động; Bác sỹ Hùng trở về ẩn nấp trong tế bào xã hội là gia đình với người vợ Hồng Vinh.

Mô tả các cuộc chiến nhỏ trong lòng cuộc chiến tranh lớn chống Mỹ cứu nước ở một quân y viện tiền phương; đến nay, cuốn tiểu thuyết nhắc nhở chúng ta còn đó cuộc chiến tranh không tuyên bố giữa những người trung thực yêu nước và những kẻ cơ hội thể hiện dưới sắc mầu phôi phai.

***

Tên tiểu thuyết

Vào thời khắc nắng tàn trên dãi Trường Sơn, dát vàng chân trời, cùng với một chuỗi ngày mịt mù khói lữa đạn bom, máu thương binh… hòa vào tâm trí độc giả tạo ra hoàng hôn dát đỏ, trở thành mỹ từ về mầu sắc chỉ có trong chiến tranh khốc liệt ở Việt Nam.

Thể loại tiểu thuyết

Cuốn tiểu thuyết được viết pha trộn giữa hai thể loại: phi hư cấu và hư cấu hòa trộn nhuần nhuyễn đến mức khó phân biệt nhờ mạch viết lo gic khoa học và logic hình thức của văn chương nên mang đậm hơi thở chiến trường và hơi thở cuộc sống sau chiến tranh.

Tính logic, trí tuệ người Việt Nam mang vào chiến tranh

Bao phủ lên toàn bộ tiểu thuyết là tư duy duy tình của người Việt mang từ hậu phương vào tiền tuyến theo sắc mầu yêu thương, vì nhau, vì đồng đội, hy sinh cho nhau, đối xữ với bệnh nhân là tù nhân lính Cộng hòa miền nam Việt Nam và lính Hoa Kỳ; xét về động cơ, các nhân vật thể hiện theo vô thức của tất cả các bên trong sự tương tác có nhiều chiều ở nơi khả năng tồn tại chỉ tính bằng khoảng khắc họ đang cảm nhận mình đang sống để làm công việc của mình. Chỉ cần nghiêng về phi hư cấu nhiều hơn, nhiều nhân vật sẽ trở thành duy lý và phi nhân tính ở nơi hai bên toan tính, làm mọi cách tạo ra môi trường cực đoan sự hỗn loạn cho nhau để dành lợi thế cho mình. Trong môi trường đó, tác phẩm vẫn khơi gợi độc giả nhìn vào trong hệ quy chiếu tác phẩm tạo nên, để tự nhận ra hình thức tổ chức chỉ huy chiến tranh linh hoạt, sáng suốt và lấy con người và sự nghĩa nhân làm trung tâm của các cấp chỉ huy cách mạng. Từ đó có sức hút với cả tù nhân phía bên kia mà họ lầm tưởng chỉ có tính nhân nghĩa của con người tạo ra.

Đó là cách mà tác giả sử dụng quy luật tác động của hình thức vào nội dung.

Các kiến thức y khoa mô tả trong tiểu thuyết được chắt lọc và viết dễ hiểu nhưng không làm thay đổi bản chất đã cho thấy sự thông minh đầy tính thực tiễn của bộ đội quân y. Vận dụng khoa học không vị khoa học mà vị nhân sinh, nhằm khắc phục hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn đến mức tưởng như không thể vượt qua, để cứu sống con người. Mặc dù độ phức tạp cao và các mâu thuẫn nội bộ luôn tồn tại như 2 mặt của một tổ chức luôn đấu tranh nhằm vươn lên; nhưng vẫn đượm tình người. Nhưng không vì thế mà những mối tình trong tiểu thuyết kém thi vị.

Tiểu thuyết chứa đựng nhiều tình huống được tác giả chắt lọc ra trong vô vàn cảnh huống bạo liệt ở chiến trường để đưa vào chi tiết tàn khốc tạo ra bởi đạn bom với mức độ đủ về lượng, tạo ra chất. Nhờ sự cẩn trọng dùng tư liệu này; các nhân vật được tác giả mô tả ở mức độ vẫn còn tính người trong tất cả các hoàn cảnh cực đoan vốn làm mất nhất tính. Đặc biệt khi gấp lại cuốn, độc giả không chỉ bừng tỉnh về lòng nhân nghĩa của người Việt Nam; mà còn hiểu thêm tự thân nền văn minh của Hoa Kỳ cũng là chất xúc tác để Hoa Kỳ - Việt Nam hóa giải chiến tranh tự trong lòng dân tộc mình.

Đó là thế mạnh của nhà văn khoa học tạo ra văn học vị nhân sinh./.

Nguồn: Kiến thức trên trang viết – tác giả Tố Hoài – Nhà xuất bản Hội Nhà Văn Việt Nam 2024. Mã số ISBN: 978-604-173-584-4. Trang 23.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm