TIN TỨC

Sức mạnh hoà bình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-13 22:21:01
mail facebook google pos stwis
3395 lượt xem

PHẠM MINH MẪN

Tháng 3 năm 1975, trong trận đánh núi Vú (Vú Chị, Vú Em, huyện Tiên Phước, Quảng Nam), đại đội trưởng Mao bị thương. Tôi (23 tuổi, đại đội phó) được tiểu đoàn trưởng Đàm Sánh (sau này là sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 QK5) gọi lên giao nhiệm vụ quyền Đại đội trưởng C10 D6 để tiếp tục tấn công thị xã Tam Kỳ.

Trận đánh Hố Bạch trước đó, bộ đội thương vong nhiều, vì núi đá không thể đào hào chiến đấu cá nhân. Đêm tiềm nhập, anh em phải nằm hoặc ngồi bên vách núi, bọn lính từ trên cao điểm bắn hú hoạ đạn phóng lựu xuống, hễ nghe tiếng “cắc” đầu nòng ai cũng thấp thỏm lo ngại, chỉ khi nghe thấy tiếng “oành” ở đâu đó mới biết mình không bị đạn M79 rơi trúng... Trịnh, đại đội trưởng C11 gặp tôi khoát tay: "Mẫn ơi, mất hết quân rồi!". Sau này Tiểu đoàn trưởng Đàm Sánh nói nhỏ với tôi: "C9 và C11 đều đang thiếu quân do thương vong, tiểu đoàn chỉ còn C10 của mày quân số tương đối đủ"…

Đại đội 10 được tiểu đoàn phối thuộc 1 khẩu đội cao xạ 12 ly 7, tôi bố trí cùng khẩu đội cối 60 đi phía sau để yểm trợ. Khi phát hiện thấy lính địch chạy nhốn nháo trên Quốc lộ 1, khẩu 12 ly 7 hạ nòng bắn thẳng, đạn nổ chát chúa nghe đầy uy lực...

Cả đại đội băng từ trên núi xuống, khoảng 10 giờ đã vào được thị xã Tam Kỳ, chén thịt hộp ba lát, hút thuốc lá Rubi "chiến lợi phẩm", sau đó tiểu đoàn được lệnh cùng sư đoàn dọc theo đường sắt và đường bộ tiến quân ngược về Đà Nẵng… Vũ khí thu nhiều vô kể, trong đó có khẩu 106,7 lúc đầu đại đội còn báo cáo, sau chẳng ai quan tâm. Qua sông Bà Rén, thượng úy Tương, Trưởng Ban trinh sát trung đoàn hy sinh. Đến Thanh Quýt (huyện Điện Bàn) thì gặp ổ kháng cự khá cứng của lính thủy quân lục chiến, đơn vị nào đánh cứ đánh, ai không đánh nhau thì ôm súng ngủ gục lấy sức. Hàng chục xác địch được anh em kéo ra đắp chiếu xếp nằm sát mé Quốc lộ 1. Có mấy cô gái trẻ và một phụ nữ trung niên tham lam đến mở chiếu lính chết trận để hôi của, bị anh em la mắng đuổi đi. Nghĩ cũng cám cảnh cho số phận người lính phía bên kia. Ngày 29/3 đơn vị đã vào đến Đà Nẵng. Vũ khí, quần áo, đồ đạc quân dụng ngổn ngang khắp nơi cùng cờ phật tử và băng rôn “Yêu cầu hai bên miền Nam Việt Nam biến Đà Nẵng thành khu phi quân sự để đảm bảo tài sản và tính mạng của đồng bào.”. Đơn vị ngủ tại nhà dân ở Miếu Bông, đêm tôi đi kiểm tra thì nghe bà con nói với nhau: “Lính của chế độ mới được đấy, thấy họ kỉ luật rất nghiêm…”.  Phía sân bay Đà Nẵng, suốt đêm bộ đội bắn pháo sáng thu được để ăn mừng. Sau đó đơn vị được lệnh thu gọn tinh giản đồ đạc, sẵn sàng chờ lệnh tiến vào Sài Gòn…


Phi công Nguyễn Thành Trung (bên phải) cùng đồng đội vui mừng sau trận ném bom vào Dinh Độc lập ngày 8/4/1975


Phi công Nguyễn Thành Trung và PGS-TS, nhà thơ Mai Quỳnh Nam tương lai.

Ngày 8/4, Đài Tiếng nói Việt Nam loan tin một trung úy phi công VNCH phản chiến, ném bom dinh Độc Lập. Sau đó bên tuyên huấn cho biết phi công đó là Nguyễn Thành Trung, gia đình cách mạng được ta cắm vào hàng ngũ địch. Bài thơ SỨC MẠNH HÒA BÌNH tôi viết trong những ngày này. Bài thơ đã được đăng trên một số báo và tạp chí nhưng chưa một lần tác giả và nhân vật gặp nhau, tôi chỉ “gặp” Nguyễn Thành Trung trên truyền hình và 1 lần thấy anh trên sân bay Pleiku  với Đoàn Nguyên Đức từ xa…

 Sau 47 năm (2022) tôi mới có dịp hạnh ngộ cùng Đại tá, Anh hùng LLVTND, nguyên Phó Tổng giám đốc hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (VN Airlines) tại nhà riêng của anh ở Quận Gò Vấp.

Nguyễn Thành Trung không dùng zalo và Facebook nhưng anh vẫn vào theo dõi báo chí và các trang mạng xã hội. Sinh năm 1945 (trong hồ sơ ghi 1947), trông anh vẫn khoẻ tuy từng trải qua trận tai biến năm 2019. Buổi sơ giao, ban đầu anh có vẻ khá kiệm lời, không muốn nhắc lại một thời hào hùng đã trải qua, thậm chí có cô cháu Giám đốc một nhà xuất bản cố thuyết phục anh viết hồi ký nhưng anh đã từ chối. Nhưng rồi câu chuyện chủ, khách mỗi lúc một thân mật và anh đã cởi mở lòng mình.

Có rất nhiều chuyện mà anh chưa từng kể với báo chí, lần đầu tiên tôi được nghe. Anh vốn họ Đinh nhưng đã đổi thành họ Nguyễn để che mắt địch (năm 1963 cha anh là Bí thư huyện Châu Thành, Bến Tre bị chính quyền Ngô Đình Diệm sát hại, thả xác trôi trên dòng kênh). Tôi hỏi anh tại sao đợt cắt bom đầu tiên anh lại ném hai trái bom xuống sân dinh Độc Lập rồi mới vòng lại ném hai trái trên nóc dinh (trong đó anh đã thao tác "khoá" một trái không cho nổ mà nhiều người vội chê bom Mỹ bị "tịt ngòi"). Anh khẳng định “thao tác“ khoá bom phi công nào cũng biết. Tuy anh không nói nhưng tôi đã đoán trúng và được anh xác nhận, đó là lý do nhân đạo. Hai quả bom ban đầu nổ ở sân dinh Độc Lập để mọi ngươi kịp xuống hầm tránh trú. Còn nếu hai quả bom đợt hai cùng nổ trên nóc dinh thì hàng chục người có thể sẽ bỏ mạng. Cuộc chiến sắp kết thúc, người Việt ta đều máu đỏ da vàng...

Trong lịch sử lực lượng vũ trang, Nguyễn Thành Trung là một minh chứng sống động trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại của quân và dân ta với truyền thống “Dùng vũ khí địch đánh địch”!

 

SỨC MẠNH HÒA BÌNH

Tặng trung uý phi công Nguyễn Thành Trung

 

Khi chiếc F5-E tách khỏi đội hình

Dưới cánh bay vẫn đường băng của địch

Và chiếc máy bay tiêm kích

Cũng từ bên đất Mỹ đưa sang…

 

Anh bay bằng Sức- Mạnh- Việt- Nam

Bánh xích chiến xa, tiếng gầm trọng pháo...

Hào khí ngàn năm tụ dồn giông bão

Sài Gòn đang tiến công!

 

Những trái bom xé nát dòng sông

Đất nước cắt chia, phố làng xơ xác

Những trái bom hằn ghi tội ác

Đang treo dưới cánh bay

 

Trời Sài Gòn vẫn xanh giữa ngàn mây

Cái màu xanh ba mươi năm mơ ước

Xác ba anh trên dòng kênh xanh năm trước

Bao người ngã xuống giữ màu xanh?

 

Đất mẹ kiên cường tiếp sức cho anh

Cánh bay nghiêng trên khoảng trời tổ quốc

Ngôi nhà chữ T, chỗ núp quân bán nước *

Tội ác từ đây năm tháng chất chồng

 

Trái tim rung nhịp đập anh hùng

Cái nhấn nút nhấn vào thế kỷ:

Anh ném xuống đầu tên tay sai Mỹ

Những trái bom U S A!

 

Tiếng nổ rung trời, sóng nổ truyền xa

Góp sức nóng bao trái tim nhân loại

Khi Thiệu rúc dưới hầm sâu khiếp hãi

Cả miền Nam cờ đỏ rợp trời.

 

Trái bom sinh ra vốn đề giết người

Bọn lái súng muôn đời đều nghĩ thế

Báu vật ấy của những tên đồ tể

Về tay anh thành sức mạnh hòa bình…
 

PMM

-----------

(*) Dinh Độc Lập.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm