TIN TỨC

Một chút tâm sự khi đọc thơ Nguyễn Tuyển

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-08-24 23:43:54
mail facebook google pos stwis
2586 lượt xem

Đặng Xuân Xuyến

 Tôi đọc thơ Nguyễn Tuyển không nhiều, cũng không thường xuyên nên hiểu về thơ của Nguyễn Tuyển không được sâu nhưng có lẽ Cha Mẹ và Quê Hương là mảng đề tài chiếm dung lượng khá lớn trong thơ anh thì phải.


Nhà thơ Nguyễn Tuyển

Cũng là nhớ về đấng sinh thành nhưng với nhà thơ Nguyễn Tuyển (trong “Ngỡ”) thì khác, anh hạnh phúc hơn khi còn bố còn mẹ nên nỗi nhớ cũng nhẹ nhàng hơn và ít nước mắt hơn so với nỗi nhớ của những ai không còn bố, không còn mẹ. Cho dù trong anh có quắt quay nhớ đấng sinh thành thì cũng chỉ ở mức rưng rưng ngấn lệ, nhưng vẫn còn đầy ắp hạnh phúc của sự chờ đợi được cha mẹ chằm bặp, yêu thương:

“Tôi mơ mùi thơm gạo mới

Nồng nàn vị mặn đất quê

Tôi mơ những chiều mẹ đợi

Bố lên nương rẫy chưa về”

(Ngỡ)

Hay những câu thơ thấm đẫm sự nhớ thương, lòng biết ơn và niềm tự hào về đấng sinh thành của người con khi phiêu bạt xa xứ:

– “Nhớ khói lam chiều quyện mái nhà tranh

Mùi cơm mới thơm nồng mồ hôi mẹ

Cha gánh hoàng hôn bước về lặng lẽ

Phía triền đê lúa trở dạ ngậm đòng”

(Thương nhớ quê nhà)

– “Mẹ nằm đếm tháng tính ngày

Tay lần tràng hạt cầu may mùa vàng

Cha ngồi bên bếp lửa tàn

Mơ trong gió thoảng những làn khói rơm”

(Tháng Ba hạt lúa nghẹn lòng)

– “Vườn của mẹ bỗng như bừng thức giấc

Những sớm mai cha mỉm cười tất bật

Chiếc áo sờn mẹ gánh cả mùa Xuân”

(Mùa Xuân đã đến phía sau mình)

Đọc những câu thơ ăm ắp tình mẹ, ăm ắp tình cha như thế hỏi ai chẳng nao lòng?!

Nỗi nhớ bố nhớ mẹ nhớ quê cứ hồn nhiên trong trẻo ngân lên như thế, rồi chợt lắng lại, trầm xuống với thoảng nhẹ chút hương nhớ vị thương đằm nét hồn quê của riêng Nguyễn Tuyển:

“Bây giờ quê xa vời vợi

Chợt thèm một khúc bánh xôi

Giận mình một đời nông nổi

Chiều rơi, ngỡ mình… mồ côi…”

(Ngỡ)

Câu “Chợt thèm một khúc bánh xôi” bằng cảm xúc rất thật, đã xóa đi cảm xúc còn chênh, chưa thật của câu: “Chiều rơi, ngỡ mình… mồ côi… “, khi Nguyễn Tuyển đẩy cảm xúc cao hơn tâm trạng thực để kết thúc bài thơ.

Không chú trọng vào việc tìm tòi cách thể hiện tứ “mới – lạ – độc” như nhiều nhà thơ trẻ hoặc thích “được trẻ hóa”, Nguyễn Tuyển lặng lẽ chọn lựa câu chữ để thể hiện được tình nồng ấm, hồn hậu trong thơ anh. Những câu thơ anh viết về quê hương dễ chạm được vào trái tim người đọc bởi những nét đẹp yên bình như được lan tỏa từ trái tim nồng ấm, đôn hậu của Nguyễn Tuyển:

“Và chú chim líu lo trên cành biếc

Mổ hạt sương tan ở sau vườn

Con mèo nhỏ vùi mình trong xó bếp

Khúc khích đùa trông thật dễ thương”

(Mai về với Mẹ)

Những câu thơ trong trẻo hồn nhiên như thế đem lại cảm xúc rất khác với những câu thơ hay và đẹp trong bài “Tìm về ngày xưa”, ví như:

“Tôi về vén bóng tre làng

Nghe bao thương nhớ cũ càng ùa xô

Con đò gác mái sóng nhô

Bờ sông thiêm thiếp, câu hò lạc trôi”

hay:

“Ngược chiều theo cánh thiên di

Ngày trôi qua đáy, mùa đi không về

Ngọn nồm quất rạc triền đê

Lòng tôi ngân ngấn bên lề nhớ quên”

Đọc những câu thơ hay và đẹp với kha khá chữ ấn tượng, gợi nhiều cảm xúc, thể hiện kỹ thuật thơ của người có tay nghề: “Bờ sông thiêm thiếp”, “Ngày trôi qua đáy”, “quất rạc triền đê”, … , với những hình ảnh gần gũi thân quen như đã từng gặp ở đâu đó dễ làm bạn đọc nao lòng nhưng cũng chính những câu thơ với những hình ảnh, những ngữ điệu dễ nao lòng đấy lại tạo cảm giác thiêu thiếu cái hồn, cái tình vốn mộc mạc chân quê trong thơ Nguyễn Tuyển, khiến người yêu thơ Nguyễn Tuyển gợn chút nỗi bâng khuâng nhơ nhớ. Có lẽ, anh muốn tạo thay đổi diện mạo cho trang thơ Nguyễn Tuyển bớt đồng điệu đồng màu nên “Tìm về ngày xưa” với những tìm tòi học hỏi để làm mới mình trong ý tưởng cấu tứ nhưng thi tứ thi ảnh chưa thật sự tạo được rõ dấu ấn riêng của thơ Nguyễn Tuyển nên những câu thơ hay và đẹp đó vẫn gợn chút bâng khuâng nhơ nhớ chất thơ, hồn thơ mộc mạc và trong trẻo của Nguyễn Tuyển trong tâm trí bạn đọc.

Tôi thích những câu thơ mang nặng dấu ấn miền Trung nắng gió – quê hương Quảng Ngãi của nhà thơ Nguyễn Tuyển, ví như:

“Bình yên quá, gối đầu lên ngày cũ

Ta mơ màng bên hương khế xốn xang

Mơ dáng ngoại khẽ khàng ru ta ngủ

Chợt giật mình…

mùi cơm mới bay ngang.”

(Bình yên quê Mẹ)

Hay:

– “Tôi nhớ làng như đứa trẻ lên ba

Ngồi ngóng mẹ đi chợ phiên ngày tết

Kể sao hết bao sắc màu xanh biếc

Con dế trong tôi cắn nát những đêm dài”

(Ngày bình yên)

– “Sáng ngồi

vẽ một bình minh

Ngờ đâu mưa xối thình lình ướt tôi

Giọt rơi rát bỏng hơn vôi

Cho tôi uống lấy bời bời niềm đau”

(Vẽ ngày bình yên)

– “Có vạt nắng chiều gầy guộc góc sân

Mẹ ngồi hong nhúm khoai mì đang mốc

Thương bông lúa trổ mầm ngoài rộc

Đàn gà con nhao nhác tìm mồi.”

(Bài thơ tháng Mười)

– “Hơn nửa đời phiêu bạt đó đây

Giữa phố phồn hoa, rộn còi tàu hú

Tiếng dế nỉ non vẫn theo vào giấc ngủ

Như lời quê thầm thĩ nơi xa”

(Ngày bình yên)

Những câu thơ như thế rất dễ chạm vào trái tim người đọc bởi những câu thơ đấy được tinh lọc, phản chiếu từ cái nhìn trong trẻo mà run rẩy rung lên tiếng lòng từ trái tim hồn hậu của Nguyễn Tuyển.

Viết về Mẹ, Nguyễn Tuyển có khá nhiều câu thơ tinh tế, có sức ám ảnh người đọc với sự lan tỏa thầm lặng, ví như:

“Lời ru chìm giữa mênh mông

Tháng ba ai đốt khói đồng mắt cay

Cánh cò hun hút chân mây

Đồng sâu mẹ đội bóng ngày liêu xiêu”

(Dỗ mình)

Hay:

– “Men theo sợi khói lam chiều

Tôi về quê mẹ – nắng liêu xiêu gầy

Hương trầm ai đốt mà cay

Giọt tràn đáy mắt bỗng ngày rưng rưng”

(Khẽ khàng quê)

– “Mẹ giờ như cọng rơm gầy

Cuối mùa sót lại sau ngày nắng mưa

Chuồn chuồn bay giữa ban trưa

Sợ cơn bão nổi về lùa qua truông”

(Gió ơi lay khẽ thôi nào)

– “Rồi một chiều muốn bỏ chốn phồn hoa

Về bên mẹ hít hà mùi cơm mới

Mái tranh nghèo nhuộm vàng bao sợi khói

Nghe à ơi… bên cánh võng năm nào.”

(Chợt thèm một chút ngày xưa)

– “Tuổi của mẹ theo ngày trôi qua tóc

Mỗi xuân sang thêm vài sợi úa màu

Nồi nếp mới của vụ mùa khó nhọc

Mẹ gói vào cời lửa suốt đêm thâu.”

(Mai con về tạ lỗi với quê hương)

– “Mẹ ạ!

chiều nay con lại nhớ

Chiếc chõng tre ọp ẹp thủa nào

Thèm một giấc ngủ vùi như chưa có

Để nghe tròn một khúc ca dao.”

(Khóc giữa ban chiều)

– “Mặc cho giông thét bão gào

Âm thầm mẹ vá khuyết hao lở bồi”

(Mẹ ơi mùa trở gió rồi)

Bên cạnh hình ảnh Mẹ là tượng hình Cha với những khắc họa thật đẹp, đẹp lồng lộng, hào sảng với những lắng đọng ấm áp từ trong da diết nỗi nhớ của nhà thơ Nguyễn Tuyển:

“Cạn đêm kí ức cựa mình

Thấy cha cõng nắng chùng chình bước chân

Miệng cười gánh cả xuân sang

Hương đồng theo gót mênh mang gió lùa”

(Chợt mơ về với quê nhà)

Bốn câu thơ khá hay, với Tứ thơ đã được nhiều nhà thơ sử dụng khi khắc họa tượng hình người Cha nhưng tượng hình người Cha trong “kí ức cựa mình” của Nguyễn Tuyển đẹp đôn hậu hào sảng với những nét vẽ dễ chạm vào trái tim và găm sâu vào trí nhớ bạn đọc của riêng Nguyễn Tuyển. Thật tiếc, nhà thơ Nguyễn Tuyển đã không đầu tư thêm chút thời gian cho việc chọn chữ gieo vần để bốn câu thơ đó được tròn trĩnh hơn.

Hay những câu thơ khác Nguyễn Tuyển viết về Cha không cố ồn ào to tiếng mà anh đào sâu vào tâm thức với suy tưởng điềm tĩnh đến trầm lặng:

– “Mấy canh chầy cha tựa cửa lo âu

Canh con nước lớn ròng theo mùa lũ

Bóng cha nhoè lem trên bức tường rêu cũ

Đèn khuya hiu hắt bên thềm.”

(Bài thơ tháng Mười)

– “Thấy bóng cha ngồi ở phía triền đê

Nối sợi dây diều tuổi thơ tôi vừa làm đứt

Hoàng hôn buông một màu đỏ rực

Chú dế mèn ngậm cỏ hát nghêu ngao”

(Một chút dại xưa)

khiến những câu thơ đó đầy ắp tâm trạng và nặng thêm sức ám ảnh với người đọc.

Thơ Nguyễn Tuyển luôn đầy ắp chất liệu mộc mạc, bình dị của cuộc sống và câu chữ anh dùng cũng là câu chữ chọn lựa từ ngôn ngữ của cuộc sống nên thơ Nguyễn Tuyển dễ gần dễ hiểu với bạn đọc. Có lẽ vì thế mà thơ của anh tuy không chú trọng làm mới cách sử dụng câu chữ và sáng tạo ngôn từ, cũng không làm mới hình thức thể hiện nhưng là thơ của cảm xúc chân thật nên bạn đọc đến với thơ Nguyễn Tuyển lặng lẽ, tự nhiên với sự lan tỏa thầm lặng không ồn ào vồn vã.

Hà Nội, sáng 5 tháng 8/2022

Đ.X.X

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm