TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc

“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-18 13:12:32
mail facebook google pos stwis
1935 lượt xem

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN ĐỨC HẢI
Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Quốc phòng  - BQP

Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình) – do Đại tá, PGS. TS. Hồ Sơn Đài tuyển chọn, giới thiệu và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phát hành năm 2026 – chính là một chỉnh thể di sản vô giá như thế. Không né tránh, không tô hồng, bộ sách đi thẳng vào bản chất khốc liệt của cuộc chiến thông qua điểm nhìn của một người trong cuộc, một chứng nhân đã dâng hiến trọn vẹn cuộc đời cho độc lập dân tộc. Trải dài qua 10 tập sách là một khúc nhạc giao hưởng, một bản anh hùng ca đầy khí phách của quân và dân ta trong hành trình lật đổ chế độ phong kiến, đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để thống nhất giang sơn, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng Pol Pot - Ieng Sary. Tất cả đều chung quy về một đích đến duy nhất: khát vọng cháy bỏng về hòa bình và hạnh phúc của một dân tộc chịu nhiều đau thương nhưng chưa bao giờ biết cúi đầu.

Tác giả bài viết và Trung tướng, AHLLVT Lưu Phước Lượng - con trai của cố Đại tá Lưu Phước Anh.

Để hiểu được cái gốc của một ý chí cách mạng kiên cường, bộ sách đã đưa độc giả quay ngược thời gian về với mảnh đất miền Trung đầy nắng gió, nơi nuôi dưỡng những người con kiên trung của đất nước. Cố Đại tá Lưu Phước Anh sinh ra bên dòng sông Thu Bồn nặng phù sa lượn quanh phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thế nhưng, dòng sông thơ mộng ấy không thể xoa dịu được nỗi cơ cực của một gia đình nghèo khổ đến tận cùng xã hội bấy giờ. Cả bên nội, bên ngoại, ba mẹ ông quanh năm suốt tháng làm thuê cuốc mướn, chịu đựng sự chèn ép của tầng lớp thống trị. Họ chắt chiu từng năm ba xu tiết kiệm dắt lưng quần, chắt chiu cả một đời chỉ để dành dụm làm quà cho con cháu mỗi dịp tụ họp. Cái nghèo, cái đói bám riết lấy gia đình ông nghiệt ngã đến mức khi ông bà mất, người thân không có lấy một đồng lo hậu sự, phải nhờ đến hội “Tế Bần” mới có chiếc quan tài đơn sơ đưa đi chôn cất lặng lẽ. Nỗi đau ly hương bủa vây lấy cuộc đời ông từ rất sớm, như một định mệnh báo trước những gian truân. Ngày ông cùng ba khăn gói rời quê nhà vào Nha Trang để làm nghề cắt tóc kiếm sống qua ngày, giây phút người mẹ hiền tiễn biệt nơi đầu bến, nhìn theo bóng con khuất dần sau những rặng cây cũng chính là lần cuối cùng hai mẹ con được nhìn thấy nhau trên cõi đời này. Cuộc chiến tranh và cái nghèo đã đẩy họ vào sự chia ly vĩnh viễn. Khi mẹ qua đời nơi quê nhà xa xôi, ông đang lang bạt nơi đất khách, trong túi không có nổi một đồng xu dắt lưng để bắt xe về chịu tang người quá cố. Nỗi đau bất hiếu vì hoàn cảnh ấy vĩnh viễn găm vào tâm khảm chàng thanh niên trẻ một vết thương sâu hoắm, một món nợ tinh thần mà cả đời ông không bao giờ nguôi ngoai.

Những năm tháng sống nơi đất khách quê người, tận cùng đáy xã hội, ông đã chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đời lầm than, những người lao công bị đọa đày, hành hạ với thân phận không khác gì kiếp trâu ngựa cho bọn thực dân. Đỉnh điểm của sự nhục nhã, u uất là khi chính người ba kính yêu của ông bị một tên quan Tây tát thẳng vào mặt một cách tàn nhẫn, thậm tệ ngay giữa thiên thiên bạch nhật chỉ vì ông cụ không may vô tình để vương chút bọt xà bông lên bộ râu mép của hắn. Cái tát ấy không chỉ đau đớn về thể xác mà còn xé nát lòng tự trọng của một con người. Sự bất công, tàn bạo của chế độ thực dân hiện ra trước mắt ông như một đường hầm không lối thoát, hàng ngày dồn nén trong lòng chàng trai trẻ một ngọn lửa căm thù sâu sắc, nung nấu ý chí phải đập tan xiềng xích này. Năm 17 tuổi, cái tuổi bẻ gãy sừng trâu, với khát vọng tìm một lối thoát để có công ăn việc làm và tiền gửi về phụ giúp gia đình thoát khỏi cảnh bần hàn, ông xin vào làm thuê ở sở cao su Quản Lợi tại Hớn Quản, thuộc tỉnh Thủ Dầu Một cũ. Nhưng trớ trêu thay, nơi vùng đất đỏ “rừng thiêng nước độc” ấy, ông không tìm thấy thiên đường mà lại một lần nữa rơi vào địa ngục trần gian. Ông chứng kiến cảnh tượng bọn chủ sở và cai lán hành hạ công nhân không thương tiếc bằng roi vọt. Những trận đòn roi, cú đấm đá tàn nhẫn đổ xuống thân hình gầy gộc của người lao động hòng vắt kiệt sức lao dốc của họ, trong khi đồng lương rẻ mạt đến nỗi chỉ đủ tiền xe di chuyển chứ không đủ tiền ăn qua ngày. Đất cao su dòng dòng máu chảy, dòng dòng nhựa trắng đổ ra cũng là lúc tinh thần phản kháng trong ông trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Ông đã cùng quần chúng lao động đoàn kết đứng lên đấu tranh, không chịu cúi đầu làm nô lệ.

Chính từ phong trào “Bình dân học vụ” những năm 1943 - 1944, dưới sự dìu dắt, lãnh đạo của các Đảng viên “nằm vùng”, Lưu Phước Anh đã trở thành một thành viên tích cực, giác ngộ lý tưởng cách mạng sâu sắc. Tháng 8 năm 1945, khi thời cơ chín muồi, ông tham gia Ủy ban Cách mạng của sở cao su Quản Lợi, cùng hàng ngàn công nhân đứng lên đập tan ách thống trị, giành chính quyền về tay nhân dân. Đây chính là bước ngoặt đầu tiên, đánh dấu bước chân của ông vào các tổ chức vũ trang. Từ một người thợ cắt tóc, một phu cao su nghèo khổ, ông được tổ chức giáo dục, học tập về chính trị, quân sự, binh vận, được soi sáng bởi lý tưởng của Mặt trận Việt Minh, về “chiến tranh nhân dân” và “đạo đức cách mạng”. Dù sau đó bị địch bắt và tra tấn dã man bằng những hình phạt tàn khốc nhất, những báng súng, đòn roi hiểm độc của kẻ thù vẫn không thể khuất phục được ý chí sắt đá của người chiến sĩ trẻ. Địch buộc phải thả tự do cho ông vì không thể khai thác được bất kỳ thông tin nào. Trở lại chiến khu miền Đông, đặc biệt là chiến trường Thủ Biên trong giai đoạn từ năm 1947 đến 1953, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy và Bộ Tư lệnh Nam Bộ, ông đã cùng đồng đội nếm mật nằm gai, gây dựng lực lượng trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, tổ chức những trận đánh xuất sắc, chia lửa cùng chiến trường cả nước để làm nên một chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, quét sạch thực dân Pháp về nước.

Lật giở những trang sách tiếp theo của bộ tuyển tập di sản, độc giả sẽ đến với giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thông qua bí danh “Lê Bình” – cái tên đã trở thành nỗi khiếp sợ của kẻ thù và là niềm tự hào của đồng đội kể từ khi ông trở lại miền Nam chiến đấu vào tháng 5 năm 1961. “Tình khúc miền Đông” trong hồi ức của Đại tá Lưu Phước Anh không phải là giai điệu lãng mạn của một bài hát tình ca thông thường, mà là bản tráng ca về một cuộc chiến không cân sức giữa ta và địch, nơi nghệ thuật quân sự Việt Nam đỉnh cao được phát huy một cách tài tình, độc đáo. Đó là nghệ thuật mưu lược tài giỏi của chiến tranh nhân dân: đánh địch bằng mưu cao kế hiểm, đánh địch bằng thế trận lòng dân, dựa vào địa hình địa vật và lòng trung thành của nhân dân để tồn tại và chiến đấu. Đây là cuộc chiến sinh tử để giành đất, giành dân với quyết tâm sắt đá được truyền từ Trung ương Đảng đến từng người chiến sĩ: “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quét sạch hết quân xâm lược”, “bám thắt lưng địch mà đánh”.

Một trong những chương đẫm dòng nước mắt và sự khâm phục nhất trong bộ sách là ký ức về thời kỳ ông làm Chính ủy tại Bệnh viện K.71A – nơi được mệnh danh là “bệnh viện đánh giặc” của chiến trường miền Đông. Ở đó, ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh như sợi tóc, bom đạn cày xới mặt đất mỗi giờ. Tập thể bệnh viện dưới sự lãnh đạo, định hướng chính trị của ông vừa phải tập trung mọi nguồn lực, trang thiết bị y tế thô sơ dưới hầm ngầm để cứu chữa thương bệnh binh, vừa phải trực tiếp cầm súng tiêu diệt các mũi tiến công, càn quét của địch đánh thẳng vào cơ sở y tế. Trong cuốn sách mang tựa đề đầy đanh thép và tự tin “Pháp Mỹ thua là phải”, ông đưa ra những lập luận mộc mạc nhưng đầy tính thuyết phục được đúc kết từ thực tiễn để khẳng định vững chắc: Kẻ thù dù vũ khí tối tân đến đâu, trực thăng hay xe tăng nhiều đến mấy cũng phải thất bại vì chúng tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa, cướp nước; còn cuộc chiến của chúng ta là chính nghĩa, bảo vệ giang sơn. Khi lòng yêu nước đã thấm vào máu thì sức mạnh tổng lực sẽ được khơi sâu: “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “còn cái lai quần cũng đánh”. Người dân không có súng thì đánh giặc bằng cuốc, thuổng, gậy gộc, bằng bẫy chông, tạo nên một mạng lưới chiến tranh du kích rộng khắp.

Với cương vị là người chủ trì công tác Đảng, công tác chính trị tại đơn vị, Đại tá Lưu Phước Anh đã bằng sự bình dị, chân thành nhưng vô cùng sâu sắc của mình để truyền ngọn lửa cách mạng cho mọi tầng lớp từ công nhân, nông dân, binh sĩ cho đến trí thức cùng đồng lòng ra trận. Hai tập sách “Chiến công từ trong lòng đất” và “Cả nhà ra trận” chính là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng được tái hiện sinh động. Lòng đất mẹ Việt Nam từ Chiến khu Đ đến Lộc Ninh, từ Lái Thiêu đến các chiến trường miền Đông gian lao mà anh dũng đã hóa thành một trận đồ thiên la địa vũng. Hệ thống địa đạo, công sự chằng chịt trong lòng đất chính là nơi xuất phát của những đòn đánh bất ngờ, bẻ gãy mọi chiến thuật hành quân cơ động, trực thăng vận, thiết xa vận của một đế quốc hùng mạnh, đẩy chúng vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Nếu sức mạnh của chiến tranh nhân dân là một bức tranh lớn đồ sộ, thì gia đình của cố Đại tá Lưu Phước Anh chính là điểm nhấn ngời sáng, cảm động và nhân văn nhất trong bức tranh ấy. Sức mạnh nào đã giúp một gia đình có đến 7 người con, cả trai lẫn gái, đều đồng lòng rời bỏ mái nhà, rời bỏ tuổi thanh xuân để ra chiến trường cùng ba? Sức mạnh ấy bắt nguồn từ người mẹ hiền – phu nhân Nguyễn Thị Xuân – người phụ nữ là nguồn lực, là niềm tin, là chỗ dựa vững chắc nhất nơi hậu phương, người đã thầm lặng gánh vác việc nhà, nuôi dạy các con và truyền ngọn lửa yêu nước cho cả gia đình chiến đấu dưới lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc. Để tránh sự lùng sục, khủng bố và trả thù tàn bạo của kẻ thù khi biết ông là cán bộ cao cấp hoạt động trong lòng địch, cả 7 người con của ông đều phải chấp nhận một nỗi đau thầm lặng: rời bỏ họ gốc (Lưu) để mang họ (Lê) theo bí danh Lê Bình của cha. Sự cải họ đổi tên ấy là một minh chứng cho sự hy sinh trọn vẹn, không màng đến danh lợi cá nhân của một gia đình cách mạng.

Độc giả sẽ tìm thấy những khoảng lặng vô cùng xúc động, làm rưng rưng trái tim trong các tập “Những giây phút không thể quên” và “Bốn mùa nhớ lại”. Đó là những kỷ niệm đẹp đẽ, tinh khôi của chàng thanh niên Lưu Phước Anh đầy bản lĩnh ngoài trận mạc nhưng lại vô cùng rụt rè khi gặp gỡ người bạn gái đầu đời – người sau này là phu nhân của ông – trong một buổi xem phim định mệnh. Ông bộc bạch một cách chân thành trong hồi ký: “Khi bắt tay... có cái gì đó rụt rè e ngại”, và ngược lại, “cô rất tự nhiên, vừa bắt tay vừa cười kín đáo càng làm cho tôi lúng túng”. Ấn tượng sâu đậm về cô gái có “cặp mắt bồ câu trong sáng, mũi cao, mặt thon dài, nụ cười duyên dáng” ấy đã theo ông suốt những năm tháng hành quân qua rừng già, là ngôi sao sưởi ấm lòng ông trong những đêm đông lạnh giá ở chiến khu.

Thế nhưng, hạnh phúc riêng tư phải nhường chỗ cho nghĩa lớn của non sông. Tháng 9 năm 1954, hiệp định Giơ-né-vơ được ký kết, ông phải nén lòng, kìm nén dòng nước mắt nhớ thương để chia tay người vợ hiền đang một nách chăm lo 5 đứa con thơ dại để bước lên tàu tập kết ra miền Bắc. Giây phút chia ly bên bến tàu ngày ấy kéo dài đằng đẵng nhiều năm trời. Những năm tháng sống trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, được đùm bọc trong tình cảm đặc biệt của bà con nhân dân Sầm Sơn, Nga Sơn, Hoằng Hóa tại Thanh Hóa, lòng ông chưa bao giờ nguôi ngoai nỗi nhớ về miền Nam ruột thịt, nhớ người vợ tảo tần và những đứa con thơ. Kỷ niệm thiêng liêng nhất đời ông là ngày được gặp Bác Hồ kính yêu giữa thủ đô Hà Nội, được nghe Bác ân cần chỉ bảo, giao nhiệm vụ gắng sức học tập, rèn luyện để chờ ngày trở về giải phóng quê hương. Và ngày ấy đã đến, tháng 5 năm 1961, ông tạm biệt thủ đô, cùng đoàn cán bộ miền Nam mang phiên hiệu “Đoàn Phương Đông” hành quân vượt vạn dặm Trường Sơn dưới mưa bom bão đạn, trèo đèo lội suối, vượt qua cái đói và bệnh sốt rét rừng để đến tháng 7 năm 1961 đặt chân vào chiến khu Mã Đà thuộc Chiến khu Đ, bắt đầu một cuộc chiến sinh tử mới đầy cam go.

Làm sao quên được những người đồng đội đã cùng ông vào sinh ra tử, nhường nhau từng ngụm nước, củ sắn để bảo vệ bệnh viện trong vòng vây nghẹt thở của giặc? Làm sao quên được những người đồng chí đã ngã xuống, thân xác hòa vào đất mẹ trong các trận càn quét, dưới những loạt bom rải thảm gầm rú của máy bay chiến lược B52? Bộ sách chứa đựng quá nhiều vết thương lòng, những kỷ niệm chiến trường gian khổ và cả những năm tháng chiến đấu giúp nước bạn Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng tàn bạo. Sự cống hiến quên mình của gia đình ông đã kết tinh thành quả ngọt, một hiện tượng hiếm có trong lịch sử quân đội: trong số 7 người con gồm 4 trai và 3 gái ra trận năm ấy, có hai người con đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là Đại tá, Bác sĩ Lưu Kim Hà và Trung tướng Lưu Phước Lượng. Cả gia đình ra trận, trở thành biểu tượng ngời sáng, ngát hương của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Cố Đại tá Lưu Phước Anh và phu nhân Nguyễn Thị Xuân xứng đáng là những biểu tượng anh hùng đáng được trân trọng, tôn vinh vĩnh viễn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cố Đại tá Lưu Phước Anh không chỉ là một nhà chỉ huy quân sự tài ba, một nhà lãnh đạo chính trị thông minh. Ông đã trải qua nhiều cương vị công tác rất quan trọng từ cấp phân đội đến cấp chiến dịch mang ý nghĩa chiến lược, luôn có mặt và gần gũi với đồng đội trong những giây phút hiểm nguy nhất, mà qua bộ sách này, ông hiện lên như một nhà sử học chân chính của nhân dân. Bằng lối viết mộc mạc, không dùng những từ ngữ hoa mỹ, ông ghi lại những câu chuyện chân thực đến trần trụi mà nếu không phải người trực tiếp trải qua ở lằn ranh sống chết, khó ai có thể hiểu và diễn tả hết được bản chất của nó. Sự cống hiến của ông không dừng lại khi tiếng súng xâm lược chấm dứt, đất nước trọn niềm vui thống nhất; khi trở về với cuộc sống đời thường tại địa phương, ông vẫn toàn tâm toàn ý đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng quê hương giàu đẹp, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

Tuyển tập 10 cuốn sách “Chiến công từ trong lòng đất” khép lại nhưng mở ra trong lòng độc giả một niềm tự hào vô bờ bến và một sự tự soi rọi lại trách nhiệm của bản thân đối với hiện tại. Đây không đơn thuần là những trang hồi ký cá nhân của một người lính, mà là một pho tư liệu lịch sử giá trị, quý hiếm được viết bằng trải nghiệm xương máu, có giá trị lưu truyền và giáo dục các thế hệ mai sau – những chủ nhân tương lai của một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – về tinh thần yêu nước, về cái giá của hòa bình độc lập và ý chí kiên cường không bao giờ khuất phục của con người Việt Nam. Những câu chuyện mộc mạc, đẫm chất nhân văn và tình người trong cuốn sách có sức mạnh giữ chân người đọc đến trang cuối cùng, để chúng ta hiểu sâu sắc hơn về một gia đình giàu truyền thống cách mạng, về một nhân cách lớn đã nguyện hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho khát vọng hòa bình và hạnh phúc của nhân dân. Bộ sách xứng đáng được đặt trang trọng trên kệ sách của mỗi gia đình Việt Nam như một lời nhắc nhở về cội nguồn và lòng biết ơn sâu sắc.

TP.HCM, 18/05/2026

N.Đ.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm