TIN TỨC

Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-09-05 13:32:27
mail facebook google pos stwis
186 lượt xem

NGUYỄN THÁNH NGÃ

Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay. Việc tạo ra một phong cách riêng là ý thức của người cầm bút, trong đó có những phong cách mới lạ, vụt hiện, bí hiểm v.v... Ngoài các trào lưu và chủ nghĩa, người ta luôn bị hút vào đám đông, cuốn vào các hiện tượng gây sốc; và một số tác giả "dậm chân tại chỗ", mòn mỏi gặm nhấm danh vị đã có được trên thi đàn.

Nhà thơ DUNG THỊ VÂN

Tôi vẫn bâng quơ đi giữa đôi chiều duyên phận, đọc hết những "kho báu" của người làm thơ, không dám khen chê. Nhưng cảm giác hình như mình đang nếm những thứ nhàn nhạt như nhau, để chấp nhận một thực tại huy hoàng của thời buổi kinh tế thị trường. Nhưng khi gặp một loại thơ bị rẻ rúng, nói thẳng ra là bị chê sau lưng, tôi đã sửng sốt nhận ra: có những kẻ thức muộn!

Kẻ thức muộn ấy có cái tội là không theo quy củ, không theo cái cách mà mọi người đang tán thưởng. Họ một mình chọn đi con đường hẹp, đầy thử thách và có nguy cơ thất bại. Có thể từ đó, tiếng thị phi cứ luồn sâu vào ngóc ngách ích kỷ, làm tổn thương người bộ hành không trang bị một vũ khí tự vệ nào, ngoài những câu chữ được cho là "vớ vẩn"!

Dung Thị Vân là kẻ thức muộn như thế. Những con chữ của chị không ngủ, bởi một cái thú tìm tòi làm mất ngủ ngôn ngữ mà nó muốn nói. Thật ra đã nói mà không ai thèm nghe, hay có khi nghe rồi lại cố "giả lả" cho được lòng, có vài người viết một vài đoạn nhằm ca ngợi lấy lệ, rồi thôi, bởi một lẽ thông thường là không chịu khó tìm hiểu thơ chị. Dù bị chê bai, nhà thơ nữ này vẫn không hề để ý, chị lặng lẽ viết và cho ra đời 10 tác phẩm thơ! Chị nói, kể từ Miên Trầm, thì chị mới bắt đầu có những sáng tạo chữ. Nghĩa là đến năm 2015, tức tập thơ thứ 6 ra đời thì ý thức sáng tạo mới mạnh mẽ. Như một làn gió cuốn hút, thơ Dung Thị Vân bay trong đám lá mùa thu xào xạc để "vàng hơn", để "sắc cạnh" hơn và để "khẳng định mình hơn" khi rơi xuống mặt đất văn chương trần gian đầy chông gai và nghi hoặc...

1. Cá tính sáng tạo

Thường thì người bảo thủ hay chấp nhặt, họ không thích thơ đổi mới, nhất là thơ tự "tạo chữ". Dĩ nhiên họ hiểu rằng, tạo chữ sẽ dễ dẫn đến "tạo nghĩa" vô cùng rối rắm. Tôi không dám chê ai, nhưng đầu óc bảo thủ thì người ta kiên cường lắm! Họ ra sức bảo vệ cái "vỏ ốc ngà" và chê hết những ai dám đi theo con đường khác mà họ gọi là "tối tạo", là ngõ cụt bế tắc... Ở đây, tôi muốn nói đến cái sáng tạo chứ không phải là bế tắc. Có người lợi dụng sáng tạo mà đi vào bế tắc, đi vào thơ "hủ nút". Xét cho kỹ thì Dung Thị Vân không đi con đường đó. Vân đi con đường "tạo chữ" đúng nghĩa. Chị vẫn biết kết hợp giữa thơ ca truyền thống và thơ tự do đổi mới, chỉ có một việc là dám tự nguyện loại bỏ lối mòn, làm cho chữ giàu nghĩa hơn, và dĩ nhiên sẽ khó chịu hơn, gây ra từ trường bí mật hơn một chút. Paul Valery - một nhà thơ, một triết gia người Pháp đã nói: "Thơ không phải để hiểu mà để cảm", chính là ý mà Dung Thị Vân đang hướng tới. Có người cho rằng, có những bài thơ khi đọc lên thấy hay mà chưa hiểu. Tôi cho cảm giác này là thật. Thơ Dung Thị Vân cũng thế, có lúc vì say tạo chữ mà câu thơ trở nên khó hiểu, nhưng vẫn thấy hay. Vậy nên, tôi muốn quay lại tập thơ Miền Gió Ngược một chút để thấy cái hay cũ mà Dung Thị Vân đã từng có, ví như bài thơ sau:

"Em về miền gió ngược
B'lao trăng đỏ trời
Vịn đâu đồi dốc trượt
Thôi vịn vào chơi vơi..."

Bốn câu thơ này ai bảo không hay? Nhưng cái hay đã cũ. Và bài Người về như sau:

"Người về vạt áo mong manh
Tự dưng nhớ rét rồi thành nhớ nhau
Heo may chơm chớm mái đầu
Bàn tay ai vẫy như màu lá chao..."

Hay quá đi chứ! Nhưng Dung Thị Vân thừa hiểu đó là cái hay đã cũ nên không còn dây dưa, nặng nợ với nó cho lắm. Vậy thì những câu thơ mà nữ sĩ đang đi vào "tạo chữ" thì sao? Thì đây, đầu tiên là Miên Trầm với Tiếng thở dài:

"Tiếng thở dài
Viễn sương miền quá khứ
Thả nỗi lòng
Nguyệt lặn đã tàn thu..."

"Viễn sương" và "nguyệt lặn" là hai từ sáng tạo. Nó làm cho câu thơ mở rộng chiều không gian tâm thức hơn, thay vì viết theo lối cũ. Và đây:

"Bài thơ tình chốt lại
Mảnh vỡ buồn khâu vai"

Nếu đọc lướt qua, thì hai câu thơ bình thường quá. Nhưng nếu hiểu được ý tác giả qua từ "khâu vai" thì câu thơ bỗng lóe sáng. Tôi cho đây là cái giỏi của Dung Thị Vân, nhà thơ đã khiến cho câu thơ đọc lên nghe như chơi mà đầy hàm ý độc đáo. Bởi "khâu vai" ngoài nghĩa đen ra, còn có nghĩa bóng là chợ tình Khâu Vai, trường liên tưởng sẽ dẫn người đọc vào mênh mông vô tận của những cuộc tình đẹp của người Tây Bắc. Có lẽ, đây cũng là thủ pháp "tạo chữ" tạo hình đầy mê hoặc của nghệ thuật ngôn từ. Còn trong bài Hóa Mặc nhà thơ đã viết:

"Mặc mùa Ngâu xoay
Quên nắng vàng bậu lối"...

Hóa Mặc là nhan đề bài thơ, là sự biến hóa đã được mặc định bởi thiên duyên thì ai cũng hiểu. Nhưng "bậu lối" thì "bậu" là chữ cổ của người Việt, ví như trong câu hát: "Ví dầu tình bậu muốn thôi / Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra"... thì "bậu" tức là em. Ở đây "bậu lối" là chỉ lối về của em thôi, mà nghe rất lạ và đầy tưởng tiếc, khiến người hoài cổ có liên tưởng sâu hơn về tiếng Việt. Tôi cho đây cũng là một cách biến hóa cho câu từ thêm sâu sắc, và có cảm giác hơn, không còn khô cứng trong câu chữ thường dùng...

2. Thủ pháp tạo chữ

Hóa ra Dung Thị Vân là người vô tình hay hữu ý, thấu thị từng câu thơ của mình, làm thành sự khác biệt vô tưởng. Tôi đọc câu này mà trăn trở:

"Ơ hay! Chai rượu đầu niên kỷ
Cứ rớt bên trời những vá vay..."

"Vá vay" là gì mà nó làm cho câu thơ xao động đến thế? Tôi cho rằng nếu không có từ "vá vay" thì hai câu trên có thể ném đi, không tiếc. Nhưng không, chỉ một từ đơn giản và sắc cạnh đã cứu rỗi cặp thơ này, làm cho câu thơ bay lên nhờ từ mới tạo "vá vay". Thơ Dung Thị Vân không cách tân, không vay mượn. Vậy mà từ trong cái ngỡ là bình thường nhất, bỗng bật ra một cách táo bạo, làm sáng lên một thủ pháp có lẽ chưa ai, hoặc rất ít người làm chăng?

Và cũng trong tập thơ nhỏ Miên Trầm, tôi đã choáng váng khi đọc câu thơ này: "Chiều rơi lại hạt mồ côi xám"... Khoan hãy hỏi nó trong bài nào, câu tiếp theo là gì? Theo tôi, chỉ cần một câu này thôi, cái hay của nó vượt ra ngoài thời gian và không gian sáng tác. Đây là câu thơ hay nhất trong tập Miên Trầm, mang hai giá trị: cao siêu và bí hiểm! Bởi đọc lên nghe hay, và hiểu, thì còn phải chờ. Nó có vóc dáng như câu thơ tiền chiến của cụ Nguyễn Xuân Sanh: "Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà". Đây là câu thơ hay và bí hiểm bậc nhất trong văn học Việt Nam. Tôi không dám so sánh thơ Dung Thị Vân với thơ cụ, nhưng để hiểu cái hay của người thơ, cũng cần một chút trích dẫn...

3. Sự thức nhận

Ai cũng biết rằng thơ là nghệ thuật ngôn từ, nhưng khi ngôn từ đã được chuyển hóa từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, thì nó không còn mang khuynh hướng sáng tác trước đó của tác giả nữa. Từ cái tôi trữ tình sang cái tôi khám phá cảm xúc, nhà thơ đã vô hình dung đặt thơ vào thế "gợi cảm" hơn là "truyền cảm", trong không gian nghệ thuật của riêng mình. Điều này được Dung Thị Vân thể hiện rất sâu sắc qua bài thơ mang tựa đề "Sáng" như sau:

"Buổi sáng - thinh câm
Buổi sáng - sâm cầm
Cắn từng - giọt mực
Gọi tình - trăm năm"...

Chúng ta thấy với nhịp 2 - 2, ngôn từ trở nên gợi cảm. Một buổi sáng mà mọi sắc thái thanh âm dường là những nốt câm. Trong đó, cánh sâm cầm chỉ là một chiếc bóng in trên mặt hồ. Và giọt mực trong trái tim ta bị cắn vỡ, để viết thành tiếng gọi cho cuộc tình trăm năm. Bài thơ cho người đọc một cảm giác mộng ảo, tịnh không có vết tích...

Một thể hư không trong vắt mà cô quạnh, cho người thưởng ngoạn thấy ngôn từ, trong bình diện này là rất quan trọng, nó quyết định một phong cách mới lạ - một dấu "vân chữ" độc đáo của cây bút thích khám phá này.

Một mình, một ngựa dám đi trên con đường độc đạo, phải là người có bộ nơ-ron xoắn ốc, và vốn chữ táo bạo. Chưa vội nói tới thành công hay thất bại, việc tạo ra những con chữ ảo diệu, những ẩn dụ bất ngờ, đã đưa Dung Thị Vân không lẫn với các nhà thơ khác. Chị quan niệm về thơ như Wiliam Butler Yeats rằng: "Cái gì có thể giải thích thì không phải là thơ". Vì thế, chị không những làm thơ có phong cách, mà còn biết cách "tạo chữ" để ghi lại những rung động tinh tế, những cảm xúc trào dâng trong tâm hồn.

Tôi có lúc kinh người khi đọc Dung Thị Vân chỉ với mấy câu sau:

"Lệch nhau
Một thời xô khứ
Lọn nắng hè thiêu
Ve khắc khoải mạ người..."

Đây là bài thơ mà không gian và thời gian quyện siết nhau, không rời. Về không gian hình học, chỉ cần lệch một sát-na thôi thì thời gian xô đổ cả không gian, và ngược lại. Và họa sĩ là chủ nhân sáng tạo, đã vẽ một bức tranh tài hoa mà không có họa sĩ trần gian nào vẽ được. Chiếc cọ thần thánh đã nhúng lửa, thiêu cho tiếng ve khắc khoải sôi, để rồi "mạ vàng" lên mặt người...

Quả thật, những câu thơ đầy thanh âm và đầy thi ảnh trí tuệ, tôi chưa biết diễn giải tài hoa này ra sao, thì vớ được câu nói của Ngài Albert Einstein rằng: "Sáng tạo là trí thông minh đang vui đùa". Vâng, trần thế là những cuộc vui đùa bất tận, thơ là thú vui đùa tao nhã nhất, mà một người thơ thông minh, biết chọn cho riêng mình, bằng cách ghi dấu những "vân chữ" mang đậm hơi thở của kẻ phiêu du, luôn đi tìm sự mới lạ trên những vùng thảo nguyên thi ca xa xôi và kỳ vĩ.

Viết tới đây, tôi chợt nhận ra phẩm giá của thơ Dung Thị Vân, là những gì thật sự cao đẹp, thường không ồn ào. Những gì có giá trị, thường không cần phô trương. Và nhất là con người có tư cách mạnh mẽ, thường im lặng. Bởi không phải họ không biết giá trị thật sự của thơ mình, mà họ biết mỗi lần gục ngã là cơ hội để đứng lên, và để hồi sinh niềm cảm xúc và cơ duyên sáng tạo trong một "cá tính" mà chỉ có vùng khí quyển trong lành mới dung chứa được mà thôi...

Sài Gòn mùa thu 2022 - mùa hạ 2026
N.T.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm