TIN TỨC

Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-09-05 13:32:27
mail facebook google pos stwis
937 lượt xem

NGUYỄN THÁNH NGÃ

Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay. Việc tạo ra một phong cách riêng là ý thức của người cầm bút, trong đó có những phong cách mới lạ, vụt hiện, bí hiểm v.v... Ngoài các trào lưu và chủ nghĩa, người ta luôn bị hút vào đám đông, cuốn vào các hiện tượng gây sốc; và một số tác giả "dậm chân tại chỗ", mòn mỏi gặm nhấm danh vị đã có được trên thi đàn.

Nhà thơ DUNG THỊ VÂN

Tôi vẫn bâng quơ đi giữa đôi chiều duyên phận, đọc hết những "kho báu" của người làm thơ, không dám khen chê. Nhưng cảm giác hình như mình đang nếm những thứ nhàn nhạt như nhau, để chấp nhận một thực tại huy hoàng của thời buổi kinh tế thị trường. Nhưng khi gặp một loại thơ bị rẻ rúng, nói thẳng ra là bị chê sau lưng, tôi đã sửng sốt nhận ra: có những kẻ thức muộn!

Kẻ thức muộn ấy có cái tội là không theo quy củ, không theo cái cách mà mọi người đang tán thưởng. Họ một mình chọn đi con đường hẹp, đầy thử thách và có nguy cơ thất bại. Có thể từ đó, tiếng thị phi cứ luồn sâu vào ngóc ngách ích kỷ, làm tổn thương người bộ hành không trang bị một vũ khí tự vệ nào, ngoài những câu chữ được cho là "vớ vẩn"!

Dung Thị Vân là kẻ thức muộn như thế. Những con chữ của chị không ngủ, bởi một cái thú tìm tòi làm mất ngủ ngôn ngữ mà nó muốn nói. Thật ra đã nói mà không ai thèm nghe, hay có khi nghe rồi lại cố "giả lả" cho được lòng, có vài người viết một vài đoạn nhằm ca ngợi lấy lệ, rồi thôi, bởi một lẽ thông thường là không chịu khó tìm hiểu thơ chị. Dù bị chê bai, nhà thơ nữ này vẫn không hề để ý, chị lặng lẽ viết và cho ra đời 10 tác phẩm thơ! Chị nói, kể từ Miên Trầm, thì chị mới bắt đầu có những sáng tạo chữ. Nghĩa là đến năm 2015, tức tập thơ thứ 6 ra đời thì ý thức sáng tạo mới mạnh mẽ. Như một làn gió cuốn hút, thơ Dung Thị Vân bay trong đám lá mùa thu xào xạc để "vàng hơn", để "sắc cạnh" hơn và để "khẳng định mình hơn" khi rơi xuống mặt đất văn chương trần gian đầy chông gai và nghi hoặc...

1. Cá tính sáng tạo

Thường thì người bảo thủ hay chấp nhặt, họ không thích thơ đổi mới, nhất là thơ tự "tạo chữ". Dĩ nhiên họ hiểu rằng, tạo chữ sẽ dễ dẫn đến "tạo nghĩa" vô cùng rối rắm. Tôi không dám chê ai, nhưng đầu óc bảo thủ thì người ta kiên cường lắm! Họ ra sức bảo vệ cái "vỏ ốc ngà" và chê hết những ai dám đi theo con đường khác mà họ gọi là "tối tạo", là ngõ cụt bế tắc... Ở đây, tôi muốn nói đến cái sáng tạo chứ không phải là bế tắc. Có người lợi dụng sáng tạo mà đi vào bế tắc, đi vào thơ "hủ nút". Xét cho kỹ thì Dung Thị Vân không đi con đường đó. Vân đi con đường "tạo chữ" đúng nghĩa. Chị vẫn biết kết hợp giữa thơ ca truyền thống và thơ tự do đổi mới, chỉ có một việc là dám tự nguyện loại bỏ lối mòn, làm cho chữ giàu nghĩa hơn, và dĩ nhiên sẽ khó chịu hơn, gây ra từ trường bí mật hơn một chút. Paul Valery - một nhà thơ, một triết gia người Pháp đã nói: "Thơ không phải để hiểu mà để cảm", chính là ý mà Dung Thị Vân đang hướng tới. Có người cho rằng, có những bài thơ khi đọc lên thấy hay mà chưa hiểu. Tôi cho cảm giác này là thật. Thơ Dung Thị Vân cũng thế, có lúc vì say tạo chữ mà câu thơ trở nên khó hiểu, nhưng vẫn thấy hay. Vậy nên, tôi muốn quay lại tập thơ Miền Gió Ngược một chút để thấy cái hay cũ mà Dung Thị Vân đã từng có, ví như bài thơ sau:

"Em về miền gió ngược
B'lao trăng đỏ trời
Vịn đâu đồi dốc trượt
Thôi vịn vào chơi vơi..."

Bốn câu thơ này ai bảo không hay? Nhưng cái hay đã cũ. Và bài Người về như sau:

"Người về vạt áo mong manh
Tự dưng nhớ rét rồi thành nhớ nhau
Heo may chơm chớm mái đầu
Bàn tay ai vẫy như màu lá chao..."

Hay quá đi chứ! Nhưng Dung Thị Vân thừa hiểu đó là cái hay đã cũ nên không còn dây dưa, nặng nợ với nó cho lắm. Vậy thì những câu thơ mà nữ sĩ đang đi vào "tạo chữ" thì sao? Thì đây, đầu tiên là Miên Trầm với Tiếng thở dài:

"Tiếng thở dài
Viễn sương miền quá khứ
Thả nỗi lòng
Nguyệt lặn đã tàn thu..."

"Viễn sương" và "nguyệt lặn" là hai từ sáng tạo. Nó làm cho câu thơ mở rộng chiều không gian tâm thức hơn, thay vì viết theo lối cũ. Và đây:

"Bài thơ tình chốt lại
Mảnh vỡ buồn khâu vai"

Nếu đọc lướt qua, thì hai câu thơ bình thường quá. Nhưng nếu hiểu được ý tác giả qua từ "khâu vai" thì câu thơ bỗng lóe sáng. Tôi cho đây là cái giỏi của Dung Thị Vân, nhà thơ đã khiến cho câu thơ đọc lên nghe như chơi mà đầy hàm ý độc đáo. Bởi "khâu vai" ngoài nghĩa đen ra, còn có nghĩa bóng là chợ tình Khâu Vai, trường liên tưởng sẽ dẫn người đọc vào mênh mông vô tận của những cuộc tình đẹp của người Tây Bắc. Có lẽ, đây cũng là thủ pháp "tạo chữ" tạo hình đầy mê hoặc của nghệ thuật ngôn từ. Còn trong bài Hóa Mặc nhà thơ đã viết:

"Mặc mùa Ngâu xoay
Quên nắng vàng bậu lối"...

Hóa Mặc là nhan đề bài thơ, là sự biến hóa đã được mặc định bởi thiên duyên thì ai cũng hiểu. Nhưng "bậu lối" thì "bậu" là chữ cổ của người Việt, ví như trong câu hát: "Ví dầu tình bậu muốn thôi / Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra"... thì "bậu" tức là em. Ở đây "bậu lối" là chỉ lối về của em thôi, mà nghe rất lạ và đầy tưởng tiếc, khiến người hoài cổ có liên tưởng sâu hơn về tiếng Việt. Tôi cho đây cũng là một cách biến hóa cho câu từ thêm sâu sắc, và có cảm giác hơn, không còn khô cứng trong câu chữ thường dùng...

2. Thủ pháp tạo chữ

Hóa ra Dung Thị Vân là người vô tình hay hữu ý, thấu thị từng câu thơ của mình, làm thành sự khác biệt vô tưởng. Tôi đọc câu này mà trăn trở:

"Ơ hay! Chai rượu đầu niên kỷ
Cứ rớt bên trời những vá vay..."

"Vá vay" là gì mà nó làm cho câu thơ xao động đến thế? Tôi cho rằng nếu không có từ "vá vay" thì hai câu trên có thể ném đi, không tiếc. Nhưng không, chỉ một từ đơn giản và sắc cạnh đã cứu rỗi cặp thơ này, làm cho câu thơ bay lên nhờ từ mới tạo "vá vay". Thơ Dung Thị Vân không cách tân, không vay mượn. Vậy mà từ trong cái ngỡ là bình thường nhất, bỗng bật ra một cách táo bạo, làm sáng lên một thủ pháp có lẽ chưa ai, hoặc rất ít người làm chăng?

Và cũng trong tập thơ nhỏ Miên Trầm, tôi đã choáng váng khi đọc câu thơ này: "Chiều rơi lại hạt mồ côi xám"... Khoan hãy hỏi nó trong bài nào, câu tiếp theo là gì? Theo tôi, chỉ cần một câu này thôi, cái hay của nó vượt ra ngoài thời gian và không gian sáng tác. Đây là câu thơ hay nhất trong tập Miên Trầm, mang hai giá trị: cao siêu và bí hiểm! Bởi đọc lên nghe hay, và hiểu, thì còn phải chờ. Nó có vóc dáng như câu thơ tiền chiến của cụ Nguyễn Xuân Sanh: "Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà". Đây là câu thơ hay và bí hiểm bậc nhất trong văn học Việt Nam. Tôi không dám so sánh thơ Dung Thị Vân với thơ cụ, nhưng để hiểu cái hay của người thơ, cũng cần một chút trích dẫn...

3. Sự thức nhận

Ai cũng biết rằng thơ là nghệ thuật ngôn từ, nhưng khi ngôn từ đã được chuyển hóa từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, thì nó không còn mang khuynh hướng sáng tác trước đó của tác giả nữa. Từ cái tôi trữ tình sang cái tôi khám phá cảm xúc, nhà thơ đã vô hình dung đặt thơ vào thế "gợi cảm" hơn là "truyền cảm", trong không gian nghệ thuật của riêng mình. Điều này được Dung Thị Vân thể hiện rất sâu sắc qua bài thơ mang tựa đề "Sáng" như sau:

"Buổi sáng - thinh câm
Buổi sáng - sâm cầm
Cắn từng - giọt mực
Gọi tình - trăm năm"...

Chúng ta thấy với nhịp 2 - 2, ngôn từ trở nên gợi cảm. Một buổi sáng mà mọi sắc thái thanh âm dường là những nốt câm. Trong đó, cánh sâm cầm chỉ là một chiếc bóng in trên mặt hồ. Và giọt mực trong trái tim ta bị cắn vỡ, để viết thành tiếng gọi cho cuộc tình trăm năm. Bài thơ cho người đọc một cảm giác mộng ảo, tịnh không có vết tích...

Một thể hư không trong vắt mà cô quạnh, cho người thưởng ngoạn thấy ngôn từ, trong bình diện này là rất quan trọng, nó quyết định một phong cách mới lạ - một dấu "vân chữ" độc đáo của cây bút thích khám phá này.

Một mình, một ngựa dám đi trên con đường độc đạo, phải là người có bộ nơ-ron xoắn ốc, và vốn chữ táo bạo. Chưa vội nói tới thành công hay thất bại, việc tạo ra những con chữ ảo diệu, những ẩn dụ bất ngờ, đã đưa Dung Thị Vân không lẫn với các nhà thơ khác. Chị quan niệm về thơ như Wiliam Butler Yeats rằng: "Cái gì có thể giải thích thì không phải là thơ". Vì thế, chị không những làm thơ có phong cách, mà còn biết cách "tạo chữ" để ghi lại những rung động tinh tế, những cảm xúc trào dâng trong tâm hồn.

Tôi có lúc kinh người khi đọc Dung Thị Vân chỉ với mấy câu sau:

"Lệch nhau
Một thời xô khứ
Lọn nắng hè thiêu
Ve khắc khoải mạ người..."

Đây là bài thơ mà không gian và thời gian quyện siết nhau, không rời. Về không gian hình học, chỉ cần lệch một sát-na thôi thì thời gian xô đổ cả không gian, và ngược lại. Và họa sĩ là chủ nhân sáng tạo, đã vẽ một bức tranh tài hoa mà không có họa sĩ trần gian nào vẽ được. Chiếc cọ thần thánh đã nhúng lửa, thiêu cho tiếng ve khắc khoải sôi, để rồi "mạ vàng" lên mặt người...

Quả thật, những câu thơ đầy thanh âm và đầy thi ảnh trí tuệ, tôi chưa biết diễn giải tài hoa này ra sao, thì vớ được câu nói của Ngài Albert Einstein rằng: "Sáng tạo là trí thông minh đang vui đùa". Vâng, trần thế là những cuộc vui đùa bất tận, thơ là thú vui đùa tao nhã nhất, mà một người thơ thông minh, biết chọn cho riêng mình, bằng cách ghi dấu những "vân chữ" mang đậm hơi thở của kẻ phiêu du, luôn đi tìm sự mới lạ trên những vùng thảo nguyên thi ca xa xôi và kỳ vĩ.

Viết tới đây, tôi chợt nhận ra phẩm giá của thơ Dung Thị Vân, là những gì thật sự cao đẹp, thường không ồn ào. Những gì có giá trị, thường không cần phô trương. Và nhất là con người có tư cách mạnh mẽ, thường im lặng. Bởi không phải họ không biết giá trị thật sự của thơ mình, mà họ biết mỗi lần gục ngã là cơ hội để đứng lên, và để hồi sinh niềm cảm xúc và cơ duyên sáng tạo trong một "cá tính" mà chỉ có vùng khí quyển trong lành mới dung chứa được mà thôi...

Sài Gòn mùa thu 2022 - mùa hạ 2026
N.T.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ấm áp những nụ cười trong tập thơ “Có phải cô là nắng” của Phan Thanh Tâm
Có phải Cô là nắng là tác phẩm thứ 9 và Tuyển tập thơ thứ 2 viết cho thiếu nhi của Nhà văn Phan Thanh Tâm. Tập thơ có 50 bài thơ đề cập đến nhiều chủ đề với cái nhìn dễ thương của trẻ thơ.
Xem thêm
Thơ ca và những tấm lòng đồng điệu trong buổi ra mắt sách của Phan Thanh Tâm
Bởi suy cho cùng, những hạt nắng đẹp nhất trong thơ thiếu nhi chính là những hạt nắng được gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ.
Xem thêm
Tôi gọi Hoa của nước là hoa chữ trường ca
Tôi gọi Hoa của nước của nữ nhà văn Trầm Hương là “Hoa chữ trường ca”. Đây không phải sự tung hô tùy hứng, càng không phải lời khen dành cho tác phẩm của nhà văn đương đại tại TP.HCM. Hoa của nước đẹp nhưng không phải do tô điểm thành nên!
Xem thêm
Từ biểu tượng trong thơ đến việc tìm hiểu đặc trưng của thơ cổ điển, siêu thực
Khi tìm hiểu đặc trưng của các trào lưu (phong cách, trường phái) văn học, có thể bắt đầu từ các khái niệm gần gũi như hình tượng, biểu tượng... Bài viết này dùng các khái niệm này để lần lượt mở cánh cửa đi vào thế giới thơ cổ điển và thơ siêu thực.
Xem thêm
Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo
Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người.
Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm