TIN TỨC

Dọc đường miền Trung – Bút ký Trần Ngọc Phượng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-10-06 16:39:58
mail facebook google pos stwis
1336 lượt xem

Anh Nhân và chú Phụng mời mình du lịch miền Trung. Trong đoàn có mình, Huynh, Thứ, Tô Minh, là lính thời chống Mỹ. Còn anh Nhân, An, Phụng, Ngọc Hùng, Lương là những cựu chiến binh thời chiến tranh biên giới Tây Nam. Anh em đi xe ô tô từ thành phố Hồ Chí Minh theo đường Trường Sơn ra Nghệ An, rồi quay về theo đường số 1, thăm các khu di tích lịch sử và các thành phố ven biển. Từ Tân Cảnh, Ngọc Hồi, xe bon bon theo đường Trường Sơn mới mở, hai bên là những cánh rừng xanh ngắt, thỉnh thoảng bắt gặp các bản làng và những con đường mòn vào rừng, lên núi. Trong kháng chiến, chúng tôi phải vượt Trường Sơn hơn 4 tháng trời, không nhớ nổi phải qua bao đèo, bao suối, vượt qua bao thác ghềnh nguy hiểm, chịu bao nhiêu bom đạn để vào đến nơi tập kết ở Bà Rá, Phước Long. Lòng ai cũng rưng rưng theo những bài ca Trường Sơn mà cậu lái xe mở: “Ta vượt lên đỉnh núi cao Trường Sơn, đá mòn mà đôi gót không mòn”. Những đoàn quân nối tiếp nhau như dòng thác chảy, hành quân trong mưa bom bão đạn, trong đói ăn thiếu thốn cùng cực.

Nhà văn Trần Ngọc Phượng

("Lại hiện về thăm thẳm núi non kia/ Dưới lá là rừng là tăng là võng/ Là cơn sốt rét rừng vàng bủng/ Là muỗi vắt bom mìn, vực sâu đèo cao" - Thơ Nguyễn Duy)

Con đường đi bộ dài dằng dặc 4 tháng ấy, nay đi xe hơn một ngày chúng tôi đã đến Nghệ An.

Ngày tiếp theo, sau khi về thăm quê Bác, cả đoàn đến thăm khu di tích Ngã ba Đồng Lộc. Mình vào Nam năm 1965, đi qua những cung đường khu 4 ác liệt, gặp biết bao cô TNXP trẻ măng bám trụ mở đường. Trong bom rơi pháo sáng không nhìn rõ mặt, chỉ nghe tiếng nói cười ríu rít của các em. Chúng mình chỉ đi qua một lần, còn các em phải bám trụ sống chết ngày đêm ở các trọng điểm, như ngọn đèn đứng gác, ngọn đèn không bao giờ được tắt. Mình cũng đã nhiều lần đến thăm mộ mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Nhưng lần này, mình thấy trên mộ các cô, ngoài hương hoa, nhiều bạn trẻ đặt thêm gương lược, dầu thơm. Các cô hy sinh khi còn quá trẻ. Hồi đó, những thứ này làm gì có. Mỗi tháng chỉ được cấp nửa cục xà phòng, đen cứng như đá.

“Mắt em nhìn trong veo đến vậy
Tuổi hai mươi trẻ mãi đến mai sau
Trên mộ em vẫn góc riêng con gái
Có dầu thơm, gương lược chải đầu”

Sau giải phóng trở về đời thường, tuổi xuân lỡ làng, mang theo bệnh sốt rét, chất độc da cam, có cô tự kiếm cho mình đứa con, rồi lại quây quần với nhau bên "Bến không chồng", có cô tìm về cửa Phật Nam mô Di Đà.

Đèo Ngang bây giờ đã có đường hầm, nhưng anh em chúng tôi vẫn muốn vượt đèo bằng con đường cũ để thưởng thức phong cảnh, ngâm nga câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan:

“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà/ Cỏ cây chen lá, đá chen hoa/ Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ mấy nhà...”

Mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nằm trên ngọn núi Thọ, Mũi Rồng ở vùng biển Vũng Chùa - Đảo Yến, cách Đèo Ngang khoảng 10 km, thuộc dãy Hoành Sơn đâm ngang ra biển. Đây không chỉ là điểm du lịch tâm linh mà còn là thắng cảnh tuyệt đẹp. Nơi an nghỉ của Người có thế núi hùng vĩ, có vùng biển bình yên thoáng đãng:

“Đèo Ngang mây bay lồng gió
Vũng Chùa sóng vỗ hiền hòa
Nằm giữa hai miền đất nước
Dang tay ôm dải sơn hà”

Hàng ngày trên đường vào Nam ra Bắc, nhiều đoàn người vào đây viếng Người, cầu mong Người linh thiêng phù hộ cho quốc thái dân an, truyền thêm sức mạnh cho toàn dân đập tan quân bành trướng xâm lược.

Đến thăm di tích đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải, nơi chứng kiến nỗi đau chia cắt hai miền và cuộc đấu tranh 21 năm (1954-1975) với biết bao nhiêu xương máu của chiến sĩ đồng bào đã đổ xuống để giành độc lập, thống nhất đất nước.

“Một cây cầu/ Ngăn giữa hai màu sơn/ Như nhát dao/ Cắt đôi khúc ruột/ Hai mươi mốt năm/ Chia lìa đất nước/ Chia cả vợ chồng/ Chia cả cha con/ Nắm đất Cà Mau/ Mẹ gửi ra đất Bắc/ Đường Trường Sơn/ Dằng dặc khúc quân hành/ Bao máu xương/ Thành sông, thành núi/ Để nối liền khúc ruột yêu thương”

Anh em chúng tôi xuống xe, đi bộ qua cầu dài 183m, chụp ảnh bắt tay nhau giữa cây cầu, nơi ngăn cách bởi hai màu sơn. Nơi đây đã được xây dựng thành cụm di tích lịch sử. Phía Bắc có nhà Liên hợp, hệ thống loa, và nổi bật là cột cờ Hiền Lương cao hơn 28m. Phía Nam có "Nhà trưng bày vĩ tuyến 17" và cụm tượng đài "Khát vọng thống nhất", trong đó có tượng đài Bà Mẹ miền Nam và người con trai thể hiện niềm tin son sắt của đồng bào miền Nam vào ngày chiến thắng, thống nhất đất nước. Đến đây để không quên một giai đoạn lịch sử bi thương và hào hùng của dân tộc.

Đến Nghĩa trang Trường Sơn vào chiều ảm đạm. Đây là nghĩa trang quốc gia rộng hơn 38ha, nằm trên 3 quả đồi thuộc huyện Gio Linh, Quảng Trị, quy tập hơn 10 ngàn ngôi mộ liệt sĩ. Các anh nằm đây không theo đội hình đơn vị mà được sắp xếp theo tên tỉnh, tên thành. Từng khu vực có nhà tưởng niệm được thiết kế theo biểu tượng của quê hương. Tôi bỗng nhớ những năm tháng chiến tranh không thể nào quên được. Cả miền Bắc sục sôi phong trào thi đua "Tất cả vì miền Nam ruột thịt". Từng làng xã thi đua cam kết "Gạo không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Trong ngày giao quân, những người mẹ không cầm được nước mắt nhìn những đứa con của mình, mặt còn búng hơi sữa, háo hức lên đường nhập ngũ. Mẹ chạy theo nhét thêm vào ba lô của con nắm xôi, quả trứng luộc, hộp dầu, cố dặn dò thêm lần cuối. Có lẽ chỉ có trái tim người mẹ, người vợ mới linh cảm, thấm thía hết nỗi đau của chia ly, mất mát này.

Khi đang thắp nhang, chúng tôi bỗng nghe tiếng tắc kè kêu. Trong rừng, mỗi lần nghe như vậy, anh em lại nói đùa với nhau: “Sắp về, sắp về...”. Hai tiếng "Sắp về" thắp lên bao hy vọng, khát khao từ Mậu Thân 1968, từ Hiệp định Paris năm 1973 đến Chiến dịch Hồ Chí Minh tưởng như sắp tới, nhưng rồi biết bao đồng đội mãi mãi không thể trở về.

“Đồng đội bao người không 'về tới' như anh/ Nằm lại Cầu Bông, Đồng Dù và xa nữa/ Tất cả họ, suốt một thời máu lửa/ Đều ước ao thật giản dị: sắp về...” (Nguyễn Duy)

Chúng tôi đến đây trong những ngày mà Formosa vừa đầu độc biển ở Hà Tĩnh, tàu Hải Dương Trung Quốc xâm phạm chủ quyền, khoan dò dầu khí trái phép trên lãnh hải của nước ta.

“Đất nước hòa bình/ Nhưng nào đã bình yên/ Giặc nội xâm, ngoại xâm tàn phá/ Anh nằm đây có phút nào/ Sóng biển động rung chuyển chỗ anh nằm/ Hương khói bay lồng lộng gió ngàn/ Đang bật dậy những linh hồn bất tử”

Đến thăm Thành Cổ Quảng Trị, vào nhà bảo tàng gặp bức ảnh "Nụ cười bên Thành cổ" của người bạn đồng hương, đồng môn, đồng ngũ, phóng viên chiến trường, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đoàn Công Tính. Anh là phóng viên duy nhất của cả hai phía có mặt trong Thành Cổ trong 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt. Bức ảnh người lính ôm khẩu B40, ngồi cười dưới chân thành đổ nát làm xúc động lòng người:

“Các anh cười dưới chân thành đổ nát/ Trận đánh sau ai mất ai còn/ Dù máu xương tan trong lòng đất/ Nụ cười còn mãi với nước non”

Khi khách tham quan hỏi, chị thuyết minh trả lời người lính ấy đã hy sinh rồi. Gần 30 năm sau, một người trong đoàn tham quan phát hiện anh ta là Lê Xuân Chinh, đi kinh tế mới, đang sống ở Mường Nhé, Điện Biên. Anh Đoàn Công Tính dò tìm nơi ở, mời anh về Hà Nội và đã lên TV trong chương trình Người Đương Thời của VTV1. Thì ra sau chiến tranh, anh ra quân, bị mất hết giấy tờ, đồ đạc ở bến xe. Về quê với hai bàn tay trắng, anh đưa gia đình đi kinh tế mới. Nhà nghèo không TV, không sách báo nên anh không biết đến bức ảnh nổi tiếng ấy. Anh Tính nhờ đơn vị cũ xác minh, may còn giấy tờ xác nhận anh ta bị thương. Nhờ đó anh được đi khám để xác định mức độ thương tật, hưởng chế độ thương binh. Công ty Mai Linh nhận anh vào làm bảo vệ mấy năm để có thêm thu nhập.

Miền Trung có Cố đô Huế, Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Bãi biển Đà Nẵng được bình chọn là một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh. Vịnh Nha Trang được tôn vinh nằm trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Thiên nhiên đã ban tặng cho miền Trung những cảnh sắc tuyệt vời không đâu có được, nhưng cũng gieo rắc những thiên tai thảm khốc kinh hoàng. Năm nào miền Trung cũng có bão lũ dữ dội, nhất là vào tháng 11, 12... Lũ lụt ở đồng bằng, lũ quét, lở đất ở miền núi gây ra bao cảnh đau thương chết chóc. Chúng tôi về thăm một làng biển ở Quảng Nam... Những người dân phải bám biển ra khơi, đánh cá, thường xuyên phải đánh trả bọn cướp biển và chống chọi với bão giông. Sau những cơn bão tàn khốc, nhiều người ra đi không về, cả làng lại trắng khăn tang. Những thử thách ấy đã tôi luyện nên con người miền Trung can trường, dũng cảm và đầy lòng nhân ái:

“Người miền Trung kiên cường chịu đựng/ Những buồn vui cũng đến tột cùng/ Tiếng nói át gió mưa giông bão/ Sức người như nén bật dây cung”

Con tàu cao tốc chồm lên sóng đưa chúng tôi ra thăm Cù Lao Chàm. Biển động nhưng lại được mùa cá. Những đoàn tàu cập bến, mọi người phấn khởi. Niềm vui tràn ngập trên những khuôn mặt đen sạm nắng gió:

“Thuyền về tôm cá đầy khoang/ Nụ cười khỏa lấp nhọc nhằn hiểm nguy/ Một đời ngàn vạn chuyến đi/ Thương em bến đợi gom ghì bão giông”

Một chuyến đi gói gọn trong bảy ngày, được tham quan nhiều nơi, được lên rừng xuống biển, ra đảo, phát hiện ra nhiều điều thú vị, làm được nhiều bài thơ. Được ăn những món đặc sản: Cháo lươn Nghệ An, Bún bò Huế, Mì Quảng Đà Nẵng, Cao lầu Hội An, Bún cá nem nướng Nha Trang... Nhưng thời gian ít quá, chưa thấm tháp vào đâu. Vẫn còn muốn đi nữa để khám phá cảnh vật và con người miền Trung. Chiều nay ngồi lai rai mấy ly rượu trên bãi biển Nha Trang, nghe em ca những bài hát Lý miền Trung mà lòng bâng khuâng, nỗi buồn man mác:

“Mang câu hò điệu lý vác vai/ Anh đi qua bao đèo bao suối/ Những thành quách nguy nga/ Những lâu đài tàn lụi/ Lý chiều chiều/ Chín nhớ, mười thương/ Chẳng ngựa ô lục lạc dây cương/ Đón em về trong kiệu vàng khớp bạc/ Chỉ thương em/ Cả đời mỏi/ Đón chờ anh trong sóng dữ biển Đông/ Lý trầm buồn/ Man mác mênh mông/ Ta thương vượt bão giông đạp sóng/ Lý giao duyên theo suốt cuộc đời”

Mong cho khỏe mạnh. Hẹn những chuyến đi sau.

Trần Ngọc Phượng

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm