TIN TỨC

Hoàng Đình Quang và lưu lạc cánh đồng trong Qua sông nhặt bóng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-06 09:12:28
mail facebook google pos stwis
2448 lượt xem

Nhà thơ Lê Huy Mậu, đồng tác giả nhạc phẩm “Khúc hát sông quê”, vừa cho ra đời một lúc 2 ấn phẩm: “Qua sông nhặt bóng” (Nxb Thanh niên) và “Xê dịch ký & vạn lý hành” (Nxb Hội Nhà văn). Văn chương TPHCM xin mượn lời nhà văn Nguyễn Trường để giới thiệu đến bạn đọc một số bài viết được rút từ tập sách thứ nhất: “Nếu như trong thơ, Lê Huy Mậu cả đời ám ảnh với dòng sông quê, thì trong văn xuôi, có lẽ tâm hồn anh ám ảnh bởi những bạn văn - người còn, người mất với bao ân tình - được anh thể hiện trong “Qua sông nhặt bóng”. Anh đã nhặt được tâm hồn các bạn văn của mình làm hành trang kỷ niệm và tôi tin rằng nó sẽ trở thành “một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng”.

Bài 1.

HOÀNG ĐÌNH QUANG VÀ LƯU LẠC CÁNH ĐỒNG

Từ trước khi tôi gặp Hoàng Đình Quang, mặc dù, tôi đã đọc một vài truyện ngắn của y, tôi vẫn không có được một ý niệm rõ rệt nào về con người này. Một lần, ông Tô Đức Chiêu bảo: Tao ghi tên mày và thằng Tiến vào danh sách dự trại viết của Hội Nhà văn kỳ này để chúng mày đi lại với trại, cho tiện, còn viết được gì không thì tùy! Tôi gặp Hoàng Đình Quang lần đầu tại trại sáng tác của Hội Nhà văn ở Vũng Tàu lần ấy, cách đây vài năm. Hoàng Đình Quang tuy to lớn kềnh càng, râu tóc lởm chởm nhưng trông hắn hiền, không ngầu như một vài nhà văn đồng dạng khác. Chỉ vài ly bia là y đã ông - tôi thân tình như đã quen nhau từ thuở nảo nào rồi. Tôi thích Hoàng Đình Quang ở sự giao tiếp thẳng thắn. Y không có sự “giao tiếp nháp” thăm dò trước mà bộc lộ bản ngã của mình một cách hồn nhiên, và, ngay lần gặp mặt đầu tiên, y đã tỏ thái độ thích hay không thích ai đó ra mặt ngay. Ở các nhà văn, qua những gì tôi tiếp xúc, có thể rút ra một tổng kết, đó là, sự phân nhánh trong tập hợp diễn ra nhanh chóng hơn bất kỳ đâu.

Hoàng Đình Quang tặng tôi tập truyện ngắn của y tồn kho từ năm 1995. Đọc tập truyện ngắn này, tôi có nhận xét ban đầu rằng, văn Hoàng Đình Quang viết rất đắm, đắm tới mức, nhiều lúc tôi có cảm giác như không phải đang đọc mà đang thấy nó hiện ra ngay trước mặt. Có nhiều nhà văn viết đắm, ví như Pautopsky trong “Bình minh mưa”; như Mạc Ngôn trong “Báu vật của đời”; như Đỗ Chu trong “Mùa cá bột”… Đọc văn nhiều lúc ta không những nhìn thấy, nghe thấy mà còn ngửi thấy mùi vị mà cả không gian, thời gian với ta đều xa lắc xa lơ…  Hoàng Đình Quang giữ được mạch văn viết đắm như vậy qua nhiều truyện ngắn.

Tại Đại hội Nhà văn lần thứ VII, Hoàng Đình Quang tặng tôi cuốn tiểu thuyết “Cánh đồng lưu lạc” vừa in xong. Tôi chỉ định đọc vài trang gọi là cho nó lịch sự khi được tặng, bởi ngày ấy, tôi theo Hoàng Đình Quang và Nguyễn Đức Thiện về Thái Nguyên, lúc nào cũng chìm trong rượu, nhưng rồi bản thân cuốn thuyết ấy - chứ không phải là Hoàng Đình Quang - đã cuốn hút tôi. Một thời mà các vùng quê trên đất Bắc đều na ná nhau. Những thân phận con người trong môi trường xã hội được đúc bằng cái khuôn chung, nhập cảng từ bên ngoài vào, cứ nhoay nhoáy trong lòng người đọc. Tôi nhớ từng cục cứt giun, từng chiếc vé tàu như con bài tam cúc… trong cuốn tiểu thuyết ấy! Tuy nhiên, tôi không thích lối kết thúc có hậu, đèm đẹp của Hoàng Đình Quang. Đúng là cuộc đời có nhiều sự ngẫu nhiên, có nhiều điều thần bí, khó hiểu nhưng đem nó vào truyện ngắn, tiểu thuyết để lái câu chuyện theo một ý tưởng của tác giả là làm cho tác phẩm nó bị khiên cưỡng, mất tự nhiên đi. Tôi gặp ở Hoàng Đình Quang không dưới một lần như vậy. Tiểu thuyết “Cánh đồng lưu lạc” đã được giải thưởng của Hội Nhà văn - mà giải là xứng đáng. Nhưng đọc hai bài giới thiệu về nó, tôi ngứa ngáy muốn ý kiến lắm, muốn viết cái gì đó buộc y phải phục, rồi lười, rồi cho qua… 

Mỗi người cầm bút đều muốn có được một tác phẩm để đời. “Cánh đồng lưu lạc” đã phải là tác phẩm để đời của Hoàng Đình Quang chưa thì chưa biết, nhưng quả thực “Cánh đồng lưu lạc” đã khiến nhiều người kiếm đọc, đọc rồi lại bận lòng vì nó. Hoàng Đình Quang khởi viết “Cánh đồng lưu lạc” ở trại viết Vũng Tàu. Suốt mấy ngày liền Hoàng Đình Quang đánh vật với “Cánh đồng lưu lạc”.  Nhiều khi, Quang ngồi táy máy với cái laptop của mình hàng giờ, viết cho đã rồi lại bôi đen, delete cái một.  Nguyễn Đức Thiện bảo rằng: Hoàng Đình Quang xa Thái Nguyên đã trên ba chục năm rồi. Nhưng dọc suốt đời văn của mình, Thái Nguyên, với cái huyện Phổ Yên của anh cứ ngồn ngộn hiện ra trên trang viết. Tất nhiên là những chuyện của ngày xưa, ngày Quang còn thơ bé, ngày Quang còn những sợi lông măng trên má. Phải qua bao nhiêu tháng năm chiêm nghiệm, bây giờ Hoàng Đình Quang mới khơi ra, mới viết lại bằng chính kiến của một nhà văn. Những thân phận trong “Cánh đồng lưu lạc” chính là một phần đời của Hoàng Đình Quang. Cái làng Sơn Cốt nghèo nàn khốn khó của Hoàng Đình Quang, những người dân hiền lành chân chất của Sơn Cốt cũng là một phần đời của những người thân của Hoàng Đình Quang. Có lẽ vì thế, Hoàng Đình Quang đã chọn ngôi thứ nhất trong vai trò người kể chuyện để kể về cái làng Sơn Cốt ấy. Ngay trang mở đầu, Hoàng Đình Quang bảo với người đọc rằng: chuyện tôi kể có thể là không hay, nhưng là chuyện thực, bạn đọc ơi, hãy đọc đi, để thấy được làng quê Việt Nam có một thời đầy chuyện trái ngang, có một thời làm con người muốn tin vào sự tốt lành, đi tìm sự tốt lành mà giống như làm một việc vung trộm vậy. Khó mà biết được Hoàng Đình Quang đang kể chuyện thật hay bịa, khi viết tới đoạn: Ông bố chồng đã “ăn” con dâu rồi. Con dâu đã có chửa rồi. Ông bố chồng đã đến tìm ông thông gia rồi. Mà không biết nên gọi ông thông gia là gì bây giờ. Gọi là ông thông gia đúng khi con gái của ông là con dâu tôi. Nhưng con gái ông lại có chửa với tôi. Thằng con nó đẻ ra là con tôi. Cái việc ông bố chồng dám “khai” với ông thông gia rằng đứa con đó là con tôi, thì cái gan cũng đã là lớn lắm rồi. Và ông thông gia đã quát: “Ông cút ra khỏi nhà tôi” rồi. Nhưng cút ra rồi thì ông thông gia sẽ đi đâu? Đứa con dâu ông sẽ đi đâu? Thằng con trai của ông với con dâu sẽ đi đâu? Cứ thế Hoàng Đình Quang trăn trở với những trang viết của mình. Một hôm Quang nói như reo lên “Tôi viết được hơn 300 trang rồi”. Nguyễn Đức Thiện trố mắt: “Khiếp, làm gì mà viết kinh thế, mới hôm qua có hơn chín chục trang.” Hoàng Đình Quang cười hề hề: “làm gì có. Đùa đấy! Hoá ra, khi viết không được, Hoàng Đình Quang nghịch đổi co chữ 14 thành co chữ 28 nên đang từ 90 trang sẽ có ngay 300 trang, và thế rồi, gần hai mươi ngày đã trôi qua mà dòng cuối của cuốn tiểu thuyết vẫn là: “Ông cút ra khỏi nhà tôi”.

Thế mới biết, để có được một cuốn sách, nhà văn phải lao tâm, khổ tứ đến thế nào. Hoàng Đình Quang thường bảo công việc viết văn là công việc khổ sai, vất vả hơn cả đi cày. Từ trang sách đầu tiên đến khi xong vài trăm trang sách giống như một cuộc đánh vật. Nhiều người khi đọc văn cứ thấy nhà văn viết như không, như là cuộc sống nó vốn vậy, anh nhà văn chỉ mất công chép ra thôi. Dễ ợt! Sau này, Hoàng Đình Quang kể lại, cũng chính trong cái dịp dự trai tại Vũng Tàu đó, Hoàng Đình Quang còn “nợ” của Tổng cục Chính trị cuốn sử thi về cuộc chiến đấu ở Xuân Lộc trước ngày Sài Gòn giải phóng. Ngồi trại viết, chưa “đuổi” được ông thông gia khỏi nhà, vậy mà lâu lâu, Hoàng Đình Quang lại phải biến khỏi trại để về Đồng Nai, tìm nhân chứng cho cuốn sử thi. Quang than: “Khi không lại mắc nợ. Nợ tiền không sợ, mà nợ trách nhiệm. Nhận tiền đầu tư để viết là không sung sướng gì. Mệt quá.” Nhưng, lạ thay,  cũng chính những ngày đó Hoàng Đình Quang lại bắt đầu thai nghén cuốn tiểu thuyêt mới. Cuốn “Phản trắc”. Trong cùng một lúc, viết ba cuốn tiểu thuyết. Vậy mà Quang vẫn có thì giờ để nhậu, để bù khú bạn bè. Tài thật!

 Bây giờ thì “Cánh đồng lưu lạc” đã được trao giải của Hội Nhà văn. Cuốn tiểu thuyết sử thi “Xuân Lộc” đã nằm trên giá của các thư viện quân đội. Còn Cuốn “Phản trắc” đã được hãng phim truyện ký hợp đồng chuyển thể thành thành kịch bản phim truyền hình nhiều tập.  Hoàng Đình Quang lại đang đánh vật với ba chục tập phim chuyển thể từ tiểu thuyết “Phản trắc” của mình! Quang bảo: Bán bản quyền tiểu thuyết rẻ quá, nên tiếc, đành ký hợp đồng chuyển thể luôn!

Có ai đó nói với tôi rằng, bạn văn nghệ lúc đầu người ta đến với nhau bằng tác phẩm, còn sau đó người ta chơi với nhau là bằng người. Thực ra, các nhà văn lớn hơn tác phẩm của họ, hay nói cách khác, nhà văn không hòa nhập hết vào tác phẩm. Nhiều lúc, cái phần ý vị của nhà văn nó nằm ngoài văn chương. Hoàng Đình Quang là một người ý vị. Cách tiếp cận vấn đề của Hoàng Đình Quang thường có những thiên kiến oái oăm và độc đáo. Y thường lật ngang, lật ngửa một vấn đề ngỡ như đã thành nhận thức chung của nhiều người để bàn cãi, để hài hước. Trong những cuộc vui, khi không thể đọc truyên ngắn hoặc tiểu thuyết được, y chuyển sang đọc thơ. Mà thơ y hay chẳng kém gì thơ của các nhà thơ. Tôi đùa rằng: nếu như không bị thành nhà văn, y có thể trở thành một nhà thơ…

Nhà văn, lớn hay nhỏ là ở tác phẩm. Tôi ghen tỵ với Hoàng Đình Quang về cái gáy của những cuốn sách. Lâu lâu, y lại ném vào mặt tôi một cuốn tiểu thuyết mấy trăm trang, tức muốn chết. Những ngày ở trại viết, thấy các nhà văn đánh máy rào rào, bỗng nghĩ các hắn chữ đâu ra mà nhiều thế? Cũng chơi như nhau, nhậu như nhau, tào lao như nhau, vậy mà thằng có sách ra, thằng chẳng có gì cả. Đó là “sự đau” của nhà văn!

Là người hay thù tạc với bạn bè, bao nhiêu năm trời, từ “công tiệc”  dần thụt lùi về “tư tiệc”, tôi ngẫm ra rằng,  có những cuộc nhậu ta không mất tiền mà vẫn lỗ, trái lại, có khi ta bỏ tiền ra chiêu đãi bạn bè mà vẫn lời. Có những lúc, ta mất thì giờ cả ngày mà chẳng thu hoạch được gì cả, trái lại, có vài tiếng đồng hồ với một người thức giả ta thu hoạch được khá nhiều điều bổ ích. Tôi và Hoàng Đình Quang thường “thu hoạch” lẫn nhau mỗi khi có dịp.

Học là một động từ. Hoàng Đình Quang là người chăm chỉ với động từ này. Tôi biết, y chưa mài đũng quần bốn năm đằng đẵng trên giảng đường, nhưng y có cái hũ tri thức kha khá. Rồi ngoại ngữ. Rồi triết học. Rồi IT… y tự trang bị cho mình một kiến thức đủ để tự tin ngồi trước trang viết. Khiêm tốn mà nói, tôi nể phục y ở cả nghị lực và tài năng. Tôi tự hào nhận y là bạn tôi!       



Vài hình ảnh tại buổi kỷ niệm 20 năm Khúc hát sông quê tại Vũng Tàu, 2/9/2022

Từ trái: Các nhà văn nhà thơ Đào Ngọc Hòa, Nguyễn Trường, Lê Huy Mậu, Nguyên Hùng, NS Đỗ Thanh Khang.


Từ trái: Các nhà văn Bùi Đế Yên, Nguyễn Trường, Hội An; các nhà thơ Lê Huy Mậu, Nguyên Hùng, Đào Ngọc Hòa, Minh Nguyệt & NS Đỗ Thanh Khang.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhạc sư Vĩnh Bảo và hành trình trao truyền gia tài văn hóa Việt
Việc am tường cả âm nhạc Tây phương cùng kinh nghiệm đóng đàn thực tế hơn 60 năm qua đã giúp ông tạo nên những nhạc cụ thương hiệu Vĩnh Bảo độc nhất vô nhị. Mỗi cây đàn do ông làm ra, từ khâu chọn thớ gỗ, xử lý hợp âm đến việc đục khe “thở” đều được tính toán tỉ mỉ như một công trình kiến trúc âm thanh. Chính cố Giáo sư Trần Văn Khê trong hồi ký từng thán phục rằng cây đàn tranh bằng gỗ Kiri mà Nhạc sư Vĩnh Bảo đóng cho ông có âm thanh tuyệt hảo đến mức quá “thượng thừa” mà các chuyên gia âm thanh học người Pháp cũng phải trầm trồ, thán phục.
Xem thêm
Lại Văn Long - Ngòi bút lửa!
Những tháng ngày lăn lộn trong nghề báo nhiều nguy hiểm, nhà văn Lại Văn Long đã trải qua đủ cung bậc cảm xúc. Nhưng anh vẫn yêu nghề mãnh liệt và ước mơ sau này anh sẽ có những cuốn sách, những thước phim phản ánh được cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm rất cam go, nguy hiểm nhưng đầy tính nhân văn của lực lượng Công an Nhân dân. Sau khi tốt nghiệp lớp bồi dưỡng nghiệp vụ 6 tháng ở Đại học An ninh; anh càng tin rằng mình sẽ hoàn thành được ước mơ đó!
Xem thêm
Nhà giáo, nhà thơ Huệ Triệu
Đội ngũ các nhà thơ xuất thân từ nhà giáo từ khắp mọi miền quê đất nước khá đông đảo. Riêng ở Sài Gòn, có thể kể đến các chị: Đặng Nguyệt Anh, Tôn Nữ Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Thanh Long, Huệ Triệu… Nét nổi bật trong thơ của các nhà sư phạm phái đẹp là sự đằm sâu, với nhiều tìm tòi mới mẻ, song vẫn giữ được sự điềm đạm, và đầy trách nhiệm công dân.
Xem thêm
Nhà văn Xuân Phượng - Một bản lĩnh “chân cứng đá mềm” trong sáng tạo và trong cuộc đời
Có những cuộc đời mà khi soi vào, chúng ta không chỉ thấy chiều dài của thời gian, mà còn thấy cả chiều sâu của lịch sử, chiều rộng của một tâm hồn và tình yêu vô bờ bến của một trái tim.
Xem thêm
Người đi vắng của văn chương
LTS: Nguyễn Bình Phương là gương mặt đặc biệt của văn chương đương đại, lặng lẽ, kiệm lời, gần như luôn đứng ngoài những ồn ào của văn đàn. Trong cái nhìn của nhà văn Phạm Ngọc Tiến, ông là “người đi vắng” ở các đám đông, nhưng lại hiện diện bền bỉ và khác biệt trong từng trang viết.
Xem thêm
Phạm Thiên Thư: Người đi tìm bụi đỏ đã hóa thân vào “cát bụi” phận người
Chiều tối, lúc 18h24 phút, Báo Giác Ngộ Online - Cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin về việc “ra đi”, xa lìa cõi tạm của thi sĩ Phạm Thiên Thư với một dòng tin ngắn nhưng trang trọng: “Phạm Thiên Thư tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người “thi hóa kinh Phật” vừa từ trần lúc 6h15 phút, chiều nay, 7/5/2026”.
Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm