TIN TỨC

Hữu Thỉnh và chiến sĩ xe tăng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-07-12 09:44:50
mail facebook google pos stwis
3210 lượt xem

Nguyễn Thanh

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian nan khốc liệt của dân tộc Việt Nam trong gần một phần tư thế kỷ như một bản trường ca âm vang giai điệu trầm lắng bi hùng, đã phản ánh phẩm chất cao đẹp sáng ngời của mọi tầng lớp nhân dân ở cả ba miền. Những người tham gia vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cầm súng trực diện đấu tranh với quân thù có những chiến sĩ làm văn nghệ thuộc đủ binh chủng như: Nguyễn Thi (1928-1968), Lê Anh Xuân (1940-1968), … và Hữu Thỉnh. Trong đó, xuất thân từ một chiến sĩ xe tăng, Hữu Thỉnh được coi là một gương mặt thơ xuất sắc nổi trội trong nền văn học có lửa của giai đoạn 1954-1975.  

 

Nhà thơ Hữu Thỉnh (sinh năm 1942), bút danh Vũ Hữu, tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh thuộc gia đình nông dân có truyền thống Nho học và giàu tinh thần cách mạng ở huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Hữu Thỉnh đã trải qua tuổi thơ không bình lặng như bao nhiêu đứa trẻ khác: hơn năm năm sống nhờ vào người bác ruột, sau đó phải đi làm công việc nặng nhọc để kiếm sống. Mãi cho tới khi hòa bình lập lại (1954), anh mới được đến trường. Năm 1963, sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông, thấy rõ được hoàn cảnh đau thương của đất nước hai miền, Hữu Thỉnh xin nhập ngũ vào bộ đội tăng-thiết giáp, thuộc Trung đoàn 202. Anh vừa công tác trong quân đội, vừa dạy Bổ túc văn hóa, viết báo và làm cán bộ tuyên huấn. Hữu Thỉnh đã tham gia chiến đấu chống Mỹ trên nhiều chiến trường Bắc, Nam cả những mặt trận máu lửa như Đường 9 – Nam Lào và sau hết là chiến dịch Hồ Chí Minh dẫn đến Đại Thắng Lịch sử Mùa Xuân năm 1975.

Sau ngày thống nhất năm 1975,  Hữu Thỉnh đi học trường Viết văn Nguyễn Du khóa 1. Từ năm 1982, anh bắt đầu làm cán bộ Biên tập, Trưởng ban Thơ rồi Phó Tổng Biên tập của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Từ năm 1990 đến nay, Hữu Thỉnh chuyển sang công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam, rồi làm Tổng Biên tập Tuần báo Văn nghệ, tham gia Ban Chấp hành Hội nhiều khóa liên tiếp, Ủy viên Ban Thư ký khóa 3, Tổng thư ký – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa 6-7-8 và Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam. Nhà thơ Hữu Thỉnh còn kiêm nhiệm thêm các chức vụ: Ủy viên Thường vụ Đảng ủy khối Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bí thư Đảng ủy, Đảng bộ cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và Đại biểu Quốc hội khóa 10.

Tác phẩm của nhà thơ Hữu Thỉnh đã xuất bản: – Âm vang chiến hào (in chung); – Đường tới thành phố (trường ca); – Từ chiến hào tới thành phố (trường ca, thơ ngắn); – Khi bé Hoa ra đời (thơ thiếu nhi, in chung); – Thư mùa đông (thơ); – Trương ca biển; – Thương lượng với thời gian (thơ).

Với những công lao đóng góp cụ thể cho sự nghiệp chiến đấu chống ngoại xâm và văn học, nhà thơ Hữu Thỉnh đã nhận được các giải thưởng: + Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980 (với trường ca Đường tới thành phố và năm 1995 với tập thơ Thư mùa đông; + Giải thưởng xuất sắc của Bộ Quốc phòng năm 1994 với Trường ca Biển; + Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật; + Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật+ Giải thưởng Văn học Asean. Ngoài ra còn có các giải thưởng Hữu Thỉnh nhận được từ các cuộc thi thơ: – Giải ba cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1973 với bài thơ Mùa xuân đi đón; – Giải A cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1975-1976 với bài thơ Chuyến đò đêm giáp ranh và trường ca Sức bền của đất.

Sự nghiệp văn chương của nhà thơ Hữu Thỉnh là một cuộc hành trình thi ca của một anh bộ đội theo suốt từng chặng đường chiến đấu cam go gian khổ của tác giả trên chiến trường Nam Bắc trong giai đoạn này. Do vậy, thơ Hữu Thỉnh mang dấu ấn hoạt động của một chiến sĩ trực diện với kẻ thù nơi chiến trận và của một nhà thơ trên mặt trận văn hóa văn nghệ theo lý tưởng của Bác Hồ. Chịu khó đọc hết những thi phẩm chính làm nên sự nghiệp cầm bút gieo vần của anh, người yêu thơ không khó nhận ra tỏ rõ ở anh một hồn thơ đích thực với xúc cảm nhạy bén, phong phú, giàu chất sáng tạo hiếm tìm gặp nơi các nhà thơ cùng lứa tuổi trong thời kỳ này.

 Như đa phần các thi sĩ xưa nay, tình yêu đất nước trước hết thể hiện qua lòng yêu thiên nhiên, cảnh vật gần gũi với mình như hoa lá, cây cỏ, núi sông (giang sơn) vốn là thực thể biểu tượng của tổ quốc quê hương. Môi trường chiến đấu của Hữu Thỉnh là dãy Trường Sơn rộng dài hiểm trở với cảnh núi cao, thác đổ gắn liền với cuộc đời chiến đấu gian nan, đã làm xúc động dạt dào hồn thơ anh: Núi cao cho thác đổ hồi/ Trường Sơn dài rộng cho tôi mặn màXe thồ vành hỏng tháo ra/ Còn lăn theo suốt đời ta đời mình (Đường tới thành phố). Từ gốc sim cằn, những chuyến đò đêm giáp ranh tới hình ảnh những bà mẹ, người vợ, người bộ đội lunh linh trong âm vang điệu lý điệu chèo, đều còn khắc đậm trong thơ anh. Nhà thơ cảm nhận những thứ ấy bằng tất cả giác quan bén nhạy cảm của mình: Gió thổi dài ẩm ướt về khuya/ Con sóng nói nhịp chèo cũng nói/… Đêm giáp ranh có cái gì đầm đậm/ Ở đầu môi, ở trong tóc, khắp làn da (Chuyến đò đêm giáp ranh). Cả một mùi hương thoang thoảng, một làn gió thoáng nhẹ qua, một vầng mây lãng đãng trong không gian cũng đủ cho thi sĩ những vần thơ đẹp và gợi cảm: Bỗng nhận ra hương ổi/ Phả vào ngọn gió se/ Gió chùng chình qua ngõ/ Hình như thu đã về/… Có đám mây mùa hạ/ vắt nửa mình sang thu (Sang thu). Lời thơ dung dị mà chọn lọc, ở việc mô tả cảnh thu, dường như Hữu Thỉnh đã thể hiện một bút pháp sáng tạo trong thi tứ, thi cảnh và thi nhạc không có chút tương quan nào với một không gian mùa thu quá ư nhàn nhã trong Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh của Nguyễn Khuyến (1835-1909), một thu ngơ ngác bàng quan trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư (1912-1991), hay những mùa thu buồn bã thê lương trong Cảm thu, tiễn thu của Tản Đà (1889-1939), và Đây mùa thu tới của Xuân Diệu (1916-1985).

Từ trong bối cảnh thiên nhiên trữ tình thân quen của quê hương, bằng tất cả tấm lòng yêu tổ quốc, nhà thơ đã bộc lộ phẩm cách trong sáng cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng. Ở nhà thơ Hữu Thỉnh, cảm hứng lớn chủ đạo trong thơ anh bắt nguồn từ lòng yêu tổ quốc, nhân dân và thế hệ những người cầm súng thời chống Mỹ. Hữu Thỉnh trung thực trong những lời thơ giản dị mà chân thành như một tình tự với gia đình và quê hương – một tuyên ngôn cho chính mình: Còn ao ước nào hơn/ Tự do và đoàn tụ/ Vào rừng lấy mật và đẵn gỗ/ Thương mẹ và yêu em/ Còn hạnh phúc nào hơn/ Tổ quốc . Từ đó, Hữu Thỉnh tạc nên một hình tượng dân tộc Việt Nam bất tử: Nhân dân/ Vẫn nguyên vẹn nhân dân/ Rằng hạt lựu vẫn không cam đồng hóa (Đường tới thành phố)Đọc thơ Hữu Thỉnh, ta thấy anh không nói nhiều về Đảng và Bác Hồ vì hai hình tượng cao quý này đã thành một hiện thực lịch sử ngự sẵn từ lâu nơi tim óc của chiến sĩ và mọi người dân Việt Nam qua suốt quá trình đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Bài thơ “Trên một chiếc xe tăng” của thi sĩ Hữu Thỉnh với nội dung tiêu biểu cho một nét đẹp chân dung anh bộ đội xe tăng – thiết giáp nói riêng và người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam nói chung. Bài thơ nổi tiếng này được nhạc sĩ Doãn Nho phổ thành ca khúc, lấy câu thơ đầu bài thơ làm tên bản nhạc: Năm anh em trên một chiếc xe tăng, được trình bày họp ca nhiều lần trên làn sóng đài Tiếng nói Việt Nam và đài phát thanh Sài Gòn những năm sau ngày giải phóng). Với 20 câu thơ (verses) nằm trong 5 khổ thơ (strophes) mỗi khổ 4 câu, tổng cộng là 20 câu, bài thơ Trên một chiếc xe tăng là một sáng tạo bằng văn vần khá ấn tượng về tứ thơ và nghệ thuật. Bắt nguồn từ một cảm hứng đột xuất qua hiện thực cuộc sống chiến đấu, nhà thơ như chỉ muốn quay lại những xen (scene) sinh động mà vô cùng cảm động của năm anh chiến sĩ xe tăng trong thực tế giáp mặt đấu tranh sống chết với kẻ thù. Câu mở bài ở khổ đầu bài thơ dễ dàng và chớp nhoáng như một lời báo cáo chứ không có dụng ý làm thơ, nhưng nhà thơ đã tạo ngạc nhiên khá hứng thú cho người đọc ở các câu sau khi tác giả sử dụng liên tiếp hai lần tu từ: phép tỉ (so sánh) như…, như: Năm anh em trên một chiếc xe tăng/ Như năm bông hoa nở cùng một cội/ Như năm ngón tay trên một bàn tay. Hình tượng ví von thật khéo khi nhà thơ chọn hoa và những ngón tay cùng trên một bàn tay. Bởi vì hoa là biểu tượng cao nhất của vẻ đẹp nhiên nhiên và những ngón tay trên một bàn tay muốn ám chỉ tính cách quan trọng và mối liên hệ hữu cơ giữa từng bộ phận ngón tay trên cùng một bàn tay của con người, mất đi một thành phần ngón tay trong đó tức là giảm đi không ít hiệu xuất hoạt động. Đến câu thứ tư khổ một, ta đã thấy rõ được hành động cương quyết biểu lộ đức tính đồng lòng đoàn kết sát sao đáng ca ngợi giữa các chiến sĩ trên xe tăng: Đã xung trận cả năm người như một.

Đã là chiến sĩ cách mạng, dù tính nết có khác nhau, anh em vẫn coi nhau như huynh đệ ruột rà, khi buồn vui anh em biết thông cảm chia sớt, san sẻ cùng nhau: …Nết ăn ở người thì lạnh nóng/ Khi đã hát hòa cùng một giọng/ Một người đau tất cả quên ăn. Tác giả chỉ muốn trần thuật sự việc nên qua hai khổ thơ đầu, người đọc thấy rõ bài thơ có hình thái thơ mới (8 chữ) nhưng có những câu lại chỉ có 7 chữ: câu 6,7 và 8. Về vần thì duy nhất chỉ có một vần trắc: nóng/ giọng ở cuối câu 6 và 7 dù loại vần này ít khi gặp trong bài thơ. Phong cách thơ mang tính dân gian, tính cách, tình cảm anh em chiến sĩ thể hiện khiến ta nhớ đến các câu tục ngữ, thành ngữ: Một người vì mọi người/ Mọi người vì một người  Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ. Không phải ruột thịt, cũng không đợi đến cùng một quê quán, tất cả năm anh em cùng chung một lý tưởng, một chí hướng, thì vì màu cờ, cả năm quả tim như một, nhất loạt xông lên diệt thù, với tinh thần quyết chiến quyết thắng đem độc lập, quang vinh về cho tổ quốc: Năm anh em mỗi đứa một quê/ Đã lên xe là cùng một hướng/ Trước quân thù nhất loạt xông lên// Năm anh em mang năm cái tên/ Đã lên xe không còn tên riêng nữa/ Trên tháp pháo một ngôi sao màu lửa/ Năm quả tim một nhịp dập dồn. Vẫn những câu thơ bảy chữ, tám chữ xen nhau và một vần trắc duy nhất : Nửa/ lửa có vẻ như tác giả dụng ý tạo cho hơi thơ được tư do, khoe khoắn để chỉ ý chí cương quyết, tinh thần chiến thắng của anh em chiến sĩ. Riêng cụm từ ngôi sao màu lửa là một hình tượng đẹp kỳ vĩ, mang tính trí tuệ của nhà thơ trong việc sử dụng  sáng tạo từ ngữ. Có sẵn lý tưởng chân chính cao đẹp và ý chí chiến đấu sắt thép, người chiến sĩ xe tăng tiêu biểu cho quân đội anh hùng của nhân dân Việt Nam đã có con đường thênh thang màu đỏ phía trước, đã có màu rừng xanh bạt ngàn hy vọng, chiến thắng của dân tộc tin tưởng sẽ đến ở một ngày mai không xa: Một con đường đất đỏ như son / Một màu rừng xanh bạt ngàn hy vọng/ Một ý chí bay ra đầu ngọn sóng/ Một niền tin nghiến nát mọi quân thù. Con đường ‘đất đỏ như son’ là con đường chiến thắng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. ‘Màu rừng xanh bạt ngàn’ là màu hy vọng tổ quốc độc lập tự do được Hữu Thỉnh chọn dùng trong khổ cuối bài thơ đã làm tăng thêm ý nghĩa tích cực của chủ đề tư tưởng bài thơ Trên một chiếc xe tăng. Ở nhiều bài thơ khác, nhà thơ Hữu Tỉnh  biểu lộ độ lắng đọng của tư duy và nét mới mẻ cách tân trong phong cách diễn đạt bằng thể thơ mới 8 chữ phóng khoáng. Chẳng hạn: Đảo nhỏ quá nói một câu là hết/ Có gì đâu chỉ cát với chim thôi (Trường ca biển); Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn/ Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím (Thơ viết ở biển).

Tóm lại, trong đội ngũ những nhà thơ thời kỳ chống Mỹ, bên cạnh Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Song Hảo, Lâm Thị Mỹ Dạ… đa phần không có mặt nơi tiền tuyến, Hữu Thỉnh chính thức là một nhà thơ – chiến sĩ tài hoa xuất sắcnổi trội từng đối diện với kẻ thù nơi trận mạc. Do vậy, thơ anh chứa đựng được cái nồng độ nghĩ suy cô đọng cùng chiều sâu cảm xúc của người chiến sĩ – nghệ sĩ thể hiện qua nhiều bài thơ, câu thơ hay giàu chất trí tuệ, có giá trị nghệ thuật, khả dĩ chinh phục được công chúng thích đọc thơ. Ngày nay, trong hoàn cảnh nhân dân ta thực sự được hưởng độc lập tự do của một đất nước hòa bình từ lâu đã lặng im tiếng súng, mỗi lần người yêu thơ có dịp nhắc đến Hữu Thỉnh, ai cũng thích thú có cảm giác như được thoảng nghe lại văng vẳng đâu đây âm vang giai điệu trầm hùng bài hát “Năm anh em trên một chiếc xe tăng” được phổ từ bài thơ nổi tiếng “Trên một chiếc xe tăng” của nhà thơ - chiến sĩ Hữu Thỉnh.

                                                                                         30. 04. 2024

                                                                                                       N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm