TIN TỨC

Nguyễn Quang Thiều với ‘Nhật ký người xem đồng hồ’

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-28 08:43:17
mail facebook google pos stwis
5320 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều, Nxb Hội Nhà văn, 2023)

 

Nhật ký người xem đồng hồ là tập thơ mới nhất của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Tập sách thể hiện rõ nét những đặc trưng và phong cách thơ rất riêng của anh. Điều dễ nhận thấy ở tập thơ này là Nguyễn Quang Thiều đã sử dụng dày đặc hệ thống các biểu tượng trong từng câu thơ, bài thơ; tạo nên những dấu ấn đặc biệt và tiếng thơ ấy cũng chính là tiếng lòng đầy trắc ẩn của một người từng trải như anh. Hệ thống những biểu tượng trong thơ Nguyễn Quang Thiều có sức dung chứa và gợi mở đến vô cùng, đó như là chất liệu nghệ thuật để kiến tạo hiện thực trong nhiều mối quan hệ đa dạng của cuộc sống thực tại và cả ở chiều sâu tâm linh.

Thơ Nguyễn Quang Thiều không phải là loại thơ dễ đọc, dễ hiểu, dễ cảm. Đọc thơ anh phải đọc chậm, vừa đọc vừa ngẫm ngợi và liên tưởng mới có thể nhận ra những ẩn ý sâu xa mà nhà thơ gửi gắm vào đó.

Thơ Nguyễn Quang Thiều mang đậm dấu ấn của thơ hậu hiện đại với trùng điệp các biểu tượng giàu sức gợi và đầy ám ảnh. Bút pháp ảo hóa với những suy tưởng, triết luận về đời, về người, về mọi thứ đã - đang và sẽ xảy ra. Nhà thơ đối thoại với chính mình, độc thoại với bản thân, đối thoại với thế giới xung quanh trong cái nhìn đa chiều. Dường như ở bất cứ khoảng thời gian nào, không gian nào, bất cứ điều gì trong cái nhìn của Nguyễn Quang Thiều cũng đầy ắp những sự kiện, hình ảnh; chúng luôn quẫy đạp và diễn ra đến vô cùng... Bởi đời sống con người thời hiện đại vốn dĩ đã phức tạp, mọi thứ luôn biến chuyển và đổi thay từng giờ, từng phút và nhất là các chuẩn mực về văn hóa, đạo đức dịch biến hỗn tạp, khó lường.

Biểu tượng thời gian: tháng, năm, đêm, ngày, sáng, trưa, chiều, giờ; biểu tượng ánh sáng, bóng tối; biểu tượng giấc mơ...  xuất hiện với tần số cao trong Nhật ký người xem đồng hồ. Trên cơ sở đó giúp nhà thơ mở lối, dò tìm, khai mở những tầng sâu vô thức, phóng chiếu từ hiện thực đến siêu hình, bí ẩn...; tiếp cho thơ sức cuốn hút và sự vẫy gọi đối với bạn đọc.

Từ Bản tin ngày, xảy ra ở bên kia nửa vòng trái đất, cách biệt về không gian địa lý, căn tính dân tộc, Nguyễn Quang Thiều lại có sự liên tưởng và xâu chuỗi liên hoàn, độc đáo để chuyển tải những điều sâu kín, đậm chất nhân văn. Ở đó còn hàm chứa những trăn trở và cả những nỗi bất an thường trực khi nhìn đâu cũng thấy bất trắc; bởi ngay ở  nơi an toàn nhất cũng hiện hữu sự hiểm nguy.

Viên cảnh sát da trắng/ bắn tám viên đạn vào một thanh niên da đen// Bình luận viên đi ăn trưa/ Ở bên kia trái đất/ Và nơi tôi - nửa đêm// Một cảm giác/ Lấn át sọ hãi/ Lất át đau đớn/ Loang ra như máu/ Trên chiếc khăn trải bàn ăn// Bên kia là giữa trưa/ Bên này nửa đêm// Tôi nhìn thấy/ Những con cá bị kẹt trong nước.

Từ bản thể cá nhân, Nguyễn Quang Thiều nhìn ra mọi hướng với cái nhìn biện chứng nhưng cũng lắm lúc ảo diệu, lung linh. Trong bài Mưa gần sáng, nhà thơ viết nhân ngày giỗ mẹ cũng tạo ra được những ám ảnh dư ba. Từ những sự vật, sự việc được nói đến, nhà thơ có sự liên hệ ngầm và kết nối chúng lại với nhau. Bằng những thủ pháp nghệ thuật, các hình ảnh tưởng bình thường lại trở nên độc đáo, sự đan cài giữa cõi mộng - ảo và thực - mộng đã mở ra những liên tưởng bất ngờ, thú vị. Hơi lạnh cơn mưa gần sáng/ Con rắn nước trườn qua tôi/ Giấc mơ còn đọng lại/ Trên chiếc lá ký ức/ Trong khu vườn thời gian// Nhớ mãi giấc mơ xa xôi/ Những ngày mẹ còn sống/ Tuổi thơ hoang hoang cánh đồng/ Cậu bé đứng im lặng/ Thời gian cũng ngừng trôi// Bông cúc vạn thọ lay nhẹ/ Nghĩa địa vọng giọng người xưa/ Mẹ lau nước mắt cho con/ Trên biên giới mùa thu mây trắng// Có một đứa trẻ vừa gọi mẹ vừa lớn/ Chợt già đi trong những cúc thẫm chiều.

Biểu tượng giấc mơ và người mẹ song hành trong bài thơ thể hiện dòng cảm xúc chân thành, da diết về người thân yêu nhất của chính chủ thể trữ tình. Mẹ chính là biểu tượng vĩ đại, là điểm tựa tâm hồn luôn thường trực trong tâm thức đứa con trên mọi nẻo đường đời. Vì thế, dù mẹ đã thành người thiên cổ thì đứa con vẫn “mơ” thấy mẹ dõi theo để an ủi, vỗ về...

Thơ Nguyễn Quang Thiều là tiếng nói của một con người luôn nỗ lực để sáng tạo, một trái tim nhân văn, nhân ái; với những khát vọng luôn muốn được khẳng định, tỏ bày. Khát vọng ấy vừa mạnh mẽ vừa dứt khoát bằng tất cả những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm.

Những người lạc nhau là bài thơ gợi cho tôi nhiều suy ngẫm, bởi nhà thơ đã khéo léo gửi vào đó những khao khát, ước muốn rất nhân bản, vượt trên mọi lẽ thường phàm tục, thanh tẩy những mọn hèn, toan tính, hơn thua... Hướng về một thế giới đầy ắp tình yêu thương, ấm áp trong niềm tin, niềm hy vọng...

Có hai người lạc nhau/ Trên đường nhân gian dằng dặc/ Giờ trở về như mộng/ Gió dâng lên một bản phối diệu kỳ/ Và họ chính là ca từ/ Của bài ca buồn và đẹp// Không có gì đau đớn hơn người lạc người/ Không gì kỳ diệu hơn người tìm thấy người/ Dưới vòm cây tràn nắng/ Những con chim hót đắm say/ Câu chuyện họ bắt đầu lời thứ nhất// Nhưng có một người không bao giờ đi lạc/ Đêm đêm trở về cười trong bóng tối/ Cho những ngôi sao lần lượt hiện lên/ Soi rõ con đường trên đất/ Dẫn những người đi lạc trở về.

Đọc Nhật ký người xem đồng hồ, Nhà phê bình Hoàng Kim Ngọc đã rất có lý khi cho rằng: “Mỗi mốc thời gian trong thơ Nguyễn Quang Thiều lưu giữ một “sự kiện tâm hồn”.

Cảm thức thời gian đã in đậm dấu ấn trong tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ. Thật đặc biệt khi có tới 24 nhan đề bài thơ trực tiếp nhắc đến thời gian như một tín hiệu nghệ thuật. Đó không chỉ là những mốc mặc định như ngày, sáng, trưa, chiều, đêm…(như: “Sáng chủ nhật”, “Giấc mộng trưa”, “Tin nhắn chiều 29.9. 2019”, “Đêm tháng Bảy”…) mà còn là những mốc thời gian cụ thể đến từng giờ từng phút (như: “Lúc 4:11’”, “0 giờ 17 phút”, “10:13’”…); thậm chí chi li đến từng giây (như bài: 10:3’10’’) …

Mỗi dấu mốc thời gian ấy lại có một bài thơ ra đời như những dòng nhật ký của tâm hồn. Ông đã ghi lại được những cảm xúc, suy nghĩ và đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội từ những cái tưởng như rất bình thường, nhỏ nhặt”.

Ở Nhật ký người xem đồng hồ, Nguyễn Quang Thiều luôn có ý thức tạo dựng hệ thống thi ảnh từ trong chiều sâu của ký ức, của thực tại và cả những dự cảm ở thì tương lai. Từ những điều gần gũi, có thật quanh mình, thi nhân đã mường tượng, liên tưởng đến một khoảng không gian khác, thời gian khác với những phức cảm, sự dồn nén của cảm xúc thông qua hệ thống ngôn ngữ chắt lọc, cô đọng, đa tầng...

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã kết nối giữa quá khứ với hiện tại bằng kiểu tư duy phức hợp trong sự nghiệm suy, tương thông, linh cảm... Thời gian bò đến bậc cửa đêm/ Gien mèo trong máu thức dậy/ Chỉ một cái rùng mình như chợt lạnh/ Tôi đã lướt đi trong bốn chân mình// Tôi nhảy lên bậc cửa sổ/ Ngoái lại căn phòng quen thuộc/ Quần áo, giày tất tôi bỏ lại/ Bỏ lại bản lý lịch cá nhân/ Với một cái dấu đỏ/ Vết chàm trên da thịt tôi (Hóa mèo).

Khác với những tập thơ trước, ở Nhật ký người xem đồng hồ không còn nhiều những bài thơ, câu thơ dài dằng dặc mà thay vào đó có những bài thơ ngắn nhưng sức dung chứa và sự liên tưởng lại miên man đến vô cùng. Đặc biệt trong phần 2 của tập sách “Bản tự khai của một số đồ vật trong phòng viết” gồm 22 bài thơ ngắn, thậm chí có bài chỉ 1 câu thơ, 2 câu thơ, 3 câu thơ. Chẳng hạn: Tôi thơm hộ những người trước mặt (Lư đốt trầm); Chỉ thân xác tôi là sự thật (Television); Tôi đổ dầu vào ký ức một thi sỹ/ Thắp sáng những ngôn từ (Đèn dầu cũ); Tất cả các phím im lặng/ Để soạn thảo ký ức (Máy chữ cũ); Tên tôi là sự nhơ nhớp/ Để làm sạch những nhơ nhớp (Thùng rác); Tôi giúp chủ nhân tôi/ Tìm lại những lưu lạc (Sổ ghi chép cũ); Không phải con tàu Noah/ Nhưng cả thế giới trong đó (Piano); Gió thổi qua những ô cửa/ Lang thang và vô định (Kèn Acmonika); 12 giờ 01 phút./ Tôi treo xác tôi trên tường/ Ra đi (Đồng hồ Odo); Những chùm lá sống lại/ Mở những bàn tay/ Sông bắt đầu chảy (Ấm pha trà); Khi tôi thắp lên bóng tối/ Mọi gương mặt đã chết/ rực sáng (Giá nến)...

Bằng năng khiếu, vốn sống và cả vốn văn hóa Nguyễn Quang Thiều đã tổng hòa nhiều phương thức để xây dựng nên những hình tượng đầy ám gợi trong thơ. Ở đó, nhà thơ tiệp cận các thủ pháp nghệ thuật theo tinh thần hậu hiện đại: nghệ thuật sắp đặt, sáng tạo cấu trúc thơ theo kiểu phân mảnh, đứt đoạn, chảy theo tiềm thức - vô thức... với nhiều những ẩn dụ, liên tưởng bất ngờ, thú vị. Vì thế, thơ Nguyễn Quang Thiều đã tạo được phong cách lạ, độc đáo, riêng biệt trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam đương đại.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm