TIN TỨC

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, vấn vương hương Đại, hương Sen

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-01-26 23:12:01
mail facebook google pos stwis
3555 lượt xem

PHÙNG VĂN KHAI

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu là cha chú của tôi, hiền như đất, hiền như đôi mắt. Mà mở ra thanh thoát xa khơi.

Nguyễn Đức Mậu quê ở đâu ta? Quê chính là Nhà số 4 chứ đâu. Ở nơi hương đại, hương sen thoang thoảng trăm năm, người đi mây trắng vòm xanh sóc nhỏ nâu tròn mắt biếc. Ở nơi tiếng súng ì ùng chưa vơi đến mức người lính Thời hoa đỏ ra đi từ ấy không về.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu

Nguyễn Đức Mậu làm thơ thời tôi còn chưa sinh ra, vào chiến trường từ khi tôi còn là hạt bụi, vậy đó mà sao sau này thi thoảng bia hơi rượu vang, tôi lại thấy thật gần.

Nhưng chưa bao giờ tôi gọi Nguyễn Đức Mậu bằng anh. Bao giờ cũng gọi nhà thơ bằng chú. Chú cháu với nhau từ trại viết Đồ Sơn năm 1995 một mạch đến bây giờ.

Thơ Nguyễn Đức Mậu rất hay.

“Hà Nội chiều nay nắng vừa đủ nắng

Gió cũng vừa đủ gió để rung cây

Mặt hồ rộng thực hư làn khói mỏng

Rượu bạn mời tôi uống cũng vừa say”

Những câu thơ vừa loang xa vừa chừng mực. Đó là thơ hay.

“Nơi tôi ở hoa đại rơi trắng đất

Có ai nhìn hoa nghĩ tóc bạc trên đầu

Cái hòm thư mới một lần sơn lại

Bác gác cổng già năm trước giờ đâu”

Ôi chao! Thơ đâu cần cao xa triết lý hoặc như câu chữ bí hiểm vòng vèo. Cứ một mạch tả chân mà hay mới là khó. Như Dòng tên anh khắc vào đá núi chẳng hạn. Như Tóc em dài buông xõa xuống mùa thu chẳng hạn. Thì hay là hay thôi. Như Mưa rơi không cần phiên dịch vậy.

Nguyễn Đức Mậu sinh năm 1948 tại xã Nam Điền, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định. Ông nhập ngũ năm 1966, vào chiến trường rồi về Văn nghệ quân đội một mạch đến lúc nghỉ hưu. Những bài thơ từ chiến trường gửi ra luôn thấm đẫm mùi đạn bom và đôi khi là máu xương đồng đội. Những bài thơ ấy khi in trên Văn nghệ quân đội là sung sướng tột cùng của người chiến sĩ. Khi lần đầu tiên tới Văn nghệ quân đội, Nguyễn Đức Mậu đã phải rụt rè mấy lần trước cổng Nhà số 4 mới dám nhấn chuông. Vô cùng đặc biệt, người đàn ông cao lớn từ trong phòng khách đi ra mở cổng đón nhà thơ trẻ Nguyễn Đức Mậu chính là Tổng Biên tập Thanh Tịnh. Thanh Tịnh - một nhà thơ tiền chiến nổi tiếng với câu thơ nhiều người còn nhầm tưởng là thơ của Bác Hồ: Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong và một câu khác cũng giống như ca dao đúng với thân phận cuộc đời Thanh Tịnh: Trải qua mấy chục năm trường/ Ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân. Nguyễn Đức Mậu đã sớm được tiếp xúc với những nhân vật lẫy lừng từ lâu hâm mộ. Đó là Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, Xuân Sách, Nhị Ca, Văn Thảo Nguyên, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu... Đến nỗi, anh lính Sư đoàn bộ binh Nguyễn Đức Mậu tưởng như còn đang nằm chiêm bao vậy.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu tính khí trầm hậu, ưu tư nhưng hóm hỉnh. Cái gì cũng biết mà không nói. Có nói thì nói vào thơ. Không to giọng. Càng không ồn ào. Cứ thủng thẳng thế thôi mà tận cùng bờ bãi. Ông rất sợ thơ dở. Cuộc đời ông đã phải đối diện với biết bao bài thơ kém chất lượng gửi đến. Phải đọc nó. Phải loại bỏ và đau đớn. Thiên hạ ai đua nhau làm thơ để khổ thân người biên tập như ông. Ông đọc. Ông đãi khối đất cát, đá sỉ ấy để lựa ra những hạt vàng siêng nhặt. Hơn nửa thế kỷ là như vậy. Cứ nhìn ông như chiếc lá xô nghiêng chiều phố Lý Nam Đế thấy thật thương ông. Miếng ngon miếng ngọt chẳng biết gì, chỉ chút bài thơ của mấy vị to mồm yếu thơ mà ông loại bỏ chúng lại rú lên, vây bủa la hét để chiếc lá nghiêng Nguyễn Đức Mậu càng lạnh đi trong chiều gió thổi.

Cơ mà kiếp nhà thơ là vậy. Kiếp biên tập thơ là như thế. Chúng tôi làm nghề biên tập luôn buốt đến tận xương, đôi khi lạnh cả sống lưng trước những “đại ca” viết ẩu ngày càng đông đúc như rừng.

Nguyễn Đức Mậu là người chừng mực, đôi khi là “thừng mực”. Nghĩa là rất thẳng và nóng tính. Nhưng chân thành, chí thiết và nghĩa khí. Đừng bao giờ nghĩ là dễ bắt nạt các nhà thơ trong cuộc sống hoặc trên văn bản văn chương. Các nhà thơ cứ lơ tơ mơ vậy mà lập pháp, lập quốc như chơi. Có người còn nổi dậy khởi nghĩa như Cao Bá Quát.

Nguyễn Đức Mậu là nhà thơ “cứng cựa” còn lại của lớp chống Mỹ. Bỏ ông ra đội ngũ có kẽ hở ngay. Địch lọt vào? Không đâu! Nhưng vắng ông và Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Thi Hoàng là gay lắm. Ông là cây cột lớn trong ngôi đền thơ phú trăm năm.

Tôi cho rằng cái cách Hữu Thỉnh ứng xử với đồng lứa văn chương là diệu kế. Thấu lý đạt tình. Suy bụng ta mà ra. Ngẫm kiếp người mà sống vậy. Sau Hữu Thỉnh, e rằng là khó. Bởi đã có sự vênh nhau. Sự quả quyết không cần thiết đã xé các nhà thơ chống Mỹ ra. Điều này là một sự buồn.

Nguyễn Đức Mậu lá nghiêng bay cũng buồn chứ nhỉ? Dòng tên anh khắc vào đá núi cũng xao buồn là lẽ sống trong kiếp nhân sinh. Lứa thơ chống Mỹ kiên gan là vậy mà cũng rất biết giá của buồn đau. Đến mức một hôm, tôi đã viết về các ông như sau:

Ai kia định ngôi dân nước

Ai kia cỏ nội hoa hèn

Người nối người lên bát ngát

Đang về thắm thiết như sen

 

Mùa màng xôn xao tim mực

Máu còn âm ỉ xanh cây

Từng trang, từng trang kết ngọc

Xác thân thầm vào đất đai

 

Kẻ non xanh đi khuất khuất

Gửi đá ven đường chiến công

Người lấy thân làm tre trúc

Bên cầu nước chảy bâng khuâng

 

Ai người cát non kê biển

Tổ quốc u oa đánh vần

Ai người đọc lời ai điếu

Đường khuya đá sỏi phân vân

 

Ai tự khoác vào tai ách

Trâu cày ngựa cưỡi gươm khua

Ai kia nửa chừng buông bút

Lặng im như thóc trong bồ

 

Ai còn nhân tình vương lại?

Giọt máu đào thơm bến sông

Ai người oan khiên ngậm bóng

Mây xa thanh thản hư không…

Nguyễn Đức Mậu như cây cầu độc mộc còn sót lại sau nắng mưa giông gió, đúng như ông từng viết: “Nơi tôi ở vắng Thâm Tâm, Trần Đăng, Thôi Hữu, Nguyễn Thi. Lớp nhà thơ, nhà văn một thời đi kháng chiến. Trang bản thảo nằm trong ba lô, những nhân vật câu thơ là mẫu quặng. Căn hầm thay phòng viết, ngọn đèn thắp bằng nhựa cây cháy sáng mặt trời. (Những nhà thơ, nhà văn ăn khẩu phần lính trận, ngủ gối đầu rễ cây, bao gạo. Đường kháng chiến hiểm nghèo đèo dốc. Đường văn chương bạc tóc đêm dài. Cây bút và khẩu súng. Các anh quên mình đã có một thời trai).

Những trận sốt rừng, những viên đạn giặc, đã tràn vào trang viết dở dang. Nhà văn hy sinh, nhường khát vọng đời mình cho nhân vật. Máu thấm đất, máu chảy vào trang viết, máu thay cho đoạn kết không lời. Nhà thơ hy sinh như ngọn lửa cháy hết mình để tự hóa thân. Trên vuông đất bia khô cằn đá sỏi, những câu chữ như hạt cây sót lại, ngôn ngữ cỏ xanh tự chắp nên vần.

Cây đại già làm một chứng nhân, ngôi nhà các anh giờ chúng tôi đến ở. Căn phòng cũ mấy lần thay ổ khóa. Lớp nhà thơ mang áo lính nhiều thêm.

Trái tim các anh, khoảng đất nào xa lắc. Trái tim đập phập phồng trên trang sách chẳng bình yên”.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thấm thoắt đã bước vào U80 mà xem ra vẫn còn  nặng nợ với thơ ca chữ nghĩa lắm. Lứa các ông dường như đều đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Những gì cần viết ra, nói ra thảy đều trân trọng được bày lên mặt giấy. Chỉ riêng với bài thơ Thời hoa đỏ thôi đã xứng đáng một cống hiến, một tài năng không thể lẫn vào đâu với nhân dân và Tổ quốc. Tổ quốc và nhân dân cần lao đã hy sinh vô bờ bến thực rất cần những câu thơ như trong Thời hoa đỏ. Vẻ đẹp của người lính trong Thời hoa đỏ đã như những hình ảnh đạt tầm biểu tượng của sự hy sinh:

Có người lính

Mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo

Có người lính

Mùa xuân ấy ra đi từ đó không về

 

Dòng tên anh khắc vào đá núi

Mây ngàn hóa bóng cây che

Chiều biên cương trắng trời sương núi

Mẹ già mỏi mắt nhìn theo

 

Việt Nam ơi! Việt Nam!

Núi cao như tình mẹ, bốn mùa tóc bạc nỗi thương con

Việt Nam ơi! Việt Nam!

Ngọn núi nơi anh ngã xuống

Rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa

Rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn.

Đó cũng là nỗi niềm của hương đại, hương sen.

Nguồn: http://baovannghe.com.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhạc sư Vĩnh Bảo và hành trình trao truyền gia tài văn hóa Việt
Việc am tường cả âm nhạc Tây phương cùng kinh nghiệm đóng đàn thực tế hơn 60 năm qua đã giúp ông tạo nên những nhạc cụ thương hiệu Vĩnh Bảo độc nhất vô nhị. Mỗi cây đàn do ông làm ra, từ khâu chọn thớ gỗ, xử lý hợp âm đến việc đục khe “thở” đều được tính toán tỉ mỉ như một công trình kiến trúc âm thanh. Chính cố Giáo sư Trần Văn Khê trong hồi ký từng thán phục rằng cây đàn tranh bằng gỗ Kiri mà Nhạc sư Vĩnh Bảo đóng cho ông có âm thanh tuyệt hảo đến mức quá “thượng thừa” mà các chuyên gia âm thanh học người Pháp cũng phải trầm trồ, thán phục.
Xem thêm
Lại Văn Long - Ngòi bút lửa!
Những tháng ngày lăn lộn trong nghề báo nhiều nguy hiểm, nhà văn Lại Văn Long đã trải qua đủ cung bậc cảm xúc. Nhưng anh vẫn yêu nghề mãnh liệt và ước mơ sau này anh sẽ có những cuốn sách, những thước phim phản ánh được cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm rất cam go, nguy hiểm nhưng đầy tính nhân văn của lực lượng Công an Nhân dân. Sau khi tốt nghiệp lớp bồi dưỡng nghiệp vụ 6 tháng ở Đại học An ninh; anh càng tin rằng mình sẽ hoàn thành được ước mơ đó!
Xem thêm
Nhà giáo, nhà thơ Huệ Triệu
Đội ngũ các nhà thơ xuất thân từ nhà giáo từ khắp mọi miền quê đất nước khá đông đảo. Riêng ở Sài Gòn, có thể kể đến các chị: Đặng Nguyệt Anh, Tôn Nữ Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Thanh Long, Huệ Triệu… Nét nổi bật trong thơ của các nhà sư phạm phái đẹp là sự đằm sâu, với nhiều tìm tòi mới mẻ, song vẫn giữ được sự điềm đạm, và đầy trách nhiệm công dân.
Xem thêm
Nhà văn Xuân Phượng - Một bản lĩnh “chân cứng đá mềm” trong sáng tạo và trong cuộc đời
Có những cuộc đời mà khi soi vào, chúng ta không chỉ thấy chiều dài của thời gian, mà còn thấy cả chiều sâu của lịch sử, chiều rộng của một tâm hồn và tình yêu vô bờ bến của một trái tim.
Xem thêm
Người đi vắng của văn chương
LTS: Nguyễn Bình Phương là gương mặt đặc biệt của văn chương đương đại, lặng lẽ, kiệm lời, gần như luôn đứng ngoài những ồn ào của văn đàn. Trong cái nhìn của nhà văn Phạm Ngọc Tiến, ông là “người đi vắng” ở các đám đông, nhưng lại hiện diện bền bỉ và khác biệt trong từng trang viết.
Xem thêm
Phạm Thiên Thư: Người đi tìm bụi đỏ đã hóa thân vào “cát bụi” phận người
Chiều tối, lúc 18h24 phút, Báo Giác Ngộ Online - Cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin về việc “ra đi”, xa lìa cõi tạm của thi sĩ Phạm Thiên Thư với một dòng tin ngắn nhưng trang trọng: “Phạm Thiên Thư tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người “thi hóa kinh Phật” vừa từ trần lúc 6h15 phút, chiều nay, 7/5/2026”.
Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm