TIN TỨC
  • Truyện
  • Đời cây đời người | Truyện ngắn của Tiến Luận

Đời cây đời người | Truyện ngắn của Tiến Luận

Người đăng : tranductin
Ngày đăng: 2023-03-02 15:35:43
mail facebook google pos stwis
1702 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

Sau mấy ngày mưa liên miên, chiều nay trời quang mây tạnh. Đường vào xóm Núi khô ráo, sạch sẽ nhưng trong nhà hắn vẫn nhớp nhúa, nước đọng thành vũng. Vợ hắn sắp xếp những mớ rau cho vào quang gánh chuẩn bị ra chợ. Hai đứa con gái thu những vỏ lon nhặt được từ hôm qua cho vào một cái bao tải chờ cô đồng nát đến. Hắn vẫn nằm trên giường, mặc cho những hạt mưa len qua mái nhà từ ban sáng rơi xuống thấm ướt mái tóc lòa xòa.

Hắn muốn ngồi dậy, nhưng trung tâm thần kinh không điều khiển được. Nghe tiếng vỏ lon va chạm nhau lách xách, hắn bỗng tỉnh như sáo ngồi bật dậy hỏi: Tiền bán vỏ lon hôm qua đâu? Hai đứa tranh nhau nói: Chúng con đưa cho mẹ rồi ạ! Đã quá quen tính hắn. Nếu hắn nổi khùng thì đồ đạc trong nhà không có cánh cũng bay vèo ra sân. Vợ hắn vội vào nhà lấy tiền đưa cho hắn vài chục nghìn rồi nói mát một câu: “Ông cầm lấy mà uống để mẹ con tôi nhịn đói”. Hắn cầm tiền từ tay vợ lững thững bước ra đường phố tìm vào quán rượu.

*

Tốt nghiệp Đại học Sư phạm, hắn về dạy học ở một trường cấp 3 thị xã được vài năm thì Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam. Lệnh động viên toàn quốc kêu gọi thanh niên lên đường bảo vệ Tổ quốc. Hắn tự nguyện gia nhập đoàn quân Nam tiến. Sau 3 năm cầm súng, hắn xuất ngũ, lại được trở về với mái trường xưa. Cuộc sống người lính chiến đã bổ sung cho kiến thức uyên thâm của hắn thêm phong phú. Vì thế mà những tiết giảng văn của hắn bao giờ cũng sống động, khoáng đạt, gợi mở cho tư duy sáng tạo của học trò. Hắn được làm giáo viên chủ nhiệm lớp. Là lớp chọn học sinh năng khiếu của trường. Cứ tưởng đây là cơ may, hắn có thể dồn toàn tâm toàn lực dẫn dắt các em đến một chân trời khoa học tương lai. Vậy mà trong quá trình giảng dạy, hắn mới nhận ra học sinh trong lớp đa số là con em các quan chức, đại gia, con em các giáo viên trong trường. Hắn đã kiểm tra kiến thức, bài vở, loại bỏ những em yếu kém ra khỏi lớp chọn. Việc làm của hắn không được hiệu trưởng, giáo viên và đa số phụ huynh đồng tình. Thế là mâu thuẫn phát triển. Mỗi ngày một tích tụ. Đến lúc phải đập bàn, xô ghế. Cho đến khi hắn phát hiện ra sự gian dối trong thi cử, hắn đã làm đơn tố giác. Được xã hội hoan nghênh, được cấp trên tặng bằng khen. Báo chí, truyền thông tuyên dương ầm ĩ. Nhưng trớ trêu thay! Hắn lại bị cô đơn ngay giữa ngôi trường của mình. Người ta nhìn hắn như một kẻ xa lạ, như một con sâu róm lúc nào cũng muốn xù lông không ai muốn đến gần. Thế là hắn bị sa thải. Đang chán nản thì có một người bạn đến chơi:

- Nghe nói bỏ nghề gõ đầu trẻ rồi hả?

- Bỏ rồi. Nghĩ cũng tiếc. Nhưng mà thôi, cuộc đời muôn nẻo.

-  Ông bỏ là phải. Nghề bán chữ có ai giàu? Muốn giàu là phải đi buôn.

- Thời buổi này không gì lãi bằng buôn than. Không phải là 1 vốn 4 lời mà là 10 lời!

Nghe bùi tai, có bao nhiêu vốn liếng vợ chồng chắt chiu ki cóp được cùng với thế chấp nhà đất vay ngân hàng mua một con thuyền vận tải đi buôn than cùng với anh bạn. Mấy chuyến đầu thắng đậm đã hí hửng, muốn làm những chuyến thắng đậm hơn. Chỉ chờ có thế, thương lái người Tàu bên kia mới ép giá. Bán thì lỗ, không bán thì quay thuyền về. Đành ngậm bồ hòn mà bán. Chuyến ấy lỗ to! Cho đến chuyến sau cả Mãi và hắn cùng bị tàu kiểm tra liên ngành bắt gọn vì tội buôn bán than trái phép. Thế là sạch sành sanh vốn liếng. Đời đen bạc đến thế là cùng. Những lúc vắt tay lên trán, hắn mới nhận ra mình không thể làm được nghề buôn. Nghề buôn phải có âm mưu thủ đoạn, gian lận mánh khóe, dối trá, lọc lừa, mà hắn chỉ là anh giáo quèn dạy chữ. Hắn chết cay, chết đắng chẳng biết xoay xở thế nào để trả được nợ ngân hàng. Hắn dùng rượu để giải sầu. Và như một thói quen khi đã có chất men ngấm vào các tế bào, ngấm vào các li ti huyết quản, làm cho làn da xanh bủng của hắn căng ra đỏ mọng như quả nhót chín, hắn vật vờ đến gốc cây bàng cuối chợ có con đường đi lên núi là nơi nghỉ mát lí tưởng của hắn. Hắn ngả người vào gốc cây. Đôi mắt khép lại và thiếp đi.

Bỗng có tiếng đập cái bốp vào vai hắn. Hắn choàng tỉnh. Một người đàn ông luống tuổi đứng trước mặt. Trên vai đeo lủng lẳng mấy cục gỗ lũa. Ông ta hỏi: Chiều, chợ sắp tan rồi kia. Không về nhà đi. Nằm đây ăn vạ à?

Còn đang ngái ngủ, hắn văng tục: Cút mẹ ông đi! Người đàn ông như không hề để ý tới hắn. Ông đặt cục gỗ lũa xuống đất ngắm nghía. Hắn hỏi: Ông lấy những thứ này về làm gì? Rõ là dở hơi. Thì cứ cho là dở hơi cũng được. Nhưng ông hãy nhìn xem cục gỗ lũa này giống con gì? Nó là cục gỗ mục chứ là cái con mẹ gì? Ông phải ngắm kĩ rồi tưởng tượng sẽ nhìn ra dáng đứng của con cò - một tác phẩm điêu khắc sống động, tuyệt mỹ của các nhà điêu khắc tài ba là mối, và mọt đấy.

Nghe người đàn ông nói năng nhẹ nhàng, thân thiện, hắn bình tâm ngắm nghía cũng thấy hay hay. Chất lãng mạn của anh giáo dạy văn trỗi dậy, hắn cũng nhận ra con cò. Hắn lấy làm thích thú đọc một câu ca dao: “Con cò lặn lội bờ sông, gánh gạo nuôi chồng, nước mắt nỉ non”. Nhưng con cò này với dáng đứng thư thái như hiện thân của người phụ nữ Việt Nam hiện đại. Khi đã có cuộc sống no đủ, dư thừa họ mới có thời gian ngắm nhìn cánh đồng bao la, của mình như thế, phải không ông? Người đàn ông vỗ cái bét vào đùi: Ôi lãng mạn quá! Ông giàu trí tưởng tượng lắm. Có thể làm cây cảnh được đấy.

Hắn lắc đầu: Tôi chỉ biết dạy chữ cho trẻ, chứ làm cây cảnh thì… tôi chịu!

Người đàn ông trố mắt hỏi: “Ông là nhà giáo ư? Nhà giáo sao lại nằm đầu đường xó chợ. Căn cớ gì mà ông giáo đến nỗi này?”. Hắn chép miệng: “Bị thua cuộc, thất thế, chán đời. Thế thôi!”. Người đàn ông nhếch mép cười khẩy: “Chỉ có thế mà ông phải tự hành xác mình. Hóa ra ông cũng xoàng nhỉ!”.

Lúc này hắn mới nhìn kĩ người đàn ông cao ráo, rắn chắc, da sạm màu đồng hun. Gương mặt vuông vức, cạnh góc đầy vẻ phong trần. Ông ta ngồi xuống gốc cây bàng cạnh hắn. Hai ống quần hếch lên, lộ ra một bàn chân gỗ. Hắn giật mình hỏi:

- Ông là lính! Sư nào?

- Sư đoàn Than!

Hắn tròn mắt nhìn từ đầu đến chân người đàn ông lạ lần nữa rồi nói: Hồi ấy tôi cũng nghe nói về sư đoàn Than - một sư đoàn thép chiến đấu rất ngoan cường, từng làm bạt vía kinh hồn bọn lính Mỹ, ngụy. Chính vì thế mà chúng phải huy động lực lượng muốn xóa sổ sư đoàn Than. Tôi may mắn còn sống sót trở về mang theo một mảnh đạn còn găm trong đầu. Tôi chẳng biết làm gì nuôi con, phải sống nhờ ông bà nội. Gian nhà của bố mẹ tôi chật hẹp. Lẽ ra tôi có thể xin chính quyền sở tại cấp đất, hoặc xin nhà người Hoa bỏ về nước như bao công dân khác. Nhưng tôi nghĩ còn bao nhiêu người hoàn cảnh khó khăn hơn mình. Với lại tôi cũng không muốn phiền hà, nhỡ người ta lại bảo cậy mình là thương binh. Tôi lên đồi vỡ đất trồng sắn và làm một túp lều bên đường bán nước chè xanh, nấu rượu lậu. Nhiều lần bị dân quân, công an đe: Nếu còn nấu rượu lậu sẽ bị tịch thu đồ nghề và bị truy tố trước tòa án. Vừa sợ, vừa nghĩ mình như thế là tự đánh mất nhân phẩm quân nhân. Tôi vứt hết dụng cụ đồ nghề và đóng cửa quán. Nhiều lúc chán, muốn buông bỏ, nhưng lại nghĩ: Cuộc sống con người sợ nhất là khi ta nhụt chí khí. Mình còn lành lặn đôi bàn tay và nghe trong mình vẫn còn khỏe mạnh. Tôi đã đến với nghề làm cây cảnh, cây thế. Cây thế là sự kết hợp giữa kĩ thuật vun trồng với nghệ thuật tạo hình và kĩ năng uốn tỉa. Nhưng làm cây thế phải có vốn mua cây phôi. Thay vì mua, tôi đi khai thác trên núi đất, hoặc chèo thuyền ra các đảo đá tìm kiếm những cây si, đa, đề, sộp, xương cá, thanh hao. Chúng sống khô cằn trên đá hàng chục, hàng trăm năm. Người càng già càng xấu, chứ cây càng già càng đẹp và có giá! Lấy được cây về ngồi ngắm nghía định hình nên ý tưởng: Nuôi cành nọ, bỏ cành kia; Uốn cành ngang, bẻ cành quặt làm cho cây có chỗ oằn, chỗ lượn tạo nên một thế giới thiên nhiên thu nhỏ. Sướng lắm ông ạ! Ông hãy quên chuyện cũ đi. Thanh thản mà sống. Người đàn ông nói xong tặng hắn cục gỗ lũa hình dáng con cò rồi đứng dậy chào tạm biệt và mời hắn hôm nào đến nhà chơi.

Đã lâu lắm, hắn sống trong lặng  lẽ cô  đơn. Hắn  nghe có một nhà trí giả nói rằng sự tĩnh lặng, cô đơn có thể làm cho người ta phát rồ, phát dại. Hắn chưa đến nỗi phát rồ, phát dại, nhưng tâm tính hắn đã thay đổi. Có ngày hắn chẳng nói câu nào. Hễ mở mồm ra là cáu gắt, văng tục chửi bới vợ con.

Cuộc trò chuyện với ông Sanh như cơn mưa dông nặng hạt, như cơn gió lành xua đi sự u mê, tăm tối và làm lóe lên trong đầu hắn một tia hi vọng mới. Như mọi bữa khi đi đâu về nhà là hắn nằm thượt ra giường. Nhưng hôm nay hắn thấy trong người xốn xang. Có một cái gì đó đang thôi thúc hắn. Hắn ngồi thừ bên bàn học của con. Nhìn hai chiếc cặp đứt chỉ thủng góc và những quyển vở xô lệch để trên bàn, hắn biết chúng vừa đi học về đã vội vàng ra chợ bới trong đống rác tìm vỏ lon và những gì có thể bán được. Hắn ngước mắt nhìn ra ao. Vợ hắn đang lom khom dưới ruộng. Quần xắn lên quá gối, trơ hai ống chân gầy. Bất giác hắn nghĩ tới cục gỗ lũa có hình dáng “con cò” của ông Mạnh tặng hắn. Không biết vô tình hay hữu ý của người tặng muốn nhắc nhủ hắn: người lính trở về trước hết là vì cuộc sống gia đình, vợ con. Ngày xưa kẻ thù là giặc xâm lược, giờ kẻ thù là đói nghèo. Tự nhiên hắn nhớ tới ngày xưa. Ngày xưa vợ hắn đẹp nức tiếng làng Tây Tự. Những cuộc cờ người ở hội đình, chùa, năm nào vợ hắn cũng được tuyển chọn làm “tướng ông”. Biết bao chàng trai trong làng, ngoài phố ngỏ lời vẫn không ưng ai. Chỉ yêu mỗi hắn. Càng nghĩ, những  giọt nước mắt cứ ứa ra, chảy dài trên má.

Sau mấy ngày ngẫm ngợi, hắn muốn đến nhà ông Sanh học tập làm nghề cây cảnh. Lần theo địa chỉ, hắn đến trước một ngôi biệt thự sơn xanh lấp lánh những ô cửa kính tọa lạc giữa vườn cây. Ông Sanh mừng rỡ cùng vợ ra đón hắn từ ngoài ngõ. Hắn ngơ ngác nhìn cái ao trước nhà nước xanh ngăn ngắt lung linh soi bóng những hàng cây trên bức tường hoa. Từng mảng bèo tây bồng bềnh, cá nổi lên đớp mồi tóp tép. Hắn nghĩ tới những năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Mỗi quả bom rơi xuống làng là tạo thành một cái ao. Cái ao này là chứng tích một thời bom đạn. Hắn hỏi, giọng khôi hài:

- Phi công Mỹ đào cho ông bà cái ao đẹp nhỉ!

- Tôi đào đấy!

Bà Hoàn, vợ ông Mạnh nói thay chồng: Nghề trồng trọt là “nhất nước, nhì phân…”. Ở đây vùng đồi núi. Hễ mưa là trôi tuột ra biển. Đào giếng phải mười lăm, hai mươi mét mới có nước. Anh ấy bảo phải đào ao để có nước vừa nuôi cá, vừa trồng cây. Hồi ấy cũng có nhiều người bạn tốt, biết anh đào ao đến ngỏ lời muốn giúp. Nhưng thú thật với anh, người ta đến làm cho mình, mình cũng phải cho người ta ăn uống tử tế. Đằng này mình nghèo quá. Với lại anh ấy cũng sĩ, không muốn phiền ai. Hắn ngạc nhiên nhìn xuống bàn chân ông Sanh rồi hỏi: Ông đưa đất lên bằng cách nào khi ao đào mỗi ngày một sâu?

- Mỗi ngày tôi đào một tí. Mấy hôm đầu tôi chỉ đào được một cái hố như cái hố tôi vôi. Có người hàng xóm thấy tôi cởi trần xách từng xô đất đổ lên bờ hỏi: “Anh đào đất làm gì?”. Tôi không dám nói là mình đào ao. Bởi nhỡ ra có thế nào, công việc bỏ dở, người ta sẽ cười cho, nên cứ lặng lẽ đào một mình. Khi đào xuống sâu đưa đất lên càng khó. Tôi phải đào bậc thang. Đóng một chiếc cọc trên bờ thật chắc rồi buộc dây thừng ròng xuống hố. Một tay tôi xách xô đất, một tay bám vào dây mà leo lên. Có ngày chỉ đào được vài phân khối. Nhiều hôm đang đào thì mảnh đạn trong đầu cựa quậy, khiến tôi choáng váng phải ngồi dựa vào thành ao. Cô ấy đang ôm con trong nhà, thấy tôi lâu không lên vội vàng đặt con nằm xuống chạy ra dìu tôi vào nhà xoa bóp cho cơn đau dịu lại. Cũng có lúc tôi chán nản hoài nghi về sức khỏe của mình. Có anh bạn đồng ngũ đến chơi thấy tôi lọ mọ ngoài vườn đào ao. Anh ái ngại khuyên: Cậu là thương binh, tôi cũng là thương binh. Trong người mang bao thương tật. Biết thế nào? Nay ốm, mai đau. Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ về với đất. Hãy sống cho thanh thản! Còn ham hố bon chen gì nữa. Tôi phản đối, như vậy hóa ra chúng ta sống nhàn rỗi để chờ chết ư? Tôi không nghĩ mình bon chen và nếu có bon chen lành mạnh để có cuộc sống no đủ làm giàu cho mình tức là góp phần làm giàu cho xã hội cũng là điều tốt, nên làm. Ròng rã hơn một năm, cái ao chứa được hơn 400m3 nước hoàn thành.

Đúng là một chuyện lạ khó tin, nhưng người thật, việc thật đang hiện diện trước mắt hắn. Thế mới biết cuộc sống mỗi con người đều chứa đựng những tiềm ẩn diệu kỳ mà chính bản thân ta cũng không biết được. Chỉ khi nào có một định hướng và ý chí rõ rệt, nó sẽ được khơi dậy tạo nên sức mạnh khôn lường.

Ông Sanh đưa hắn đi xem vườn cây, giới thiệu cho hắn từng cây thế. Hắn được thả hồn vào một thế giới thiên nhiên thu nhỏ. Lần đầu tiên hắn biết thế nào là thế trực, thế hoành, huyền, trực xiên, thác đổ. Mỗi tên cây như một cuộc đời, gợi mở cho hắn trí tưởng tượng: nào là lão mai, huynh đệ, trực lập vọng vân, bạt phong hồi đầu, bạt phong thủ thế, nhàn bộ thưởng xuân, long thăng, long giáng… mỗi cây, mỗi vẻ nhìn mà sướng con mắt. Hắn cảm thấy lâng lâng nhẹ nhõm như được chắp cánh bay. Tâm thần trở nên trong sáng như dòng nước đục được lắng xuống. Những ưu tư, phiền muộn, thù ghét, giận hờn trong tâm khảm nặng nề, u tối bấy lâu nay đã làm khổ hắn như được rũ bỏ. Bỗng hắn nhìn thấy một cây tùng rất lạ mắt trồng trên một cái ang lớn đặt ở giữa sân. Gốc to mà ngọn thì bé tí. Rễ cây xoắn lượn, thân cây xù xì những u sẹo, cọc cằn. Thân đang vươn lên, nhưng mắc mớ sao lại ngoặt ngọn xuống rồi xoài ra giống như dòng thác đổ. Hắn hỏi: Thế gì? Ông Sanh nói:

- Đó là cây tùng La Hán. Tôi khai thác nó từ ngoài đảo Thẻ Vàng. Tùng La Hán dáng đẹp, cao sang, lá cây xanh biếc, thon nhỏ dày rậm dễ tạo tán. Tùng La Hán rất được ưa chuộng nhất là ở các công sở quan chức, đại gia, muốn tỏ mình là bậc vương giả cao sang quyền quí, bền vững sống lâu như cây tùng La Hán, nên họ thường mua của tôi với giá rất cao. Nhiều cây có giá hàng chục, hàng trăm triệu đồng. Riêng cây tùng này đã có người trả tôi tới tiền tỷ, tôi không bán. Vì tiền còn có thể làm ra được, nhưng cây tùng La Hán này thì quí lắm, hiếm lắm!

- Hắn ngạc nhiên hỏi: Cây tùng ưa sống những nơi đồi cao, nắng gió, dáng  thẳng hiên ngang. Cây tùng này tại sao lại còng lưng như người khuyết tật vậy?

- Đấy! Nó quí hiếm là ở cái dáng đó. Tôi phát hiện nó mọc ở trong một hốc núi đá. Ông hình dung xem. Khi cây lớn lên đụng đầu vào đá, nó phải ngoặt ngọn xuống cho đến khi gặp ánh sáng mới vươn ra ngoài để quang hợp ánh nắng, khí trời mà trở thành một thế cây độc đáo. “Đảo địa huyền chi”. Ông có tin rằng loài cây cũng biết ganh đua không?

- Hắn lắc đầu: Loài thực vật là vô tri vô giác.

- Ông nhầm! Chúng cũng biết ganh đua đấy. Ông hãy nhìn trong rừng cây thì biết. Cây nào cũng muốn vươn cao hơn đồng loại để hít thở ánh sáng, khí trời. Cây nào yếm thế không vươn lên được là bị cớm. Cây càng cớm, càng đẹt, yếu ớt bị các cây lớn bên cạnh, tranh phần không lớn được. Tôi cho rằng cuộc sống con người cũng thế thôi. Vì miếng cơm manh áo phải bon chen. Trước khó khăn, gian khổ mà cam chịu là nghèo hèn. Nhục lắm!

*

Hắn ngồi lặng phắc. Hắn nghĩ về đời cây - đời người, chợt hiểu ra cái ý tưởng sâu xa, của người đồng đội đã thổi hồn vào thế đứng của cây tùng La Hán “đảo địa huyền chi”. Là hiện thân cuộc đời của tác giả hay chính cuộc đời của hắn? Hắn đã đọc nhiều sách, rút ra nhiều bài học hay để truyền đạt những điều hay, lẽ phải cho học trò thì hôm nay người đồng đội lại dạy cho hắn một bài học cuộc đời. Hắn mỉm cười mãn nguyện. Hắn đã đoạn tuyệt với con ma men và trở thành nghệ nhân cây cảnh từ ngày ấy.

T.L

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm