TIN TỨC

Nhật ký trong tù – Sự tỏa sáng diệu kỳ ánh ngọc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-02-08 23:04:35
mail facebook google pos stwis
3478 lượt xem

PGS.TS Đoàn Trọng Huy

 “Nhật ký trong tù” là viên ngọc văn chương đã được chiêm nghiệm lại nhân dịp kỷ niệm 70 năm ra đời, biểu lộ chất và ánh ngọc tâm hồn rực rỡ của vĩ nhân Hồ Chí Minh (1).

 
Hồ Chí Minh và tập thơ “Nhật ký trong tù”.

Toát ra từ toàn bộ tác phẩm là hình tượng tuyệt đẹp Một người tù vĩ đại tỏa sáng lý tưởng cao vời cách mạng. Báo chí thế giới từng ca ngợi Hồ Chí Minh là một trong top mười tù nhân chính trị lừng danh nhất thế giới xưa nay.

Nhà tù của Trung Hoa Dân quốc đã giam nhầm một vị anh hùng cứu nước, một chiến sĩ cộng sản quốc tế, một phái viên của mặt trận Đồng minh thế giới. Để đến lúc cửa tù mở, Người ra khỏi tù: “rồng bay” và “dựng nước”.

Người tù vĩ đại Hồ Chí Minh ngay trong tù đã thể hiện rõ nhiều tính cách vô cùng cao đẹp của một nhân cách vĩ nhân.

Nổi bật bao trùm trên hết là một vị “khách quý”, “khách tự do”, “khách thần tiên” hào hùng, ngạo nghễ chốn lao lung. Đó là một con người như thoát xác để sống hiền minh với khát vọng tự do và hy vọng, với niềm tin lạc quan, mãnh liệt trên mọi đọa đày, khổ cực của chốn địa ngục trần gian.

Cốt cách “chân long” chính là bản lĩnh sắt đá của một nhà cách mạng lão luyện, đã hơn 30 năm bôn ba, truân chuyên tìm đường cứu nước, vừa trở về để trực tiếp lãnh đạo phong trào từ 1941. Con người ấy đã từng đứng trên mọi gian lao, khổ ải trần thế, khinh khi mọi thách thức, hiểm nguy, kể cả cái chết. Giờ đây trong tù túng Người chỉ cháy bỏng một khát vọng độc lập, tự do và sự nghiệp cứu nước. Tự do là “thần tự”, cũng là “thần khí” lớn lao thiêng liêng nhất của Nhật ký trong tù.

Trong chuỗi ngày thảm họa liên miên đầy bi thống vẫn hiển hiện một con người kiên cường, dũng cảm, mãnh liệt, tràn đầy niềm tin và hy vọng.

Âm thầm mà dai dẳng, quyết liệt, Người chống trả lại cường quyền, bạo lực, tuyên chiến với cái Ác.

Nhà tù lẽ ra mang ý nghĩa nhân đạo lại diễn ra tội ác. Có lần bị dắt giải cùng với lợn, Người thốt lên niềm cay đắng bị rẻ rúng “như trâu, như ngựa”. Thực tế, trong ngục, con người bị đối xử không bằng con vật. Tù nhân bị hạn chế, thậm chí bị tước đoạt hết điều kiện sinh sống tối thiểu, những nhu cầu có tính chất sinh lý, như một sinh thể tồn tại trên đời. Tưởng đâu tác giả đi vào miêu tả tỉ mỉ những cái vặt vãnh tầm thường, thậm chí dung tục trong sinh hoạt nhà tù. Câu chuyện tức cười, cái cười có vẻ đùa cợt nhưng đó là những chỉ trích dữ dội cái vô đạo, bất nhân. Đó là ngòi bút hiện thực sâu sắc xỉa dõi vào mọi ngóc nghách, mọi đáy huyệt tận cùng khổ ải, trầm luân nhất của con người.

Mặt khác, trong tâm khảm, Người phải tiến hành cuộc tự đấu tranh đầy cam go. Để chống lại sự thoái chí, nản lòng, “nao núng tinh thần” của chính mình “Không chịu lùi một phân”. Đó là hy vọng về sự đổi thay, niềm tin tưởng chiến thắng. Như quy luật xoay vần tự nhiên: “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”. Cảnh đông tàn sẽ báo hiệu “cảnh huy hoàng mùa xuân” như thế chuyển vận của sự vật: “Hết khổ là vui vốn lẽ đời… Rủi hết, vận may lại đến tuần”. Ấy là vì, người chiến sĩ cách mạng đầy trải nghiệm có một trí tuệ sáng láng biết phân tích tình hình và dự báo tiến triển của phong trào vận động cách mạng trong nước và thế giới. Ấy cũng là tài năng của một nhà chiến lược lớn trên  thời cuộc: Học đánh cờ (Học dịch kỳ). “Ngày tự do âu cũng chẳng chày… Nhất định thành công sẽ có phen”. Không chỉ buồn mà là đau. Đau nhưng vẫn bình tâm, vẫn vui một cách trí tuệ. Tâm trí Người vẫn sáng láng niềm tin. Người bạn chiến đấu thân thiết của Việt Nam, nữ văn sĩ Ba Lan Blaga Dimitrova đã từng đọc Nhật ký trong tù (qua bản dịch tiếng Pháp) nói lên cảm nhận của lương tri nhân loại “Hồ Chí Minh! Niềm hy vọng lớn nhất!” (2). Quả là lịch sử đã minh chứng rực rỡ niềm tin tất thắng Hồ Chí Minh.

Một yếu tố căn cốt làm nên bản lĩnh, cũng là sức mạnh tâm hồn nhà cách mạng tầm vóc thế giới, chính là lòng yêu thương con người nồng thắm, thiết tha vô hạn. Ngay từ Nhật ký trong tù, Hồ Chí Minh đã nêu cao ngọn cờ nhân văn chủ nghĩa cách mạng cao cả. Là trái tim “mênh mông”: “Ôm cả non sông, mọi kiếp người”, từ lâu, Người đã thấu hiểu nỗi oan trái, thảm cảnh của biết bao thân phận bị áp bức, bóc lột trên nhiều châu lục, tận nơi cùng trời, cuối đất, hang cùng ngõ hẻm trong quá trình quan sát các xã hội, các thể chế để tìm quyết pháp giải phóng. Tờ báo Người cùng khổ do Nguyễn Ái Quốc làm chủ bút là nơi thu thập mọi thông tin, cập nhật về đầy rẫy cảnh trạng bất công ở các nước thuộc địa và lên tiếng tố cáo tội ác của bọn thực dân.

Nhật ký trong tù không chỉ kể tâm sự bất bình cá nhân mà còn nói lên nỗi thống khổ của cả cộng đồng.

Khi ở tù, Người chứng kiến và chịu đựng một thực trạng khổ đau phũ phàng phi nhân tính ghê gớm, làm nhức nhối tim gan hàng ngày, hàng giờ. Sinh hoạt thường ngày là diễn trình đày đọa triền miên. Nhà tù là một thế giới đặc biệt của chúng sinh tội lỗi. Xét cho cùng họ đều là nạn nhân của một xã hội còn đen tối, còn chênh lệch quá cách biệt giàu nghèo, còn bất công phũ phàng trong phân phối của cải và đối xử, còn tranh giành, cướp đoạt lẫn nhau. Nhà tù là một xã hội thu nhỏ của cộng đồng nhân quần đầy tệ hại, nhiễu loạn. Một nghịch lý kỳ quái: xã hội “anh chị” tồn tại ngay trong tù, quan tham, lại nhũng sống ngay giữa chốn thi hành án: Ở ngoài đánh bạc bị bắt tù. Trong lao lại tự do sát phạt nhau bằng lừa bịp đỏ đen. Tìm đâu ra chân lý ở chốn này? Đó là những nỗi đau chồng lên nỗi đau. Lại còn những thân phận vốn vô tội: vợ đến ở tù thay chồng, cháu bé theo mẹ đến nhà pha. Với tâm thức nhân loại, người tù chính trị tự nhận mình là một loại chúng sinh – dù là chúng sinh “cách mạng”, chúng sinh “cứu tinh”, cứu khổ, cứu nạn. Vì vậy, Người có mối đồng cảm, sẻ chia với tất cả. Trái tim Hồ Chí Minh đặc biệt mẫn cảm, dễ động lòng với những biểu hiện đáng thương, dù là nhỏ bé nhất: nỉ non tiếng khóc chồng lúc nửa đêm hay thê thiết tiếng oa!…oa!… của đứa hài nhi trong ngục chịu cảnh đói lòng khát sữa… Người tù lớn coi tất cà thường phạm là “nạn hữu” – những người bạn chung hoạn nạn. “Thương người như thể thương thân”. Vừa với tinh thần đạo lý dân tộc, vừa với ý thức giai cấp và cảm thức đồng loại cao cà. Cảnh người đáng khóc, đáng cười. Cảnh mình cũng là cười ra nước mắt. Nước mắt lặn vào trong và cũng có khi trào ra “hòa lệ viết thành thơ”. Cũng để tự trấn tĩnh “Đáng khóc mà ta cứ hát tràn” (cuồng ca). Hát để át bức bối, buồn bực, khổ đau. Trái tim Người đồng cảm với khúc hát nhớ quê của người bạn tù và ánh mắt vời vợi ngóng chồng của khuê phụ. Trái tim ấy cũng chia vui với niềm hân hoan của người nông dân được mùa, thậm chí với hạnh phúc giản dị, đơn sơ- bữa ăn tối của cô em xóm núi. Cảm thương và chia sẻ vất vả “dãi gió, dầm mưa” cũng như biết ơn phu làm đường – người lao động nặng nhọc  nhỏ bé âm thầm.

Cần nhấn mạnh ở đây đặc điểm nhân ái của Hồ Chí Minh. Từ tình cảm cốt lõi là thực sự tin tưởng nơi con người là tinh thần thân thiện, tấm lòng bao dung và tình nghĩa trong quan hệ người với người. Với bạn bè, người cùng chí hướng đấu tranh là những giao cảm, đồng thuận, tri âm, tri kỷ. Dương Đào ốm nặng là thương cảm lẫn nhau của người yếu nặng (hại bệnh) với người ốm nặng (trọng bệnh). Gửi bạn Nêru là sự sẻ chia xót xa với người cùng cảnh ngục tù tận xứ xa xôi. Rộng hơn là tình cảm dân tộc trước “cơn cảm mạo” trời Hoa và “nỗi đau thương” đất Việt. Có sắc thái đồng bào, đồng chí và còn là đồng chủng, đồng văn. Cũng có khía cạnh của tình quốc tế nữa. Tất cả đều có chỗ trong trái tim Hồ Chí Minh: cái nhân loại nhỏ bé khổ đau trong tù và cái nhân loại còn đầy tai ương, bất hạnh khắp nơi trên thế gian. Thậm chí, Người như có một thứ siêu cảm giác: thấu hiểu cả linh hồn vạn vật như bông hoa hồng, cái gậy, chiếc răng, cột cây số, chú gà thường,… Nghĩ kĩ, vẫn là người cả đấy thôi. Hơn thế, đó còn là bạn ta: những thân phận nhỏ bé mà lớn lao vì công sức đóng góp cho người, cho đời.

Quả vậy, trong thế giới nhà tù còn có những tấm lòng thiện, những con người tốt bụng chẳng khác nào những ánh lửa nhỏ nhoi góp phần xuyên chiếu bóng tối dày đặc, bi thảm “Thế giới nhưng tồn giá chủng nhân” (“Song trên đời này vẫn còn người như thế”).

Xét theo một cái nhìn hạn hẹp và cách nghĩ không thấu đáo, có thể cho rằng Người đã xóa nhòa ranh giới bạn – thù. Đâu phải là như vậy. Chính đây mới là biểu hiện cái cao tay trong ứng xử: sự cao cả của tấm lòng và trình độ cao cường của sách lược đấu tranh: thu phục nhân tâm, phân hóa đối tượng, nhằm thêm bạn, bớt thù, lấy thiện trừ ác, đem tốt thắng xấu. Nhất là lúc đó cần giành thời cơ thuận lợi nhất, điều kiện quan trọng nhất là tự do, càng phải tranh thủ mọi lực lượng ủng hộ khi họ còn ở cùng chiến tuyến đồng minh.

Nhật ký trong tù, xét ở một góc độ, là bài học lớn về đối nhân xử thế, về triết lý đắc nhân tâm và sự thấu hiểu tấm lòng lãnh tụ.

Ở hiền gặp lành, Quý nhân phù trợ, triết lý như trải nghiệm nhớ đời từ nhà tù đế quốc đã là phương châm xử thế đấu tranh của nhà cách mạng lão thực. Chính luật sư Loseby trong chuyến thăm Việt Nam sau này đã kể lại: “Không riêng gì tôi mến phục Tống Văn Sơ mà từ người cai ngục, viên gác cổng, em bé bán báo, người quét đường cũng cảm mến Tống Văn Sơ, ngay cả vợ chồng Phó Thống đốc cũng rất kính nể” (3).

***

Văn thơ chính là người. Người ở phần căn cốt tinh túy nhất. Đó là một chân lý nghệ thuật: của nghệ thuật và từ nghệ thuật.

Dù muốn hay không, tác phẩm – nhất là tác phẩm lớn, phản ánh một cách khách quan gương mặt, tính cách, phong thái của chủ thể sáng tạo.

Hồ Chí Minh là một nhân cách lớn – nhân cách thời đại. Đó là nhân cách tổng hợp của nhiều nhân cách.

Trong nhà cách mạng lão luyện đã bao hàm nhà tư tưởng, triết gia vĩ đại, nhà văn hóa thế giới, nhà đạo đức lỗi lạc, nhà giáo dục bậc thầy tiêu biểu của muôn thế hệ. Tất nhiên ta thấy ở tác phẩm lớn Nhật ký trong tù những yếu tố cơ bản, cốt lõi nhất, được nảy sinh, hình thành và sẽ phát triển trong cả cuộc đời và sự nghiệp của Người.

Nhật ký trong tù là một kiểu thơ ngôn chí hiện đại: Một cách khiêm tốn nhưng minh bạch, đàng hoàng, Người bày tỏ tư tưởng chính trị là ước mơ giải phóng và khát vọng tự do, như cái chí tức lý tưởng cách mạng:

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh

Ngọn cờ ấy dĩ nhiên hoà đồng vào”Rầm rập Á Châu, cờ kháng Nhật” chống ngoại xâm, diệt phát xít. Tuy nhiên, từ khi đọc Luận cương Lênin, tìm ra “bửu bối” cho hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. Người sang Trung Quốc với tư cách là đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), bình đẳng với các đoàn quốc tế:  “Cũng là đại biểu cả”(“Đồng thị đại biểu dã”).

“Không có gì quý hơn độc lập tự do” là khẩu hiệu, là tuyên ngôn, là chân lý cách

mạng của thời đại. Đó cũng là lẽ sống, là học thuyết cách mạng Hồ Chí Minh.

Học thuyết vì độc lập và tự do chính là một nhân tố cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Trong thực tiễn đấu tranh, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc là ngọn cờ quốc tế có sức vẫy gọi mãnh liệt trên toàn thế giới.

Nhật ký trong tù thể hiện rất rõ tấm lòng thương cảm, thật sự những thân phận khổ ải trong tù ngục. Phạm nhân – loại chúng sinh hoạn nạn tội lỗi, tha hóa. Đặc biệt nổi bật là đại độ, từ bi, khoan dung, độ lượng với con người kể cả bộ phận, đối tượng quản lý trực tiếp, gián tiếp tù nhân. Đây không chỉ là tình cảm mà còn là lý trí, là phép đối nhân xử thế mà cũng là sách lược của nhà cách mạng lão luyện.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết có thể thấy thêm một nhân tố cốt lõi qua hiện tượng đó. Những biểu hiện của đại đoàn kết dân tộc và cả quốc tế cũng có thể tìm những minh chứng đặc sắc qua tác phẩm tuy còn hiếm: chiến hữu, lãnh tụ yêu nước Ấn Độ (Gửi bạn Nêru), nhân dân Trung Hoa kháng chiến “Oanh liệt vang lừng” (Ngày đình chiến 11/11).

Từ đây ta nhận ra ý nghĩa văn dĩ tải đạo hiện đại của Nhật ký trong tù. Thơ muốn chuyển tải một đạo lý mới cách mạng. Tác giả tự thấy nhiệm vụ và cổ vũ tinh thần đấu tranh cho sự nghiệp cứu nước cũng như giải phóng nhân loại.

Nhật ký trong tù là lời tự dặn lòng, tự khuyên mình, tự khuyến khích bản thân (Tự miễn). Không định dạy ai nhưng hóa ra lại là ông thầy thiên hạ. Tác phẩm có ý nghĩa giáo dục, chứng tỏ tác giả là một nhà giáo dục lớn. Hơn thế, tập thơ chứa đựng một tuyên ngôn về triết lý giáo dục. Về bản chất con người, về quy luật vận động của con người, đặc biệt là tự thân vận động. Để làm người và làm nên sự nghiệp lớn.

Bản tính, bản chất con người không do thiên định. Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng. Tiếp thu giáo dục là cực kỳ quan trọng: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên”.

Rèn luyện trong cuộc đời và trong đấu tranh “muôn vàn khó khăn” là yếu tố quyết định thành công: “Tai ương rèn luyện, tinh thần thêm cao/… Sống ở trên đời người cũng vậy/ Gian nan rèn luyện mới thành công”.

Từ thế giới nhà tù, Người nêu phản chứng, phản đề, chỉ ra cái tệ hại của tội lỗi do thiếu hoặc vô giáo dục: “Con nhà giàu có, giáo dục nghèo/ To “gan đánh bạc”, bé teo “gan người”.

Tu thân cách mạng, tự hoàn thiện nhân cách là nội lực có tính quyết định. Bốn tháng rồi là bài học tự trải nghiệm có ý nghĩa triết lý sâu sắc và chính là một trang đặc sắc của giáo khoa thư luân lý cách mạng:

Kiên trì cùng nhẫn nại

Không chịu lùi một phân

Một trường hợp thấm thía tương tự, ấy là qua đọc sách:

Gian khó không lùi vẫn tiến lên

 Thù nhà nợ nước, nghĩa đương nhiên

 Quyết tâm gắng gỏi và kiên nghị

 Nhất định thành công sẽ có phen.

                        Đọc huấn từ của ông Tưởng

Về phương diện trên (suy nghiệm, đào sâu mở rộng, khái quát thêm một số đề tài), có thể thấy sự hình thành khá rõ nét tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức và xây dựng con người mới. Những phác thảo sơ khởi này sẽ được Người phát triển trong công cuộc kiến quốc từ sau cách mạng thành công.

Sau cùng mà lẽ ra cần nói trước hết, trên hết đó là hình ảnh bao trùm: con người thi sĩ Hồ Chí Minh. Nhật ký trong tù đã đưa Người lên hàng ngũ các nhà thơ lớn hiện đại với phong cách độc đáo. Đó là những vần thơ hòa quyện thép và tình, là tuyên ngôn cho một tư tưởng nghệ thuật cách mạng. Chiến sĩ và thi sĩ đồng nhất trong tiếng hát đấu tranh.

Còn có thể nói thêm về con người tự nhiên, hồn nhiên Hồ Chí Minh. Đó là con người gắn bó, yêu mến, thiết tha với thiên nhiên như một phong cách, một lẽ sống, một triết lý sống (“Bác sống như trời đất của ta” – Tố Hữu). Thực ra, con người tự nhiên này cũng gắn bó hữu cơ với thi nhân như nằm trong cấu trúc tâm hồn của thi hứng.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh – thi nhân là đề tài lớn  dành cho một tiểu luận khác.

***

Trở lên lại là sự cảm nhận về nhân cách, các tư cách thiên về mặt xã hội của nhà cách mạng lỗi lạc thế giới – mà ở đây là Người tù vĩ đại Hồ Chí Minh.

Có những hằng số bất biến trong thơ Hồ Chí Minh, mà nổi bật trong Nhật ký trong tù là Tự do – Bất khuất – Nhân văn. Nói đầy đủ là những chủ đề, những cảm hứng chủ đạo: khát vọng độc lập, tự do – ý chí kiên cường, bất khuất và tinh thần bác ái, nhân văn. Qua đó là sự thể hiện tự nhiên từ rất sớm, hình tượng thẩm mỹ, đặc biệt với vẻ đẹp kỳ diệu người anh hùng dân tộc – danh nhân văn hóa thế giới.

Ấy là không kể về mặt nghệ thuật, Nhật ký trong tù được thể hiện thành một bút pháp, văn phong kỳ thú của nhà báo quốc tế lỗi lạc, nhà văn hiện đại Nguyễn Ái Quốc. Có sự tương tác, đan xen tinh khéo nhiều thể loại, yếu tố. Đại tự sự trong trữ tình, văn báo chí và văn chương nghệ thuật, cổ điển và hiện đại, cách tân, nhất là nụ cười thâm thúy và chất trí tuệ (humour), nét phong cách độc đáo của “thơ Hồ”. Dĩ nhiên, đây cũng là một đề tài phong phú khác.

Đ.T.H

CHÚ THÍCH

(1) Hồ Chí Minh – Hồ Chí Minh  Thơ – Toàn tập – Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2000.

(2) Nhiều tác giả – Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh – Thanh niên (3), 2007.

(3) Đoàn Minh Tuấn – Bác Hồ và ông luật sư người Anh – http://congan.com,  15/5/2010.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm