TIN TỨC

“Ta về” và … ba câu hỏi trước một cuộc trở lại…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-04-12 10:17:10
mail facebook google pos stwis
2707 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Đó là bài thơ của Mạc Phong Tuyền, một tác giả trẻ xứ Thanh.

TA VỀ

Cạn ngày cạo vỏ hồn thơ

Bụi ngôn ngữ lấm trang vô thường đời
 

Hèn sang cũng chỉ

kiếp người

Phân phong đoạt thoán khóc cười lê thê
 

Ngược dòng lội quãng sông mê

Gạo thơm mặc kẻ

cơm khê mặc người
 

Ta về

làm ngọn gió lười

Ngủ trên phiến liếp tháng mười

em che
 

Ta về làm chiếc lá me

Vương vương suối tóc em hoe hoe chiều
 

Ta về làm mảnh trăng xiêu

Ghé đêm

quỳnh nở

thưởng Kiều em ngâm
 

Ta về thương áo tứ thân

Mưa xuân em đảnh lễ lâm thâm phùn
 

Ta về

thương hạt hạt bùn

Gót hồng - guốc mộc (hôn chùn chụt hôn)...
 

—Mạc Phong Tuyền

……

Đọc TA VỀ , cảm nhận tức thì của tôi, là vừa được anh chàng Mạc Phong Tuyền mời dự “Một đại tiệc ngôn ngữ Thơ ”, với đầy ắp những ẩn dụ mê hoặc, những tạo từ dị thường, những biến tấu sáu – tám bất ngờ… Tôi bị cuốn hút theo luận giải của bài thơ về cuộc đời của một con người làm thơ…

1.  TA VỀ?...

Cái đầu đề bài thơ, chữ TA kia, hẳn nhiên là tự xưng, tự chủ - động của chính “nhân vật trữ tình” của Thi phẩm rồi. Nhưng tại sao lại VỀ? Về đâu? Và để làm gì? Là ba câu hỏi treo trước cảm – thức của tôi.

Tôi biết trong tiếng Việt ta, có hai chữ VỀ, đồng âm, nhưng khác nghĩa. Một là động từ, chỉ vận động chuyển dời vị trí, không phải đi tới trước, mà là quay lại sau. Một nữa, là từ chỉ hướng vận động, trở lại nơi chốn trước… Với TA VỀ ở đây, tôi thấy, ẩn trước VỀ có cả ĐI, nên VỀ vừa là động từ chỉ vận động, lại vừa là từ chỉ hướng vận động…

Và, tôi nhận ra TA VỀ là một ẩn dụ “trở lại thời gian đã qua để…”, tức là một ẩn dụ Thời gian, Không gian xuyên suốt bài thơ. Theo càng sâu vào bài thơ, với sáu lần TA VỀ, lập lại, tôi đã đến nơi khởi đâu cuộc hành trình TA BÀ… của TA.

Nhưng TA đây là ai thì vẫn phải dõi theo luận giải hiển ngôn của bài thơ…

2. Tám đơn vị dòng thơ đầu bài thơ, chính là biến thể của ba cặp lục – bát, như tôi đã nói, biến tấu ấy, (Và những biến tấu tiếp theo nữa), đã tạo bất ngờ cho liên tưởng, và nhờ đó, khiến bùng nổ thức – nhận trong tôi!

TA VỀ là cái đầu đề của bài thơ, nhưng ý tứ thì lại gắn liền ngay với khúc đoạn thứ nhất, với tám đơn vị dòng thơ mở đầu này:

 “Cạn ngày cạo vỏ hồn thơ

Bụi ngôn ngữ lấm trang vô thường đời

Hèn sang cũng chỉ

kiếp người

Phân phong đoạt thoán khóc cười lê thê

Ngược dòng lội quãng sông mê

Gạo thơm mặc kẻ

cơm khê mặc người”

Từ đây bắt đầu những Luận giải, mà tôi thấy trước mình hai chủ thể - TA, là một trẻ, một già, chứ không phải chỉ một “duy nhất ta”. Sở dĩ thế, vì ngay mở đầu bài thơ, sừng sững trước mặt tôi là hai chữ “CẠN NGÀY…”.

CẠN có nghĩa là sắp hết, cũng có nghĩa là đến điểm gần hết, nhưng còn chưa hết (một quá trình chưa kết thúc), mà người ta tạm dừng lại, để làm gì đó. Có thể vẫn sẽ đi tới cơ hội; có thể sẽ trở lại làm “kiểm điểm , rút kinh nghiệm” (!), chẳng hạn… Ở bài thơ TA VỀ, đây là điểm dừng đánh giá, chiêm nghiệm và luận giải…

NGÀY là thời gian, là một ẩn dụ thời gian, không phải 24 giờ, hay bắt đầu lúc mặt trời mọc và kết thúc khi mặt trời lặn… Khi bài thơ khởi phát bằng hai chữ CẠN NGÀY, thì tôi đọc thấy ngữ nghĩa thứ nhất, như trong bài thơ MƯA XUÂN của Nguyễn Bính: “Anh ạ! Mùa Xuân đã cạn ngày/ Bao giờ em mới gặp anh đây”. Và nếu ai đọc chắc cũng sẽ tiếp nhận ngữ nghĩa trước tiên của hai tiếng CẠN NGÀY như tôi, như trong MƯA XUÂN của Nguyễn Bính, thì chữ CẠN NGÀY trong bài thơ MƯA XUÂN và CẠN NGÀY trong TA VỀ sẽ là MÙA đi sắp hết… một quảng của một đời đã qua…

Tôi nói thế, là để nói rằng, chủ thể của luận giải suốt dọc bài thơ, trước tiên là một trang THANH NHI, mới ở cái tuổi mà LUẬN NGỮ Khổng Tử gọi là “Tam thập nhi lập”. Và tôi hiểu, luận giải của trang THANH NHI kia chưa phải là Chiêm nghiệm – Đúc kết cho Đời; mà chỉ là những Nhận biết – Đánh giá cho mình.

Xin hãy đọc lại đoạn thơ trên lần nữa! Nhất là hai câu lục – bát biến thể ở giữa đoạn thơ: “Hèn sang cũng chỉ/ kiếp người // Phân phong đoạt thoán khóc cười lê thê”, để có thể thấy đánh giá của một trang THANH NHI, vừa có thể gọi được là khá mẫn tiệp về trí lực, lại vừa có cả tưởng sức “bạt sơn, cử đỉnh”… Hai chữ “cũng chỉ” trong câu thơ cho tôi thấy cái sức trẻ coi thường “hèn sang”, “đoạt thoán” của “kiếp người”… là thế đấy!...

Nhưng thần tình là hai câu thơ đầu, với những là “cạo vỏ’, “bụi ngôn ngữ lấm” được kết cấu thành một cấu trúc sáu – tám, để chuyển tải thông điệp về một CON NGƯỜI đã sống hết mình cho thiên chức của mình! “Hồn thơ” như chất Nhựa sinh - chứa trong cây, (Thông, Cao su… chẳng hạn), vừa đã trưởng thành, mà nguồn ấy, trong giới hạn thời gian ấy (ngày), đã dâng hiến đến tận nguồn (“cạo vỏ”) như một lẽ “vô thường” của đời thường, cho “đời”… Thì đấy, “Cạn ngày” chỉ còn lại là những “Bụi ngôn ngữ” (bụi thơ), “lấm trang vô thường đời” mà thôi!...

Tiếp đến, bài thơ đã mở ra những ý niệm Phật pháp, vốn đã mở ra từ câu thơ đầu. “Ngược dòng lội quãng sông mê” chẳng phải đó là môt chút hồi tưởng là gì?! Và : “Gạo thơm mặc kẻ/ cơm khê mặc người”, thì chẳng phải là một thản nhiên, biết rồi, đi tiếp thôi… là gì?!

3. Và kế tiếp là Năm quảng TA VỀ nữa!...

3.1. Cũng nên thế! Vì đã trải bão giông, sấm rền, gió giật… bao bận rồi! Giờ thì : “Ta về/ làm ngọn gió lười // Ngủ trên phiến liếp tháng mười/ em che”.

“Tháng Mười” ! Lại một ẩn dụ thời gian nữa! “Tháng Mười” đây ngữ nghĩa còn như là một “phiếm định” dân gian. Ca dao: “Bao giờ cho đến tháng Mười // Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn”. Nhất là “tháng mười” trong TA VỀ còn giống như là: “Bao giờ cho đến tháng Mười”, tên một phim truyện nổi tiếng của Đạo diễn Đặng Nhật Minh; mà cùng tôi, bạn đọc có thể đọc lại những câu thơ thật khó quên của nhân vật thầy giáo Khang:

“Bao giờ cho đến tháng Mười

Lúa chín trên cánh đồng giông bão

Ta để lại sau lưng những ngày dài mong đợi

Những mất mát hy sinh chịu đựng khổ đau

Khi trời thu vẫn xanh mãi trên đầu”.

Bởi thế, tôi yêu lắm “ngọn gió lười” (như một chút ngơi nghỉ), đã trở về trong tình yêu đích thực, muôn đời vẫn là “mắt bão” ấm êm để : “Ngủ trên phiến liếp tháng mười / em che”.

Tôi tự hỏi, đã có mấy nhà thơ viết được một câu thơ như thế nhỉ?!

3.2. Tiếp đó, lại thêm hai lần TA VỀ nữa:

“Ta về làm chiếc lá me

Vương vương suối tóc em hoe hoe chiều

Ta về làm mảnh trăng xiêu

Ghé đêm

quỳnh nở

thưởng Kiều em ngâm”

... nhưng những tưởng cũng vẫn chỉ êm đềm, lắng đọng trong ấm êm hạnh phúc thôi. Mà không! Xem ra đó chỉ là những “viên mãn” chợt đến, bất thường tạm hưởng mà thôi!

Bằng sáu đơn vị dòng thơ, biến thể giai điệu của hai cặp lục bát, với những chỉ dấu : “lá me”, “vương vương tóc”, “hoe hoe chiều”, “trăng xiên”, “quỳnh nở”, “thưởng Kiều em ngâm”; đặc biệt là “Ghé đêm / quỳnh nở”, câu thơ ngắt dòng, vừa như muốn, vừa như không... khiến tôi nhớ hai câu thơ, cũng lục bát biến thể, và cũng của một nhà thơ trẻ xứ Thanh, anh Trương Xuân Thiên, trong bài thơ HỒNG HOANG :

“Thuở hoa bỏ lại

mùi hương

Ta cầm nước mắt mà thương

hoa quỳnh”

(Rút từ tập thơ “HOMO SAPIENS Người tinh khôn” Nxb Văn Học 2009).

Triết luận ở đây là trong tỉnh có động! “Biến cùng... thì... tắc biến” như Dịch lý phương Đông mà Cao nhân túc trí Việt ai cũng thấu triệt!

3.3. Tôi đọc tiếp nhé!

“Ta về thương áo tứ thân

Mưa xuân em đảnh lễ lâm thâm phùn”

Lại một lục bát chói sáng tài năng trẻ xứ Thanh Mạc Phong Tuyền!

“Áo tứ thân” là một hoán dụ, trùm lên một ẩn dụ về ai, nếu không phải là MẸ của TA? Người vẫn đó, hoặc đã Thiên cổ, thì em vẫn “đảnh lễ” trong Mùa Tảo mộ, trong Hội Thanh minh! Thì EM vẫn cùng TA thăm – viếng tỏ nhớ Cội sinh thành, cảm ơn Đức dưỡng dục...

Tôi bất ngờ và kinh ngạc (nên sẽ còn trở lại) bởi cách cấu trúc “QUÁI ĐẢN”, (chữ dùng của Giáo sư Phan Ngọc), của câu thơ :  “Mưa xuân em đảnh lễ lâm thâm phùn”. Các chữ “đảnh lễ” đã thấy hiếm gặp trong thời buổi “phong bao” hiện nay, lại vẫn được Mạc Phong Tuyền sử dụng trong bài thơ một cách tự nhiên như nhiên. Thế mới bất ngờ, mới thần tình, mới thật quý !

3.4. Và, đây, ba câu thơ kết:

“Ta về

thương hạt hạt bùn

Gót hồng - guốc mộc (hôn chùn chụt hôn)...”

... mà đọc lên tôi vẫn tự hỏi, rằng có mấy nhà thơ viết được thế, với những dòng thơ như thế, trong một bài thơ như thi sỹ họ Mạc kia... không nhỉ?...

“thương hạt hạt bùn” thì đích là tình yêu của Mạc rồi. Đã biết mấy bài thơ Mạc viết về MẸ, về CHỊ, về LÀNG quê, bờ bãi, ruộng đồng, bùn đất canh nông... Cách đây ít lâu, tôi đã có dịp phân tích bài thơ LẠY BÙN chỉ có bốn câu lục bát của Mạc...

“Giọt buồn tẩm ướt chợ trưa

Lưng còng gánh cả thúng mưa mẹ về

Lạy bùn đừng váng chân đê

Làm run gót mẹ tái tê thân bùn...”

Hay như mới đây, ở bài thơ CON CHÓ ĐÁ, có câu thơ : “Bới từ bùn lên những mùa màng” Mạc viết về CHỊ...

Nhưng còn ở đây, là TA VỀ!

Phải! TA VỀ từ nơi ấy TA đã đi! Nơi có Mẹ TA, Chị TA, có “Gót hồng – guốc mộc”... đong đầy (lút) trong yêu thương đồng quê bản quán. Cái ngoặc đơn (...), “hôn chùn chụt hôn” là một đặc tả âm thanh gợi nhớ một “ấu nhi”, với ngập tràn nựng yêu, muốn mong và khích lệ!...

Thế nghĩa là gì nếu không phải TA VỀ để lại bắt đầu một Khởi thủy mới ?!...

4. Vậy là cả ba câu hỏi tại sao lại về, về đâu, và để làm gì treo trước tôi khi mới đọc TA VỀ của Mạc Phong Tuyền, khởi từ hai chữ “Cạn ngày”, với ẩn dụ thông điệp “ngày” như một khúc đoạn cuộc đời THANH NHI đã được tôi nhận thức, như một thức – nhận của riêng tôi là thế đấy!

Một mặt khác nữa, là tôi còn thấy TA VỀ chuyển tải được cả THÔNG ĐIỆP, những Luận giải, về những Chiêm nghiệm... nếu tôi bắt đầu nhìn nhận ẩn dụ “Cạn ngày” với “ngày” là thời gian của cả một đời người, chứ không phải một khúc đoạn đời, thì tôi sẽ thấy những Luận giải kia mang tầm của một triết nhân!...

... Mà thôi, cái mặt khác kia xin một lần nhận diện sau vậy...

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm