TIN TỨC

Trần Nhật Thu, biết mấy nghĩa ơn ngày gian khó

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-11-10 11:19:02
mail facebook google pos stwis
1042 lượt xem

NGÔ ĐỨC HÀNH

Nhân chuyến công tác tại TP. Hồ Chí Minh, tôi được nhà thơ Trần Mai Hường tặng vài tập sách mà chị là “bà đỡ”, trong đó có Từng biếc xanh đứng hát với mây trời, NXB Hội Nhà văn, quý III/2024 của nhà thơ Trần Nhật Thu. Chị dặn: “Anh về đọc cuốn này đi”. Trần Nhật Thu, người đã rời “cõi tạm” cách đây 16 năm.

Nhà thơ Trần Nhật Thu, sinh năm 1945 tại Đồng Hới, tên thật là Trần Viết Hỷ, tham gia phong trào văn nghệ từ thập niên 1960, khi mới 15 tuổi. Ông từng công tác tại tuần báo Văn nghệ Giải phóng và Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh từ 1975; những năm cuối đời ông công tác tại báo Sức khỏe và Đời sống. Trần Nhật Thu từng xác tín: “Nơi tôi sinh/thị xã nhỏ bên bờ Nhật Lệ/gió rất mặn thổi từ cửa bể/hoa hồng rơi đầy lối đi” (Thị xã).

Tập thơ Từng biếc xanh đứng hát với mây trời được hoàn thành từ di cảo của nhà thơ, trong điều kiện vô cùng nan giải về sưu tầm, thẩm định do các nhà văn Trịnh Bích Ngân (Bích Ngân), Trần Sỹ Tuấn, Trần Mai Hường, Lê Thiếu Nhơn chủ trì. Các anh, các chị đều là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện sinh hoạt tại Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh.


Nhà thơ Trần Nhật Thu (1945-2008)

Theo nhà văn Bích Ngân, việc in thơ, tổ chức tọa đàm giới thiệu tác phẩm của những nhà thơ quá cố là hoạt động Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh vẫn thường làm. Riêng với nhà thơ Trần Nhật Thu, do người vợ tào khang cũng đã mất, chưa liên hệ được với con cái nên khởi đầu chị và nhà thơ Trần Sỹ Tuấn đều lúng túng. Chị không yên tâm với những bài thơ của Trần Nhật Thu do nhà thơ Trần Mai Hường sưu tầm trên mạng (dẫu giao diện Thi viện-thivien.net giới thiệu 48 bài thơ của Trần Nhật Thu). Sự thận trọng của nhà văn Bích Ngân là cần thiết, nên chị viết status lên trang cá nhân, tìm kiếm sự trợ giúp.

Thật may, sau vài tiếng lan tỏa, nhóm biên soạn nhận được thông tin từ các nhà thơ Đàm Chu Văn, Trần Hữu Dũng và anh Phan Lai Triều-con trai nhà thơ Chế Lan Viên cho biết họ đang “sở hữu” một số tập thơ do chính nhà thơ Trần Nhật Thu lúc sinh thời ký tặng.

Thở phào nhẹ nhõm, nhóm biên soạn vượt qua khó khăn đầu tiên. Không “có bột”, khó gột “nên hồ”, dẫu tình văn nghệ lớn đến mức nào?!

**

Từng biếc xanh đứng hát với mây trời của Trần Nhật Thu gồm 145 trang; ngoài 49 bài thơ của Trần Nhật Thu, có tựa của nhà văn Bích Ngân và bài viết của “đồng hương Bình Trị Thiên”-nhà thơ Chế Lan Viên, thay cho lời bạt. Bài này nhà thơ gốc Quảng Trị viết vào Tết Ất Sửu năm 1985, trước khi ông mất 4 năm. Thế mới biết, Trần Nhật Thu đã tham gia “đời sống” văn nghệ, quan hệ với nhiều “cây đa, cây đề” trong làng văn từ sớm.

Chủ đề trong Từng biếc xanh đứng hát với mây trời của Trần Nhật Thu khá đa dạng. Cảm thức thi ca trong tập cho thấy bàn chân của Trần Nhật Thu đã rong ruổi ở nhiều cùng đất nước, Bắc Ninh, Quảng Trị, Nha Trang, Đà Lạt, TP. Hồ Chí Minh, Hậu Giang, Cà Mau, Bà Rịa-Vũng Tàu...Tất nhiên, ông dành cho Quảng Bình, nhất là Đồng Hới, nơi nhà thơ sinh ra tình cảm trân quý với cố thổ, nâng niu ký ức.

Em trở về thị xã chẳng còn nguyên

 Hoa hồng sen cồn cào trong nỗi nhớ

Anh dẫn em qua từng lối nhỏ

Gạch ngói ngổn ngang bề bộn công trình

                             (Ca khúc trở lại thị xã hoa hồng sen)

Đây là khổ đầu trong bài thơ dài, gồm 18 khổ, gồm 72 câu của nhà thơ Trần Nhật Thu về TX. Đồng Hới (nay là thành phố). Bài thơ này, ông viết vào ngày đầu tháng 6/1975, khi miền Nam mới được giải phóng, đất nước thống nhất mới được một tháng. Hẳn nhiên, Đồng Hới những năm tuyến lửa là “tọa độ lửa”, gần như bị san phẳng trong chiến tranh. Quảng Bình nói chung và Đồng Hới bắt đầu bắt tay khôi phục, kiến thiết hậu quả.

“... /Viên gạch hồng chuyền tay nhau như mơ/Bao ngôi nhà sẽ lấp dần khoảng trống/Đất nước bộn bề năm chúng mình đang sống/Phía trời Nam thương nhớ đợi chờ”. Bài thơ ngân lên khúc hát yêu đời, tin vào ngày mai; ở đó niềm tin và những cảm xúc lãng mạn: “Sông Nhật Lệ bốn mùa xanh trong/Đón em về giữa ngày vui mới/Tàu cập bến vang tiếng còi bổi hổi/Bến đò chiều ai đó nắm tay nhau” (Ca khúc trở lại thị xã hoa hồng sen). Trần Nhật Thu, thảng thốt cùng quê hương: “Đồng Hới ơi, cháy bỏng giữa tim mình”.

Ngoài bài thơ này, “bức tranh cảm xúc” về Đồng Hới và Quảng Bình còn được Trần Nhật Thu “ký họa” trong các bài thơ Trở về, Bến đò mẹ Suốt, Đồng Hới lại về, Gửi lại Ta Lê...

Đọc thơ Trần Nhật Thu nhận ra tình cảm mênh mang, hoài niệm, thương nhớ, tri ân quê hương và người mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng, bọc đùm tác giả. Trong bóng quê có bóng mẹ và ngược lại. Hay nói cách khác hình ảnh làng quê, người mẹ tảo tần cùng hiển thị, lồng vào nhau. Đó là vùng ký ức nao lòng: “Tuổi thơ/cánh buồm chở đầy khát vọng/Lồng ngực nhỏ lần đầu xô sóng...”; “Mẹ tôi/mang mặt trời về khi tan chợ/những vỏ ốc, vỏ sò kỳ ảo thế/mẹ nuôi mặt trời/cháy suốt đời con” (Thị xã).

Chắc chẳng nơi nào đẹp bằng quê hương; “Thành phố nhiều gió quá/Màu xanh lên ngợp trời/Hỡi dòng sông Nhật Lệ/Buồm ai vừa ra khơi” (Đồng Hới lại về). Không ai “bứng” ông ra được khỏi cố thổ. Ở đó còn có những rung động đầu đời của mỗi người khi lớn lên không gì thay thế được: “Nơi đây anh đã có/Một tuổi thơ êm đềm/Anh xây thành phố cát/Nơi ấy mặt trời lên” (Đồng Hới lại về).


Bìa tác phẩm “Từng biếc xanh đứng hát với mây trời”.

**

Trần Nhật Thu là nhà báo, nhà thơ đa tài. Tác phẩm của ông để lại ngoài thơ còn có truyện ngắn, chân dung văn học và khảo luận. Từ năm 1971 ông đã có thơ in chung với Cảnh Trà và Quang Huy; sau đó là các tập: Mùa bão và hoa muống biển (NXB Văn học, 1977), Gặp gỡ mùa gió chướng (NXB Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1986), Hoa hồng gió mặn (NXB Thuận Hóa, 1986).

Về văn, đáng kể nhất của Trần Nhật Thu là tập truyện ngắn Con mắt của cánh buồm, NXB TP. Hồ Chí Minh in lần đầu năm 1986 và được tái bản nhiều lần; năm 1997 NXB Kim Đồng tái bản vào Tủ sách vàng... Về khảo luận, đáng kể nhất là tác phẩm Tục lệ cưới gả, tang ma người Việt xưa, NXB Thuận Hóa năm 1991; sau đó được tái bản nhiều lần.

“Hơn 15 năm, thời gian đủ dài để có thể xóa nhòa và lãng quên nhiều thứ. Nhưng với thơ ca, đó là khoảng lùi cần thiết để người viết, người đọc có thể nhận rõ hơn những gì mà chữ nghĩa đem lại. Dù gia tài thi ca của Trần Nhật Thu không đồ sộ, thậm chí là khiêm nhường... nhưng chất lắng, chất đọng của vàng ròng từ câu chữ, từ tấm lòng nhà thơ vẫn lung linh thứ ánh sáng của riêng nó, bất chấp mưa nắng cuộc đời và lớp bụi thời gian”, nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh viết trong tựa tập thơ.

Nhận xét của chị, không chỉ là sự đánh giá mà còn có ý nghĩa phổ quát. Thơ là văn bản của nhà thơ. Nói như nhà thơ Nguyễn Bình Phương, “khi nhà văn nằm xuống, đồi núi của anh ta mới trồi lên”.

Nhà thơ, tiến sĩ Trần Sỹ Tuấn nguyên là Tổng Biên tập báo Sức khỏe và Đời sống, cho đến bây giờ vẫn nhắc đến Trần Nhật Thu, một đồng nghiệp, một thuộc cấp với biết bao thương nhớ: “Mây trắng như vành khăn trắng/Thắt vào bao nỗi nhớ thương/Đất trời mùa này mưa bão/Lo anh sương gió dặm trường”.

Phải là người tử tế, dẫu đã về miền mây trắng mới được anh em, đồng nghiệp nhớ thương như vậy. Sinh thời nhà thơ Chế Lan Viên nhận xét: “Ở Trần Nhật Thu có sự dịu êm và hiền hòa”. Điều này xác tín, không chỉ giọng điệu, phong cách thơ Trần Nhật Thu, mà còn cả quán chiếu từ đời sống nhà văn.

Nguồn: Quảng Bình điện tử

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Thiên Thư: Người đi tìm bụi đỏ đã hóa thân vào “cát bụi” phận người
Chiều tối, lúc 18h24 phút, Báo Giác Ngộ Online - Cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin về việc “ra đi”, xa lìa cõi tạm của thi sĩ Phạm Thiên Thư với một dòng tin ngắn nhưng trang trọng: “Phạm Thiên Thư tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người “thi hóa kinh Phật” vừa từ trần lúc 6h15 phút, chiều nay, 7/5/2026”.
Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm