TIN TỨC

Phạm Phương Lan: Lời yêu vẫn đầy

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-03-28 12:02:18
mail facebook google pos stwis
2173 lượt xem

 

       Nhà thơ Bùi Phan Thảo

 Gặp ngoài đời, người ta thường thấy Phạm Phương Lan trong dáng vẻ tươi tắn, yêu kiều. Một người dẫn chương trình duyên dáng, sắc sảo. Một nhà thơ xinh đẹp, khả ái. Nhiều cách nói, nhiều người nói về Lan, đều quy về một người đàn bà đẹp, trời cho cả nhan sắc và tài thơ. Thân hơn một chút, hiểu thêm một chút, Phạm Phương Lan là một người thơ, yêu thơ. Trong thơ lời yêu vẫn đầy. Thơ như đồng hành, thơ đem hương hoa tặng Lan dọc đường đời.

Đọc thơ Phạm Phương Lan, lắm người đôi lúc phân vân: Kiêu hãnh đấy, nhan sắc đấy nên đa đoan đấy, vậy mà thơ pha lẫn yếu đuối, dịu dàng, không gian thơ bàng bạc nỗi buồn. Nhưng ngẫm lại, điều đó là tất yếu, những đa đoan đời gói hết vào thơ. Chính cuộc sống đem lại sắc màu cho thơ Phạm Phương Lan với khoảng trời thơ riêng Lan, nhất là khi được đọc “Mật ngữ em”, tập thơ mới nhất của Phạm Phương Lan, NXB Hội Nhà văn. Một tập thơ đầy đặn, ấp ủ nhiều năm của nhà thơ, đề tài khá đa dạng bên cạnh mạch chủ đề chính là tình yêu. Tập thơ cho thấy độ chín trong ngòi bút, từ tư duy thơ đến thi pháp; ngôn ngữ thơ uyển chuyển, lúc phóng khoáng, nồng nàn, khi dịu dàng, mềm mại. Ngôn từ đã có sức nặng, tạo những dấu ấn cho người đọc bằng thủ pháp nghệ thuật đan xen sự chân thành, dễ dàng tạo sự thấu cảm giữa những tâm hồn đồng điệu.


Bìa tập thơ “Mật ngữ em” của Phạm Phương Lan.

Dĩ nhiên với người đẹp bao giờ cũng là thơ tình đi trước. Người hồng nhan, tình yêu thường buồn nhiều hơn vui, thơ Phạm Phương Lan, vì thế cũng đầy những hư hao, khắc khoải, những nồng nàn dấu yêu và mất mát, chia lìa.

Mở đầu tập thơ, Phạm Phương Lan cho ta thấy một tình yêu đang độ nồng nàn. Ngày mới đến thật xanh, điều gì khiến nàng lật tung cả những ngày, tóc, buổi sáng, em và tôi?

“Lật tung ngày hôm qua

em tìm một vần thơ mới

lật tung từng sợi tóc mây

năm ngón ngắn dài mỏng miết

lật tung buổi sáng hôm nay

ngực thơ nõn nà đồng vọng

lật tung

em và tôi

khát thèm

cuồng vọng” (Khấp khởi ngày xanh)

Câu trả lời đã rõ. Mũi tên của thần tình ái lao đi. Và người đó hiện ra. Và ngời ngời hạnh phúc. Và chất ngất nhớ nhung:

“Anh mỉm cười từ trong từng nếp nghĩ

từng nụ cười

dáng đứng của em

anh mát lành hệt như sương đêm

dịu dàng, mơn man như gió

thần tình yêu ơi

ta hận người

bắt ta nhớ anh” (Anh – Lời yêu sương đêm)

Không phải người đàn bà đẹp nào cũng truân chuyên, nhưng hiếm người đàn bà đẹp có tình yêu lặng sóng. Phạm Phương Lan trời cho nhan sắc thì cũng lấy đi nhiều sự bình yên trong cuộc đời. Và cũng công bằng, trả lại cho Phạm Phương Lan được làm thơ. Nên những bài thơ đó cũng quyến rũ, đa đoan, đường nét lúc phô bày khi ẩn giấu, thấp thoáng những triền mơ.

“Ừ sóng cứ lao xao

nỗi nhớ anh lõa thể

chỉ lòng em dâu bể

chiều ngưng trôi hoang tàn

nỗi nhớ anh cũng thể

tỏa hương chiều hoang mang” (Nỗi nhớ lõa thể)

Tựa đề bạo dạn, tâm ý phóng khoáng, lời thơ đẹp. Lõa thể đặt trong ngữ cảnh này như ta hình dung một bức chân dung tuyệt tác của các danh họa. Nhưng phơi bày ra bởi sóng tràn qua, sóng đánh cuốn đi những gì em muốn giấu, muốn cất giữ riêng anh trong nỗi nhớ. “Lòng em dâu bể, chiều ngưng trôi hoang tàn”, để rồi “tỏa hương chiều hoang mang”. Phải yêu đến thế nào mới có những dòng thơ viết như lên đồng, đẹp một cách hoang dại, cho người đọc cũng rối bời, hoang mang.

Thơ Phạm Phương Lan có rất nhiều nỗi nhớ. Trong chập chờn tỉnh mê, thương nhớ ngập tràn, có lời cất lên như một khẩn cầu. Đâu rồi người đẹp kiêu sa, hay đã quên mình đi để nhớ người trọn vẹn?

“Em có được buồn không

khi lòng tái tê nỗi nhớ

muốn gào thét một cái tên mà sao không thể

anh trôi như áng mây trời

chúng mình xa nhau vừa bằng tiếng nấc

nghẹn ngào rơi giữa thinh không”

Cũng tiếng nấc ấy, rơi giữa trời mà vang vọng:

“Xin đấng chúa trời cứu rỗi hiện sinh

cho em được quên đi tháng ngày trìu mến

cho phút giây trong nhau hòa quyện

chỉ còn là khoảng trống hư không” (Xin người đừng lặng câm)

Thơ Phạm Phương Lan không có những tuyên ngôn hay dài dòng đa sự. Thơ cũng như tình yêu, có lý lẽ riêng và có cả những ngập tràn phi lý. Nhưng có hề chi khi cứ dại khờ, yêu không toan tính. Có rất nhiều những tình yêu như phương trình vô nghiệm, bài toán không đáp số, khu rừng không lối ra mà vẫn đắm đuối đời người. Yêu là yêu, thế thôi. Thế thôi mà xa xót, đắng cả một đời.

“Người chở nụ cười về đâu

mây trời lập trình u ám

ta vũ vần không giới hạn

buồn rơi, vô nghiệm cuộc tình”

Biết là vô vọng mà vẫn mong chờ, khắc khoải:

“Người chở giùm ta màu nắng

về phía bảy sắc cầu vồng

người chở giùm ta màu xanh

về phía chân trời hy vọng” (Tình vô nghiệm)


Nhà thơ Phạm Phương Lan.

Những câu thơ đẹp và buồn. Khác với không ít người làm thơ thích trưng trổ nỗi buồn, như một trang sức, Phạm Phương Lan chọn cách đi bên nỗi buồn, đi cùng nỗi buồn. Trong thơ Lan, nỗi buồn lặn vào hay khúc xạ, trầm tích hoặc lấp lánh, đôi khi như chấm sáng nhỏ trong đêm, cánh chim cuối trời, người đọc vẫn nhận ra, đồng cảm, sẻ chia với nhà thơ. Cái buồn từ trong ra ngoài, từ ngoài thấm vào trong, buồn như một bản năng, thuộc tính, nhưng là cái buồn sâu lắng, dịu dàng. Soi mình trong nỗi buồn nên dường như câu thơ trong veo hơn.

“Chẳng cần buồn ngày hôm qua

đắng cay đừng nhớ

chỉ cần biết trong tôi

em là viên ngọc bích

nhiệm màu” (Nụ cười thênh thênh)

Phạm Phương Lan tự sự về mình một cách nhu mì, một lời thưa nhỏ nhẹ, một phác thảo chân dung. Không kiêu sa, khoảng cách vừa đủ, lửa trong mưa vừa ấm, nụ cười an nhiên:

“Không khái niệm mùa hoa, màu sắc cứ rong chơi

em thuộc về miền thiểu số

người đàn bà thơ ẩn trú trong em như cơn gió

du dương thổi suốt bốn mùa

em thắp đèn, nhóm lửa trong mưa

thổi bạt giá băng lòng ai bão nổi

gieo ngọn nguồn yêu thương, chờ bình yên ngày mới

khoe nụ cười từ trong trái tim đau” (Người đàn bà đa đoan)

Lúc này, người đàn bà thơ lên tiếng, sau những lời như giãi bày nhỏ nhẹ lại là thông điệp có phần mạnh mẽ, như thêm một lần xác tín nữ quyền. Những nhan sắc thanh tao, với trái tim đầy những vết cứa cuộc đời vẫn chất chứa yêu thương. Những người đàn bà làm thơ có quyền tự hào và tự tin bước qua những thác ghềnh:

“Vâng, chúng em

những người đàn bà rong chơi

đã hơn nửa đời cuốc cày trên cánh đồng chữ nghĩa

gia tài lận lưng mỗi đứa chỉ dăm ba cuốn sách dâng đời làm mật ngữ

thừa nửa mảnh đời không biết ghép vào đâu

những người đàn bà không biết lả lơi

chỉ quắt quay thương tiếng à ơi phận bạc

cùng nắm tay nhau vượt qua ghềnh thác

rắt réo dập vùi miệng thế gươm đao” (Phơi khô muộn phiền)

Xưa Quang Dũng với “Đôi bờ” từng viết “Thoáng hiện em về trong đáy cốc/ nói cười như chuyện một đêm mơ”, thì nay trong đáy cốc của Phạm Phương Lan là vầng trăng tan:

“Ta ngỡ ngàng chẳng biết vì đâu

Trăng đã tan vùi đáy cốc

Rượu nhạt rồi mà môi em mím chặt” (Thừa ta cạnh đêm rằm)

Chiếc cốc ấy đã rơi, rượu đã không còn. Thêm một cuộc tình đổ vỡ, chia ly, không thể cứu vãn:

“Em đàn bà

đã bao lần vụn vỡ

nỗi đau này là vết rạn mà thôi

anh được gì khi tim em tan vỡ

được những gì ngoài nước mắt em khô?” (Tầm gai thay áo)

Nhưng không thể mãi than van, tiếc nuối. Dù có nghe dư vị chát đắng song qua những câu lục bát nhuần nhị này, đã dặn lòng phải bình tâm, dứt khoát ngẩng cao đầu mà bước:

“Từ ngày người bỏ vào thương

dăm ba nhỏn mặn, một lường chát chua

đảo điên dậu nát, màn thưa

thì coi như nợ đã vừa tính xong” (Thả gió đi rong)

Trong hành trình tiếp diễn của đời người, đôi khi lại dắt đưa về những miền ký ức. Buồn hay vui, hạnh phúc hay khổ đau thì cũng đã đong đầy, theo thời gian sẽ rêu phong, mờ dấu. Trong buổi chiều nào đó, gót hồng ngược miền gió, ngược vệt nắng, ngược bãi sông, để rồi:

“Ngược về ngày tháng bên nhau

trăm lần xác xao vụn vỡ

chòng chành vạt trời hương nhớ

ngược lòng huơ hoác sương mờ” (Ngược em)

Cứ thế, “Mật ngữ em” dắt đưa người đọc vào thế giới thơ Phạm Phương Lan để lắm khi thấy lòng ngổn ngang và “huơ hoác sương mờ”. Bên cạnh những tứ thơ táo bạo, lời thơ đắm say, những nỗi niềm đằm thắm, nhà thơ còn có những suy tư về đời một cách sâu sắc. Điển hình như bài thơ dưới đây về đại dịch Covid-19. Phải qua những thảm họa như đại hồng thủy hay những đại dịch, nhân loại mới nhận ra nhiều điều đã lãng quên hay xem nhẹ trong cuộc sống; những giá trị cũ và mới được nhận diện, con người sẽ phải thay đổi cách sống, nhìn về cuộc sống bằng đôi mắt khoan dung và lượng thứ hơn. Sau chiếc khẩu trang là những con người, kẻ xấu người tốt, ai rồi cũng phải lìa xa cuộc sống, ai cũng chỉ có một cuộc đời để sống. Một dấu lặng Phạm Phương Lan để lại cho người đọc tự suy ngẫm và đồng cảm với nhà thơ.

“Trong cái hỗn mang thời bệnh dịch

tôi nhận ra mặt người qua chiếc khẩu trang

sau chiếc khẩu trang ai người lầm lũi

ai cách ly ai, ai hờn tủi trách đời

ai chữa trị cứu người chẳng kịp nghỉ ngơi

ai đắng cay vung tiền bỏ mạng

thời dịch bệnh, lòng ngay gian lột trần như ban sáng

dẫu chiếc khẩu trang che kín mặt người

ai cười, ai khóc, vinh nhục ai ơi

ai nào khác ai sau ba tấc đất” (Sau lớp khẩu trang)

Trong chừng mực nào đó, thơ cũng là cứu rỗi. Thơ đem lại sự cân bằng sau những chênh chao, bình yên sau đổ vỡ. Thơ như một nơi an trú đầy tin cậy, để tâm thế như nhiên. Và người đàn bà đa đoan như Phạm Phương Lan tự nhận vẫn cùng thơ đi bên nỗi buồn, vẫn là người đàn bà thơ kiêu hãnh. Sự tự tại của tâm hồn như một lời nhắc, bởi lời yêu chưa cạn.

“Vượt đau khổ úa nhàu

vẽ vào cao xanh bồng bềnh trắng muốt

chấm đôi mắt nhung huyền thảng thốt

bật tiếng khóc, cười, sướng, khổ nhân gian” (Người đàn bà đa đoan)

Và đâu đây ta nghe tiếng cười, đủ để vui trở lại, để tiếp tục cho đời những câu thơ đẹp:

“Cuộc đời bến đỗ nơi nao

hờn ghen chi phận má đào tơ duyên

phơi khô cho hết muộn phiền

nụ vui khanh khách đầy phiên chợ đời”.

TP HCM, thu 2021

B.P.T

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm