TIN TỨC

Phạm Phương Lan: Lời yêu vẫn đầy

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-03-28 12:02:18
mail facebook google pos stwis
2072 lượt xem

 

       Nhà thơ Bùi Phan Thảo

 Gặp ngoài đời, người ta thường thấy Phạm Phương Lan trong dáng vẻ tươi tắn, yêu kiều. Một người dẫn chương trình duyên dáng, sắc sảo. Một nhà thơ xinh đẹp, khả ái. Nhiều cách nói, nhiều người nói về Lan, đều quy về một người đàn bà đẹp, trời cho cả nhan sắc và tài thơ. Thân hơn một chút, hiểu thêm một chút, Phạm Phương Lan là một người thơ, yêu thơ. Trong thơ lời yêu vẫn đầy. Thơ như đồng hành, thơ đem hương hoa tặng Lan dọc đường đời.

Đọc thơ Phạm Phương Lan, lắm người đôi lúc phân vân: Kiêu hãnh đấy, nhan sắc đấy nên đa đoan đấy, vậy mà thơ pha lẫn yếu đuối, dịu dàng, không gian thơ bàng bạc nỗi buồn. Nhưng ngẫm lại, điều đó là tất yếu, những đa đoan đời gói hết vào thơ. Chính cuộc sống đem lại sắc màu cho thơ Phạm Phương Lan với khoảng trời thơ riêng Lan, nhất là khi được đọc “Mật ngữ em”, tập thơ mới nhất của Phạm Phương Lan, NXB Hội Nhà văn. Một tập thơ đầy đặn, ấp ủ nhiều năm của nhà thơ, đề tài khá đa dạng bên cạnh mạch chủ đề chính là tình yêu. Tập thơ cho thấy độ chín trong ngòi bút, từ tư duy thơ đến thi pháp; ngôn ngữ thơ uyển chuyển, lúc phóng khoáng, nồng nàn, khi dịu dàng, mềm mại. Ngôn từ đã có sức nặng, tạo những dấu ấn cho người đọc bằng thủ pháp nghệ thuật đan xen sự chân thành, dễ dàng tạo sự thấu cảm giữa những tâm hồn đồng điệu.


Bìa tập thơ “Mật ngữ em” của Phạm Phương Lan.

Dĩ nhiên với người đẹp bao giờ cũng là thơ tình đi trước. Người hồng nhan, tình yêu thường buồn nhiều hơn vui, thơ Phạm Phương Lan, vì thế cũng đầy những hư hao, khắc khoải, những nồng nàn dấu yêu và mất mát, chia lìa.

Mở đầu tập thơ, Phạm Phương Lan cho ta thấy một tình yêu đang độ nồng nàn. Ngày mới đến thật xanh, điều gì khiến nàng lật tung cả những ngày, tóc, buổi sáng, em và tôi?

“Lật tung ngày hôm qua

em tìm một vần thơ mới

lật tung từng sợi tóc mây

năm ngón ngắn dài mỏng miết

lật tung buổi sáng hôm nay

ngực thơ nõn nà đồng vọng

lật tung

em và tôi

khát thèm

cuồng vọng” (Khấp khởi ngày xanh)

Câu trả lời đã rõ. Mũi tên của thần tình ái lao đi. Và người đó hiện ra. Và ngời ngời hạnh phúc. Và chất ngất nhớ nhung:

“Anh mỉm cười từ trong từng nếp nghĩ

từng nụ cười

dáng đứng của em

anh mát lành hệt như sương đêm

dịu dàng, mơn man như gió

thần tình yêu ơi

ta hận người

bắt ta nhớ anh” (Anh – Lời yêu sương đêm)

Không phải người đàn bà đẹp nào cũng truân chuyên, nhưng hiếm người đàn bà đẹp có tình yêu lặng sóng. Phạm Phương Lan trời cho nhan sắc thì cũng lấy đi nhiều sự bình yên trong cuộc đời. Và cũng công bằng, trả lại cho Phạm Phương Lan được làm thơ. Nên những bài thơ đó cũng quyến rũ, đa đoan, đường nét lúc phô bày khi ẩn giấu, thấp thoáng những triền mơ.

“Ừ sóng cứ lao xao

nỗi nhớ anh lõa thể

chỉ lòng em dâu bể

chiều ngưng trôi hoang tàn

nỗi nhớ anh cũng thể

tỏa hương chiều hoang mang” (Nỗi nhớ lõa thể)

Tựa đề bạo dạn, tâm ý phóng khoáng, lời thơ đẹp. Lõa thể đặt trong ngữ cảnh này như ta hình dung một bức chân dung tuyệt tác của các danh họa. Nhưng phơi bày ra bởi sóng tràn qua, sóng đánh cuốn đi những gì em muốn giấu, muốn cất giữ riêng anh trong nỗi nhớ. “Lòng em dâu bể, chiều ngưng trôi hoang tàn”, để rồi “tỏa hương chiều hoang mang”. Phải yêu đến thế nào mới có những dòng thơ viết như lên đồng, đẹp một cách hoang dại, cho người đọc cũng rối bời, hoang mang.

Thơ Phạm Phương Lan có rất nhiều nỗi nhớ. Trong chập chờn tỉnh mê, thương nhớ ngập tràn, có lời cất lên như một khẩn cầu. Đâu rồi người đẹp kiêu sa, hay đã quên mình đi để nhớ người trọn vẹn?

“Em có được buồn không

khi lòng tái tê nỗi nhớ

muốn gào thét một cái tên mà sao không thể

anh trôi như áng mây trời

chúng mình xa nhau vừa bằng tiếng nấc

nghẹn ngào rơi giữa thinh không”

Cũng tiếng nấc ấy, rơi giữa trời mà vang vọng:

“Xin đấng chúa trời cứu rỗi hiện sinh

cho em được quên đi tháng ngày trìu mến

cho phút giây trong nhau hòa quyện

chỉ còn là khoảng trống hư không” (Xin người đừng lặng câm)

Thơ Phạm Phương Lan không có những tuyên ngôn hay dài dòng đa sự. Thơ cũng như tình yêu, có lý lẽ riêng và có cả những ngập tràn phi lý. Nhưng có hề chi khi cứ dại khờ, yêu không toan tính. Có rất nhiều những tình yêu như phương trình vô nghiệm, bài toán không đáp số, khu rừng không lối ra mà vẫn đắm đuối đời người. Yêu là yêu, thế thôi. Thế thôi mà xa xót, đắng cả một đời.

“Người chở nụ cười về đâu

mây trời lập trình u ám

ta vũ vần không giới hạn

buồn rơi, vô nghiệm cuộc tình”

Biết là vô vọng mà vẫn mong chờ, khắc khoải:

“Người chở giùm ta màu nắng

về phía bảy sắc cầu vồng

người chở giùm ta màu xanh

về phía chân trời hy vọng” (Tình vô nghiệm)


Nhà thơ Phạm Phương Lan.

Những câu thơ đẹp và buồn. Khác với không ít người làm thơ thích trưng trổ nỗi buồn, như một trang sức, Phạm Phương Lan chọn cách đi bên nỗi buồn, đi cùng nỗi buồn. Trong thơ Lan, nỗi buồn lặn vào hay khúc xạ, trầm tích hoặc lấp lánh, đôi khi như chấm sáng nhỏ trong đêm, cánh chim cuối trời, người đọc vẫn nhận ra, đồng cảm, sẻ chia với nhà thơ. Cái buồn từ trong ra ngoài, từ ngoài thấm vào trong, buồn như một bản năng, thuộc tính, nhưng là cái buồn sâu lắng, dịu dàng. Soi mình trong nỗi buồn nên dường như câu thơ trong veo hơn.

“Chẳng cần buồn ngày hôm qua

đắng cay đừng nhớ

chỉ cần biết trong tôi

em là viên ngọc bích

nhiệm màu” (Nụ cười thênh thênh)

Phạm Phương Lan tự sự về mình một cách nhu mì, một lời thưa nhỏ nhẹ, một phác thảo chân dung. Không kiêu sa, khoảng cách vừa đủ, lửa trong mưa vừa ấm, nụ cười an nhiên:

“Không khái niệm mùa hoa, màu sắc cứ rong chơi

em thuộc về miền thiểu số

người đàn bà thơ ẩn trú trong em như cơn gió

du dương thổi suốt bốn mùa

em thắp đèn, nhóm lửa trong mưa

thổi bạt giá băng lòng ai bão nổi

gieo ngọn nguồn yêu thương, chờ bình yên ngày mới

khoe nụ cười từ trong trái tim đau” (Người đàn bà đa đoan)

Lúc này, người đàn bà thơ lên tiếng, sau những lời như giãi bày nhỏ nhẹ lại là thông điệp có phần mạnh mẽ, như thêm một lần xác tín nữ quyền. Những nhan sắc thanh tao, với trái tim đầy những vết cứa cuộc đời vẫn chất chứa yêu thương. Những người đàn bà làm thơ có quyền tự hào và tự tin bước qua những thác ghềnh:

“Vâng, chúng em

những người đàn bà rong chơi

đã hơn nửa đời cuốc cày trên cánh đồng chữ nghĩa

gia tài lận lưng mỗi đứa chỉ dăm ba cuốn sách dâng đời làm mật ngữ

thừa nửa mảnh đời không biết ghép vào đâu

những người đàn bà không biết lả lơi

chỉ quắt quay thương tiếng à ơi phận bạc

cùng nắm tay nhau vượt qua ghềnh thác

rắt réo dập vùi miệng thế gươm đao” (Phơi khô muộn phiền)

Xưa Quang Dũng với “Đôi bờ” từng viết “Thoáng hiện em về trong đáy cốc/ nói cười như chuyện một đêm mơ”, thì nay trong đáy cốc của Phạm Phương Lan là vầng trăng tan:

“Ta ngỡ ngàng chẳng biết vì đâu

Trăng đã tan vùi đáy cốc

Rượu nhạt rồi mà môi em mím chặt” (Thừa ta cạnh đêm rằm)

Chiếc cốc ấy đã rơi, rượu đã không còn. Thêm một cuộc tình đổ vỡ, chia ly, không thể cứu vãn:

“Em đàn bà

đã bao lần vụn vỡ

nỗi đau này là vết rạn mà thôi

anh được gì khi tim em tan vỡ

được những gì ngoài nước mắt em khô?” (Tầm gai thay áo)

Nhưng không thể mãi than van, tiếc nuối. Dù có nghe dư vị chát đắng song qua những câu lục bát nhuần nhị này, đã dặn lòng phải bình tâm, dứt khoát ngẩng cao đầu mà bước:

“Từ ngày người bỏ vào thương

dăm ba nhỏn mặn, một lường chát chua

đảo điên dậu nát, màn thưa

thì coi như nợ đã vừa tính xong” (Thả gió đi rong)

Trong hành trình tiếp diễn của đời người, đôi khi lại dắt đưa về những miền ký ức. Buồn hay vui, hạnh phúc hay khổ đau thì cũng đã đong đầy, theo thời gian sẽ rêu phong, mờ dấu. Trong buổi chiều nào đó, gót hồng ngược miền gió, ngược vệt nắng, ngược bãi sông, để rồi:

“Ngược về ngày tháng bên nhau

trăm lần xác xao vụn vỡ

chòng chành vạt trời hương nhớ

ngược lòng huơ hoác sương mờ” (Ngược em)

Cứ thế, “Mật ngữ em” dắt đưa người đọc vào thế giới thơ Phạm Phương Lan để lắm khi thấy lòng ngổn ngang và “huơ hoác sương mờ”. Bên cạnh những tứ thơ táo bạo, lời thơ đắm say, những nỗi niềm đằm thắm, nhà thơ còn có những suy tư về đời một cách sâu sắc. Điển hình như bài thơ dưới đây về đại dịch Covid-19. Phải qua những thảm họa như đại hồng thủy hay những đại dịch, nhân loại mới nhận ra nhiều điều đã lãng quên hay xem nhẹ trong cuộc sống; những giá trị cũ và mới được nhận diện, con người sẽ phải thay đổi cách sống, nhìn về cuộc sống bằng đôi mắt khoan dung và lượng thứ hơn. Sau chiếc khẩu trang là những con người, kẻ xấu người tốt, ai rồi cũng phải lìa xa cuộc sống, ai cũng chỉ có một cuộc đời để sống. Một dấu lặng Phạm Phương Lan để lại cho người đọc tự suy ngẫm và đồng cảm với nhà thơ.

“Trong cái hỗn mang thời bệnh dịch

tôi nhận ra mặt người qua chiếc khẩu trang

sau chiếc khẩu trang ai người lầm lũi

ai cách ly ai, ai hờn tủi trách đời

ai chữa trị cứu người chẳng kịp nghỉ ngơi

ai đắng cay vung tiền bỏ mạng

thời dịch bệnh, lòng ngay gian lột trần như ban sáng

dẫu chiếc khẩu trang che kín mặt người

ai cười, ai khóc, vinh nhục ai ơi

ai nào khác ai sau ba tấc đất” (Sau lớp khẩu trang)

Trong chừng mực nào đó, thơ cũng là cứu rỗi. Thơ đem lại sự cân bằng sau những chênh chao, bình yên sau đổ vỡ. Thơ như một nơi an trú đầy tin cậy, để tâm thế như nhiên. Và người đàn bà đa đoan như Phạm Phương Lan tự nhận vẫn cùng thơ đi bên nỗi buồn, vẫn là người đàn bà thơ kiêu hãnh. Sự tự tại của tâm hồn như một lời nhắc, bởi lời yêu chưa cạn.

“Vượt đau khổ úa nhàu

vẽ vào cao xanh bồng bềnh trắng muốt

chấm đôi mắt nhung huyền thảng thốt

bật tiếng khóc, cười, sướng, khổ nhân gian” (Người đàn bà đa đoan)

Và đâu đây ta nghe tiếng cười, đủ để vui trở lại, để tiếp tục cho đời những câu thơ đẹp:

“Cuộc đời bến đỗ nơi nao

hờn ghen chi phận má đào tơ duyên

phơi khô cho hết muộn phiền

nụ vui khanh khách đầy phiên chợ đời”.

TP HCM, thu 2021

B.P.T

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm