TIN TỨC

Làng quê của một hồn thơ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-09-22 23:26:56
mail facebook google pos stwis
1604 lượt xem

Nhà thơ, cựu chiến binh Trần Quang Quý từng tham gia chiến đấu ở Khu 4 và trên chiến trường miền Tây Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Nhà thơ Trần Quang Quý (1955 – 2022)

Sau khi giải ngũ, ông đã trải qua nhiều công việc: Phóng viên, Tổng biên tập báo, Phó giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội… Ông từng nhận được một số giải thưởng văn chương uy tín, như: Giải nhì thơ Tạp chí Văn nghệ quân đội; 2 lần đoạt giải thơ tuần báo Văn nghệ; 2 lần được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam… và đặc biệt là Giải thưởng Nhà nước về Văn học-nghệ thuật năm 2016…

Gia tài văn chương của Trần Quang Quý chủ yếu là thơ. Trần Quang Quý rất ít khi đăng đàn lập ngôn về thơ cách tân, thơ đổi mới hay thơ hậu hiện đại, tân hình thức, hiện thời plus… Có lẽ ông thích sống thơ, thở thơ, thức thơ và ngủ cũng thơ, hơn là cao đàm khoát luận về thơ. Ông có mối bận tâm của riêng mình trong tư cách một nhà thơ đích thực. Trong hầu hết các diễn đàn về thơ, Trần Quang Quý dường như chưa bao giờ nói bất cứ điều gì về thơ mình. Thơ của ông hay, dở ra sao, thuộc khuynh hướng, trường phái nào là việc của công chúng tiếp nhận, của các nhà lý luận, phê bình văn học và thời gian. Chính ông đã từng chia sẻ: Tôi ăn ngủ chữ, tháp tùng chữ bước vào những số phận/ những ngóc ngách cuộc đời, những giao thoa chưa cất thành lời/ những cuộc phối sinh ngữ nghĩa/ và khi ấy, những con chữ như không còn là chữ/ hồn chữ thiên di/ vương quốc chữ tự do bay ngoài trang sách (Đời chữ).

Thơ Trần Quang Quý có một giọng rất riêng, khó trộn lẫn với bất cứ ai dù họ thuộc thế hệ nào. Phần lớn thơ ông có xuất phát điểm là tình yêu đã trở thành nỗi khát thèm thường trực với quê hương, đất nước; với những người nông dân cần cù “một nắng hai sương“, suốt đời “bán mặt cho đất, bán lưng cho giời” ở miền đất nghèo trung du Phú Thọ quê ông cũng như các miền quê khác, nơi ông từng có dịp đặt chân đến. Có thể nói cảm thức làng là mạch nguồn xuyên suốt trong các tập thơ của ông, như: Con đường chiều quê xiêu xiêu gánh rạ/ Thăm thẳm bờ đê dốc hun hút gió/ Cối trầu trong khuya cầm canh đèn đỏ/ Cựa mình hạt ơi!/…/ Ta nghe sương rơi ta nghe mưa rơi/ Mà nghe mẹ thở nghẹn từng âu lo (Hát gọi hạt giống). Hoặc: Lớp gạch già lõm mặt/ Cánh cổng lăn kẽo kẹt đời người/…/ Thế giới vào làng luồn mái tam quan/ Có bầy chim cắp mùa lên tổ/ Có những nỗi đời lót trong rơm rạ/ Có một nỗi lòng giắt một nỗi quê/…/ Cổ tích làng tôi đựng trong chiếc mủng/ Mẹ bưng tháng năm lệch ngõ/ Bưng những hạt thóc lép đi qua cơn gió/ Bưng những nỗi đời đi giũ ở bờ sông (Cổ tích làng) v.v…

Với một người suốt đời đau đáu nỗi làng, thương những người thân yêu của mình nơi làng quê, cũng như những người nông dân ở các làng quê Việt Nam khác như thương chính bản thân, thì thơ viết về làng của Trần Quang Quý không còn là thơ theo nghĩa thông thường nữa, mà là máu tim ông chắt ra, âu cũng là xương thịt làng của ông vậy. Làng và người nông dân sống ở những ngôi làng ấy trong thơ Trần Quang Quý, dứt khoát không phải là cái cớ hời hợt, thoáng qua, cho những kẻ si tình à ới thành câu, ghép vần, tạo nhịp… Trái lại, làng và người làng, thực sự đã là một phần máu thịt của cuộc đời ông. Làng trong niềm vui được mùa, bưng bát cơm trên tay mà chan đầy mồ hôi và nước mắt. Làng bị quăng quật, bằm dập trong ngày ba tháng tám, khi giáp hạt, những lúc thiên tai nước trắng mặt người, nhưng muôn đời làng vẫn cứ tồn tại trong cái bản thể của nó. Người dân làng trong thơ ông là: Tất cả cùng hái gặt trên cánh đồng này/ Và cánh đồng đã gặt hái họ.

Làng trong thơ Trần Quang Quý vừa thân quen, gần gũi, mộc mạc, thuần phác như bao làng quê truyền thống của Việt Nam, vừa đầy thân phận. Viết về sức sống làng một cách có ý thức và bền bỉ hàng chục năm trời mà không hề ngẫu hứng, bột phát nhất thời, không bị lặp lại chính mình là một việc khó. Làng trong thơ Trần Quang Quý được nâng lên ở một tầm cao mới trong chiều sâu nhân bản của nó: Làng đã đóng đinh tôi vào cánh cửa/ Mỗi ngày khép mở giữa câu thơ. Hay: Cổ tích làng tôi đựng trong chiếc mủng/ Mẹ bưng tháng năm lệch ngõ/ Bưng những hạt thóc lép đi qua cơn gió/ Bưng những nỗi đời đi giũ ở bờ sông…

Rõ ràng làng trong thơ Trần Quang Quý không đơn giản chỉ là một vùng đất cho những người nông dân quần cư, rồi sinh con, đẻ cháu; cũng không đơn giản là một mẫu số chung chỉ về một số nét văn hóa nào đấy mà người ta có thể chỉ mặt đặt tên được. Làng trong thơ ông như một thực thể tồn tại có thân phận hẳn hoi, một thân phận tổng thể và tổng hòa những thân phận cá nhân và những mối quan hệ xã hội của những người nông dân Việt Nam được chưng cất lên từ hàng ngàn năm lịch sử và được định vị lại trong tấm căn cước vĩnh cửu qua thơ của Trần Quang Quý: Lớp gạch già lõm mặt/ Cánh cổng lăn kẽo kẹt đời người. Hay: Có những nỗi đời lót trong rơm rạ/ Có một nỗi lòng giắt một nỗi quê…

Vậy nên làng tồn tại trong thơ Trần Quang Quý không chỉ dừng lại ở cấp độ ý thức của một công dân làng, mà còn tồn tại cả trong vô thức của một thi sĩ sinh ra từ làng. Chính cái vô thức ấy mới là phần rường cột, căn cốt tạo nên một phong cách thơ mang đậm chất Trần Quang Quý mà chúng ta từng đọc. Theo ý kiển chủ quan của tôi, cảm quan làng, hình bóng làng, tâm thức làng và giá trị làng là tất cả những gì làm nên một Trần Quang Quý nghệ sĩ đích thực về làng và của làng. Có thể nói, không phải Trần Quang Quý làm thơ về làng mà chính làng làm nên thơ Trần Quang Quý.

Từ làng quê mở rộng ra đất nước. Người đọc bắt gặp những lần ngược miền Tây Bắc, nhà thơ cũng đầy hứng khởi, say sưa chia sẻ tận đáy lòng những buồn vui, cảm nhận của mình trước một thiên nhiên hùng vĩ của non nước Việt Nam: Nào rượu nào rượu, ta với sông Đà!/ Nâng một chén nghìn sau còn chảy (Uống rượu với sông Đà). Rồi: Vạm vỡ ngực núi/ Tây Bắc nắn ánh mắt ta thành những gợn sóng/ Tây Bắc nắn cảm giác ta xoáy những vòng váy lượn/ Em hây hẩy núi đồi/ Ngựa chùng chân quỳ gối/ Lam khói lên. Lam khói biếc ta rồi… (Nhớ một chiều Tây Bắc). Khi vào đến tận miền Tây sông nước Nam Bộ, Trần Quang Quý vẫn mang theo đủ đầy sự hứng khởi vừa vạm vỡ, vừa tinh tế của một tấm lòng sẻ chia, một tâm hồn nhạy cảm. Có thể nói trong thơ Trần Quang Quý, mỗi vùng đất, miền quê ông từng đặt chân tới đều có nhiều cái để ta đáng yêu, đáng quý, nhưng cũng không ít điều khiến nhà thơ phải suy tư, trăn trở. Với một nội lực sáng tạo như ông, ở đâu, cái gì cũng đều có thể trở thành đề tài cho vần thơ cất cánh và tỏa sáng.

Làng quê trong thơ Trần Quang Quý tuy không mới, nhưng đã không lặp lại cảm quan thẩm mỹ nghiêng về tính chất ngợi ca; bởi ông đã nhìn thấy ở những người nông dân từ xa xưa cho đến tận hôm nay như một thực thể tồn tại trong sự vận động đa chiều với nhiều sắc màu của thân phận dưới một cảm quan thẩm mỹ mới. Đấy chính là nỗ lực vượt qua rào cản của cái cũ và vượt qua chính mình để Trần Quang Quý có được những thành công về thơ cách tân trên cơ sở truyền thống dân tộc mà vẫn rất hiện đại. Giải thưởng Nhà nước mà ông vừa được trao tặng đợt IV, 2016 vừa rồi là một minh chứng sinh động nhất ghi nhận những đóng góp của ông trong tiến trình đổi mới thơ ca nước nhà.

Ngày 10.1.2018

ĐỖ NGỌC YÊN/VANVN

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm