TIN TỨC

Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-11 21:20:46
mail facebook google pos stwis
887 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Trong chương trình Ngữ văn lớp 10, tập 1 của bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” nhóm biên soạn có đưa chùm thơ Hai - cư với ba bài thơ vô đề của ba nhà thơ - ba thiền sư nổi tiếng Nhật Bản: Basho, Chiyo và Issa. Mỗi bài thơ Hai - cư đều phản ánh tâm hồn người Nhật - tâm hồn ưa thích hòa nhập với thiên nhiên.

Tiếp cận và tìm hiểu ba bài thơ này, bên cạnh niềm vui khi được thưởng thức một “đặc sản thi ca”, tinh hoa tinh thần của con người Nhật Bản thì điều hấp dẫn, ấn tượng đầu tiên đối với độc giả khi tiếp xúc chùm thơ Hai – cư là ở: hình thức kiệm lời và hình ảnh giàu sức gợi.

Về mặt hình thức ngôn ngữ, thơ Hai – cư có hình thức ngắn gọn, cô đọng (cả bài chỉ 17 âm tiết, ngắt thành 3 đoạn 5-7-5). Nguyên bản tiếng Nhật chỉ có một câu thơ ( Dòng 1: Giới thiệu; Dòng 2: Tiếp tục ý trên và chuẩn bị cho dòng 3; Dòng 3: Ý thơ kết lại nhưng không rõ ràng, mở ra những suy ngẫm, cảm xúc cho người đọc ngân nga, lan tỏa).

Với hình thức này, người đọc sẽ rất dễ dàng tìm hiểu, khám phá từng câu thơ, bài thơ ( ở đây, người đọc căn cứ vào bản dịch thơ của Nhật Chiêu). So với một số bài thơ với các thể thơ khác, có số tiếng và số câu thơ dài hơn thì việc tìm hiểu, khám phá văn bản sẽ có những khó khăn nhất định. Nghĩa là độc giả vừa tiến hành cùng một lúc cả hai quá trình: đọc và cắt nghĩa từng từ ngữ, từng câu rồi mới khái quát và rút ra ý nghĩa của toàn bộ câu thơ. Còn ở đây, với bài thơ của Basho thì chỉ cần đọc một hay cả bài thơ, người đọc bước đầu cũng có thể hình dung phần nào nội dung của cả bài thơ một cách nhanh nhất, dễ dàng nhất. Đây được xem là bước quan trọng và là một thành công làm nên sức hấp dẫn của thể thơ này. Phải chăng, hình thức này cũng chỉ là một minh chứng trong tư duy của người Nhật -  hướng tới sự tối giản nhất có thể. Cố nhiên với thơ, điều này cũng nằm trong tư duy ấy. Thơ vì vậy không cần quá cầu kỳ về hình thức, vừa tiết kiệm được ngôn từ, lạ vừa đảm bảo được nội dung, ý nghĩa mà họ muốn truyền tải qua thi phẩm.

Như trên đã đề cập, điều hấp dẫn của thơ Hai - cư là về mặt hình thức cô đọng ngắn gọn. Nhưng bên cạnh đó, một yếu tố nữa cũng làm nên sức hấp dẫn của thơ Hai - cư chính là hình ảnh thơ. Hình ảnh thơ có vai trò quan trọng trong việc truyền đạt nội dung thơ. Hình ảnh thơ là phương tiện đã được các nhà thơ tinh tuyển. Dĩ nhiên, hình ảnh thơ ở đây, được hiểu là hình ảnh trung tâm, là hình tượng thơ, cốt lõi ở mỗi bài. Thơ Hai - cư không cầu kỳ trong việc lựa chọn hình ảnh thơ như thơ Đường - Trung Quốc, mà ngược lại, hình ảnh trong thơ lại mộc mạc, tự nhiên nhưng không kém phần tinh tế, chuẩn xác. Có cảm giác dường như mỗi hình ảnh đều được các nhà thơ chọn lọc ngoài thế giới tự nhiên nhưng lại không làm cho người thưởng thức biết được sự chọn lọc có ý đồ đó một cách lộ liễu, công khai. Rồi cũng từ hình ảnh này lại trở thành hình tượng nghệ thuật. Sự tài tình của những nhà thơ, thiền sư chính là ở chỗ đó chăng?.

Trong bài thơ của Basho tác giả viết: “Trên cành cây / cánh quạ  đậu / chiều thu”, hình ảnh trung tâm trong bài thơ này không gì khác chính là hình ảnh: “cánh quạ”. Đây là một hình ảnh quen thuộc trong thi ca cổ điển. Chỉ với một hình ảnh “cánh quạ đậu” đã  gây ấn tượng thị giác đối với người đọc. Điều này đã gợi lên bao nhiêu sự liên tưởng thú vị, độc đáo. Thông thường, “cánh chim” là thi liệu cổ điển thường báo hiệu thời gian là buổi chiều sắp tàn, tối bắt đầu nhe nhóm. Theo đó, ở đây, có thể hiểu “cánh quạ” có màu sắc đặc trưng là màu đen, vì vậy hình ảnh này phù hợp với thời gian của buổi chiều thu. Đây là thủ pháp chỉ gợi chứ không cần tả hay diễn giải của thơ Hai - cư. Cũng từ hình ảnh này, người đọc tiếp tục bắt gặp hình ảnh thứ hai, đó là: “Trên cành khô”. Tại sao không phải là: “Trên cành tươi” mà lại là “trên cành khô”, phải chăng “cành khô” là cành không còn sự sống, không còn sự phát triển của cây cối?. Bỗng nhớ tới câu thơ mà sau này nhà thơ Huy Cận ở bài Tràng Giang đã viết: “ Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Thêm nữa “cánh quạ đâu” chứ không còn là “con quạ đậu”. Rõ ràng hình ảnh này, cũng gợi lên cho độc giả nhiều suy ngẫm, liên tưởng. Hai hình ảnh: “Cánh quạ đậu” “ trên cành khô” là hai hình ảnh dễ bắt gặp ở ngoài tự nhiên. Một điều độc đáo nữa là hai hình ảnh trên còn có mối liên hệ với không gian của buổi chiều thu. Nên vì lẽ đó, đã gợi lên một không gian chiều thu vắng lặng, đơn sơ, nhẹ nhàng. Rõ ràng, sự tương phản của thân hình đen muội nhỏ xíu của con quạ với bóng tối bao la, vô định của buổi chiều hôm. Trên cành khô quạ đậu và chiều thu là hai phần hoàn toàn độc lập, tương phản với nhau. Một bên nhỏ hẹp, hiện hữu, một bên rộng lớn, mơ hồ. Mọi vật thể đối lập ấy đã tạo thành một chỉnh thể, một bức tranh hoàn chỉnh: trên cái nền hoang vắng mơ hồ của buổi chiều thu, nổi bật lên hình hài màu đen của một chú quạ đậu trên cành khô.

Như vậy, hình ảnh trong bài thơ của Basho có lẽ phần nào thể hiện tâm cảm thi nhân mặc dù nó như chi được chớp lấy trong một ánh nhìn, một không gian, thời gian nhất định. Bài thơ mang nỗi buồn của buổi chiều tà, của lúc tàn thu, sự ngưng đọng, lặng im của cảnh vật. Giống như mọi bài thơ Hai-cư khác, cái tôi thi nhân không bao giờ xuất hiện trong thi phẩm nhưng từ những gì nhà thơ gửi gắm sẽ khởi sự cho trí tưởng tượng vô biên của độc giả.

Sang đến bài thơ của Chiyo: “ Ôi hoa triêu nhan! / Dây gàu vương hoa bên giếng / Đành xin nước nhà bên”, hình ảnh trung tâm là “hoa triêu nhan” và “dây gàu bên giếng”. Hai hình ảnh của những bông hoa triêu nhan tím đang quấn chặt vào sợi dây gàu bên giếng. Cùng nhau tồn tại, cùng nhau làm nên vẻ đẹp dịu dàng, kín đáo. Có thể nói, hai hình này thật gần gũi, bình dị, không cao sang quý phái như hoa cúc, hoa mai, mà dường như, chính sự bình dị ấy đã cộng hưởng vào nhau trong một bài thơ khiến cho bài thơ trở nên trong sáng, thuần khiết hiếm có. Cũng thông qua hai hình ảnh trên, người đọc nhận ra rằng: Trước cái đẹp, trước sự sống, nhà thơ nâng niu, trân trọng, không nỡ làm tổn thương nên bà chọn giải pháp “xin nước nhà bên”, để sự sống và cái đẹp được hiện hữu. Đây chính là tinh thần ý tại ngôn ngoại, lại cũng chính là sự vô ngôn của Thiền và là tính nhân văn của Phật giáo. Cần phải có một nội tâm tĩnh lặng, một tính cách dịu dàng và hơn cả là một tình thương lớn, một tấm lòng trắc ẩn lớn mới có cách hành xử như vậy. Một đóa triêu nhan mỏng manh làm tỏa sáng một tình thương mênh mông và cảm động.

Cuối cùng là bài thơ của Ít – sa: “chậm rì, chậm rì/ Kìa con ốc nhỏ/ Trèo núi Phu – gi”, hình ảnh nổi bật trong bài thơ là hình ảnh: “Con ốc” và núi “Fu-ji”. Hình ảnh “con ốc” gợi lên hình ảnh một con vật nhỏ bé, chậm chạp, sống thụ động. Còn “Núi Fu-ji” là một ngọn núi nổi tiếng ở Nhật Bản, nó gợi lên sự hùng vĩ, tráng lệ của tự nhiên. Câu thơ thứ hai “Kìa con ốc nhỏ” thể hiện cái nhìn ngỡ ngàng trước sự  xuất hiện nhỏ bé, bình dị của chú ốc nhỏ. Trạng thái “chậm rì” được đảo lên câu thơ đầu để nhấn mạnh trạng thái, đặc điểm của chú ốc bình dị nhỏ bé ấy. Câu thơ thứ ba “Trèo núi Fuji” chỉ có ba chữ tái hiện hình ảnh ngọn núi Phú Sĩ - biểu tượng Nhật Bản. Hình ảnh chú ốc sên nhỏ trèo chầm chậm lên núi Phú Sĩ - ngọn núi cao bậc nhất Nhật Bản.

Bài thơ của Is - sa ngắn gọn súc tích, với hình thức độc đáo đã truyền tải thông điệp mang đầy tính nhân văn đến người đọc. Trên thực tế cuộc sống, mỗi người đều là chú ốc nhỏ bé bình dị nhưng đều ấp ủ một giấc mơ cháy bỏng của riêng cuộc đời mình. Sức mạnh nội tại của chính bản thân chúng ta là nguồn sức mạnh động lực để thúc đẩy đưa chúng ta lên đến đỉnh cao của cuộc đời mình. Nếu như chú ốc sên khát khao chinh phục núi Phú Sĩ thì mỗi người đều có một đỉnh cao của cuộc đời mình mà muốn chinh phục. Điều mà chúng ta cần làm đó chính là luôn luôn cố gắng không ngừng nghỉ trên hành trình, nỗ lực hết sức mình trên hành trình chinh phục lý tưởng sống của mình. Ta có thể đi chậm hơn so với người khác nhưng điều quan trọng đó chính là ta không ngừng lại mà luôn nỗ lực, kiên trì đến cùng với ước mơ của mình. Đó chính là điều làm nên ý nghĩa của cuộc sống của chúng ta.

Như vậy, chùm thơ Hai - cư đều ngắn gọn về hình thức, sử dụng hình ảnh ẩn dụ của con vật, cây cối tự nhiên, giàu sức gợi. Trên hết, mỗi bài thơ đều truyền tải thông điệp sâu sắc, triết lý, đầy nhân văn sâu sắc, ý nghĩa về cuộc sống. Thơ Hai-cư đã rời cách đây hơn 400 năm, tuy vậy, sức hấp dẫn của thể thơ này vẫn còn nhiều điều cần khám phá. Vẻ đẹp của thể thơ này luôn mời gọi người đọc cùng thưởng thức. Chính vì lẽ đó, thơ Hai - cư chắc chắn sẽ còn mãi một vị trí quan trọng trong thi ca nhân loại. Thơ Hai – cư xứng đáng một thế giới huyền diệu, dĩ nhiên, mỗi bài thơ là một điệu huyền xao xuyến, bâng khuâng.

Đoàn Văn Hân

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm