TIN TỨC

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-19 17:30:24
mail facebook google pos stwis
1215 lượt xem

NGÔ MINH OANH

Vũ Thanh Hoa, Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là một cây bút có bề dày thời gian viết. Ngay từ năm 2006, chị đã cho in tập thơ đầu tiên Nỗi đau của lá (NXB Hội Nhà văn) và 10 năm sau đó, năm 2015, tác phẩm thứ 5 của chị ra đời với cái tên Lục bát phố (NXB Hội Nhà văn). Chị đã gặt hái được nhiều giải thưởng về văn học. Tiếp theo là một hành trình lao động nghệ thuật thầm lặng để rồi 10 năm sau đó, năm 2025, chị đã làm nên một dấu ấn đặc biệt: cùng lúc cho xuất bản 3 tập thơ, lấy các từ trong họ, tên và chữ lót của mình để đặt tên cho các tập thơ, mà tập nào cũng dày dặn, tổng cộng lên tới 162 bài thơ.

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa và tập thơ Thanh.

Tôi được phân công viết về một tập trong 3 tập thơ đó, nhưng thực sự phân vân vì không thể nhìn nhận chính xác về một tập thơ nào khi chưa đọc hai tập thơ kia. Và thế là tôi đã đọc hết cả 3 tập thơ của Vũ Thanh Hoa với những bài thơ viết lâu nhất đề ngày 16.11.2007 đến bài gần đây nhất đề ngày 19.7.2025, một quãng thời gian dài 18 năm. 18 năm với biết bao biến cố cuộc đời của một người phụ nữ, một nhà thơ. Với Vũ Thanh Hoa, “Thơ là tiếng hát của số phận”, cũng như một câu trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã từng viết: “Một lời là một vận vào…”. Không biết có phải là một sự ngẫu nhiên trùng hợp, mà những bài thơ được tác giả sắp xếp theo trình tự thời gian nhưng nội dung của mỗi tập thì rất phù hợp với tên của nó. Mỗi tập có sự liên kết với tập khác, nhưng lại có nội dung và “tiếng hát” riêng của mình.

Xuyên suốt 3 tập thơ là sự kiêu hãnh của một người đàn bà đẹp, khao khát yêu thương, khắc khoải đợi chờ, đớn đau, thất vọng, tin yêu và khát sống, vươn lên… Đó là những cung bậc ẩn chìm trong những trang thơ. Vũ Thanh Hoa viết chắc tay, dường như xuyên suốt, ổn định về phong cách và những nghĩ suy, trăn trở về tình yêu, về cuộc sống. Nếu có một cái nhìn khái quát, sâu sắc và cụ thể hơn thì thấy rõ sợi dây liên kết giữa các tập thơ và cũng thấy được sự khác biệt rất riêng của từng tập thơ. Nếu có thể ví von như thời tiết, thì Vũ là một mùa đông gió mưa lạnh lẽo, đơn côi; Thanh như mùa thu lắng lại, yên ả hơn để chuẩn bị cho một mùa Hoa ấm áp.

Đầu tiên là nói về Vũ. Tập thơ Vũ/Mưa như tên gọi của nó, bên cạnh “sự kiêu hãnh của một người đàn bà đẹp, khao khát yêu thương” là chứa đựng những đớn đau, trăn trở của người thơ. Trong Vũ có thể kể ra đây tên những bài thơ, câu thơ thôi, đã nghe cuộn lên giông gió cuộc đời: bài Chữ ký: “Cầm cây bút mồ côi/Cái chữ ký đắng đót”; Đơn độc: “Từng phím dương cầm ngân nga đơn độc/em gập lại giấc mơ góa bụa”; Đi tìm: “Giật mình/tôi gặp/góc trong cùng/Một người đàn bà co ro ngồi khóc”; Sau mưa: “Con sẽ nâu suốt đời nông nổi/Đơn côi/Hát giữa lụi tàn”; Nhớ: “Đường đời dích dắc/Thả nỗi buồn loang sóng mồ côi”; Nhọ nhem: “Nghĩa địa/Em hoảng hốt gọi mình/Chiếc bóng mồ côi”; Bóng trắng: “Em nhìn ngơ ngác/Nhặt những nỗi đau rụng trắng trên đường…”

Bão bùng của gió mưa bám riết cuộc đời người viết. Tưởng yêu thương, niềm tin đã rạn vỡ đến tận cùng, nhưng từ trong nỗi đau, con người đã tỉnh thức để lắng lại, tìm ra một lối đi mới của riêng mình. Những điều đó được thể hiện rõ trong tập thơ Thanh, phải chăng như chủ đề của tác giả ngày hôm nay, tập thơ bắt đầu thấp thoáng “một người đàn bà khác”.

Trong tập thơ thứ hai – tập Thanh của Vũ Thanh Hoa – có tổng cộng 54 bài (NXB Hội Nhà văn, 2025). Thơ là người, thơ là đời, hay là những “tiếng hát của số phận” như Vũ Thanh Hoa đã viết. Thơ không thể không mang dấu ấn cá nhân và hoàn cảnh sống. Vì thế không thể không nói một chút về “thân phận” của người viết để hiểu thêm, hiểu đúng những gì đã kết tinh trong những vần thơ của chị.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình gia giáo, có bố là một nhà ngoại giao nổi tiếng, từng là Đại sứ Việt Nam tại nước Cộng hòa Tanzania và 7 nước châu Phi, về sau ông làm Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Mẹ của nhà thơ là cô Nguyệt Hương, một cô gái Hà Nội gốc, từng là sinh viên ngành Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau cũng trở thành nhà ngoại giao và từng làm Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vũ Thanh Hoa là kết quả của một mối tình đẹp Bắc – Nam, giữa một chàng trai tập kết quê Long An với cô gái Hà Nội. Bản thân nhà thơ Vũ Thanh Hoa là một luật sư công tác trong ngành Dầu khí tại thành phố biển Vũng Tàu. Những dấu ấn đời và người ấy đã in bóng trong thơ chị.

Trong tập thơ Thanh vẫn còn đâu đó chao chát dư âm của nỗi buồn, nhưng nỗi buồn đã lắng lại, được “chưng cất” để có cái nhìn bình tĩnh hơn, sáng hơn về niềm tin yêu và khát vọng sống vươn lên. Cũng là điều cũ, người cũ đó thôi mà nay đã khác:

“Sự tàn nhẫn của thời gian
Sự vô cảm của không gian
Phủ định nỗi nhớ
Phản biện nỗi buồn
Anh còn dị bản trong em
Lụi tàn
Phôi sinh người đàn ông khác”.
(Phủ định)

Sau những ngày giông gió, người thơ dường như đã bình tâm hơn:

“Gió hun hút vọng về cổ tích
Nước mắt lăn trên mặt tượng
Những ngôi sao lịm dần
Bóng tối trườn qua rồi nhân bản hết bộ nhớ
Em nhìn sợi khói dích dắc bay và hát
Thản nhiên quên”.
(Thản nhiên)

Hay người đàn bà chịu nhiều mất mát đã:

“Nhìn vào gương
Chờ thời gian kẻ thêm khóe mắt
Chờ thời gian nhuộm dần màu tóc
Hát bài hát thanh xuân vĩnh cửu
Đón một mình ung dung.”
(Cho một ngày tháng bảy)

Sự ung dung, tự tại, buông bỏ những nỗi sầu muộn là kết quả của một sự nhận thức. Rồi đến một lúc nào đó, người thơ nhận ra quy luật của cuộc đời: nắng mưa, cây mọc, hoa nở, con người rồi cũng khác, và thế sao mà không thản nhiên vui, thản nhiên sống, bởi cuộc sống không thể vãn hồi:

“Ngủ đi anh
Quên những nỗi buồn
Những thớ lợn ngổn ngang
Dẫu ngày mai không bao giờ thức dậy
Hoa ngoài sân chưa bao giờ quên nở
Lũ sẻ nâu chưa bao giờ quên hát
Ngủ đi anh
Không thể vãn hồi.”
(Không thể vãn hồi)

Khi thế giới vạn vật cứ vận hành theo quy luật của nó là “không thể vãn hồi” thì ta cứ thế mà an yên sống, nhà thơ lại càng phải an yên sống. Hân hoan đón mùa xuân, đón nhận mọi điều mới mẻ. Hình dung niềm hân hoan ấy, ta như hình dung được nụ cười của người viết:

“Mở cửa chào xuân
Cất tất cả âu lo vào ngăn kéo
Trong mờ sương mùa đi rất nhẹ
Ta cũng chào một tuổi vừa qua
Cứ để cho nỗi nhớ thật thà
Thút thít khóc trong một bài hát cũ
Vu vơ cười trong giấc mơ khờ khạo
Ngày tràn tay nở bung cánh mai vàng.”
(Chào xuân)

Có một mạch chảy nữa trong Thanh mà không thể không nói. Trong 3 tập thơ của Vũ Thanh Hoa, mạch cảm xúc chủ đạo vẫn là tình yêu, khát khao, dại khờ, thất vọng, vỡ vụn, đơn côi, góa bụa… thì tập thơ Thanh là tập duy nhất có các bài thơ nói về thế sự. Các bài thơ Anh tên là gì?, Buổi sáng ở thành phố biển, Điên rồ bay… là những bài như thế.

Với những bài thơ này, Vũ Thanh Hoa đã ngước nhìn ra ngoài vùng cương tỏa của tình yêu để cảm, để nghĩ như một công dân trước thực trạng xã hội. Một cách nhìn thành phố quen mà lạ:

“Thành phố mở mắt khi còn ngái ngủ
biển co chân ngậm sóng
nhăn nheo như gái điếm tẩy trang sau lớp phấn rẻ tiền
loang lổ rọi qua tấm gương nhỏ xíu
ai biến dạng trong cửa kính xe.”
(Buổi sáng ở thành phố biển)

Hay trước những hiện tượng “ai cũng chọn việc nhẹ nhàng” nhan nhản hiện nay trong xã hội:

“Nơi nào gian nan
nơi nào hiểm trở
điểm danh hoài chẳng thấy tên anh
nơi nào trao giải vinh danh
nơi nào đánh chén
sẽ thấy mặt anh lấp ló sát màn hình.”
(Anh tên là gì?)

Hay nữa:

“Trọc phú và hành khất đổi chỗ cho nhau
quan tòa và bị cáo đổi chỗ cho nhau
Điên rồ đã mở ra cánh cửa
Logic của phi lý cất cánh và bay
bỏ lại những cái đầu tẩy não xếp hàng nhìn theo ngơ ngác.”
(Điên rồ bay)

Nhà thơ đâu chỉ xót xa, thất vọng trong tình yêu, nhà thơ còn trăn trở, buồn đau cho cả thế sự.

Vũ Thanh Hoa giỏi chọn tứ, có những cái “không đâu” mà cũng có thể triển khai thành một bài thơ chững chạc, ý tứ thâm trầm như Tay cầm gió thổi, Phơi thơ, Chênh chao, Nương bóng bay, Ơi hời… Có những điều tưởng chừng gần gũi lại được phát hiện rất mới, bất ngờ và ám ảnh:

“Em khóc không phải vì anh không trở lại
Em khóc vì mình không trở lại được ngày xưa.”
(Trong suốt)

“Những con chữ như toa tàu thất lạc
nối nhau bằng tiếng thở dài.”
(Hồi âm)

“Một ngày không anh
thế giới chẳng còn ai thức
nỗi buồn không ngủ
trơ trọi em ngồi phơi thơ.”
(Phơi thơ)

Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.

Được biết một ngày gần đây, chị sẽ hoàn thành nhiệm vụ với Nhà nước, về hưu để trở thành “tỷ phú thời gian”, chị sẽ tha hồ tung tẩy trên những trang thơ và chúng ta chờ đợi những tập thơ mới của chị, những tập thơ tiếp tục đơm hoa.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 19.5.2026.
N.M.O

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm