TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương

Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-13 09:10:50
mail facebook google pos stwis
772 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.

 

Chân dung nhà văn Tô Hoài được tác giả T.N.T tạo bằng AI

 

Nhà văn Tô Hoài (1920-2014), tên thật Nguyễn Sen, là một trong những cây bút lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Văn chương Tô Hoài giản dị, giàu chất đời sống, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và chất trữ tình…

Từ điển Văn học (bộ mới, NXB Thế giới mới, 2004, tr.1749, phần biên soạn của Nguyễn Văn Long, Nguyễn Huệ Chi) đánh giá về Tô Hoài như sau: “Năng lực quan sát và miêu tả tinh tường, sắc nhạy, vốn hiểu biết đời sống và phong tục các dân tộc khá phong phú, lối văn giàu hình ảnh và biến đổi nhịp điệu nhanh hoạt, những tìm tòi sáng tạo mới mẻ độc đáo về từ ngữ, về phương ngữ… có thể coi đó là những nét nổi bật trong sáng tác của Tô Hoài góp vào văn xuôi hiện đại Việt Nam”.

 

Truyện loài vật – triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc

Với mảng đề tài viết về loài vật, Tô Hoài để lại một trước tác vô cùng phong phú. Tác phẩm tiêu biểu viết về loài vật là Dế Mèn phiêu lưu ký (1941), viết về nhân vật chính là Dế Mèn, cùng thế giới các loài côn trùng được nhân hóa sống động. Tác phẩm kể lại hành trình trưởng thành, từ ngông cuồng đến biết sống có trách nhiệm của thanh niên buổi ấy. Trong lời NXB cuốn Dế Mèn phiêu lưu ký (NXB Măng non, 1981, tr.5) có viết: “Dế Mèn là một hình ảnh đẹp, tích cực, giàu lý tưởng trong xã hội lúc đó, khi mà các thế lực thống trị Nhật – Pháp đang siết chặt xiềng xích áp bức dân ta và trên thế giới”. “Không chịu nổi cảnh sống quanh quẩn, tù túng, tầm thường, chú Dế Mèn của chúng ta cất bước ra đi tìm ý nghĩa của cuộc đời”. Dế Mèn phiêu lưu ký đã được in ra nhiều thứ tiếng trên thế giới trước đây, như: Nga, Rumani, Ba Lan, Mông Cổ, Nhật Bản, Nam Tư, Ấn Độ, Miến Điện, Đức, Pháp… Các truyện O Chuột (1942) là truyện đồng thoại về loài chuột, khắc họa đời sống loài vật gắn với xã hội loài người. Trê Cóc (1943) kể chuyện về các loài sống dưới nước, mang màu sắc dân gian, hài hước. Ngoài ra còn nhiều truyện ngắn đồng thoại khác in rải rác trong các tập truyện thiếu nhi đều lấy thế giới tự nhiên làm không gian nghệ thuật.

 

Bìa cuốn Dế Mèn phiêu lưu ký - ảnh T.N.T

 

Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.

 

Người lưu giữ “hồn Hà Nội” qua tùy bút, bút ký

Bên cạnh truyện thiếu nhi, Tô Hoài còn được xem là bậc thầy về thể loại tùy bút – bút ký, đặc biệt khi viết về Hà Nội. Ông đã góp phần tạo nên một phong cách tùy bút hiện đại, giàu chất đời sống và ký ức văn hóa đô thị. Các tác phẩm tùy bút – bút ký tiêu biểu (đặc biệt về Hà Nội) của Tô Hoài như: Chuyện cũ Hà Nội (1994), Hà Nội trong mắt tôi (1995), Cát bụi chân ai (1992, hồi ký với nhiều trang viết sâu sắc về Hà Nội văn nghệ sĩ), Nhớ Hà Nội (nhiều bài in rải rác). Và các tác phẩm văn xuối khác như Truyện Tây Bắc (1953), Miền Tây (1967), Tự truyện (1978)… Trong đó, Chuyện cũ Hà Nội và Hà Nội trong mắt tôi được xem là đỉnh cao của thể loại tùy bút viết về đô thị.

Đóng góp về phong cách tùy bút – bút ký của Tô Hoài là rất lớn. Ông được coi là người lưu giữ “ký ức Hà Nội” bằng văn chương. Tô Hoài ghi lại nếp sống, phong tục, tiếng nói, hàng quán, phố phường Hà Nội xưa để biến nó trở thành “bảo tàng sống” của văn hóa Thăng Long. Lối viết văn của ông giàu chất tự sự kết hợp ký ức cá nhân. Ông không chỉ tả cảnh mà kể chuyện người thật, việc thật, hòa quyện giữa hồi ức riêng và lịch sử chung của thành phố. Giọng điệu trong các tác phẩm này cho thấy sự ung dung, thư thái, tinh tế và giàu khẩu khí Hà Nội. Vừa hóm hỉnh, vừa trầm tư, giàu hoài niệm. Chỉ riêng cuốn Chuyện cũ Hà Nội, trong lời giới thiệu, Nguyễn Vinh Phúc viết: “… Có thể coi là một tập điều tra xã hội học về Hà Nội thời nửa đầu thế kỷ XX bằng văn chương. Bất luận bạn đọc ở giới nào cũng có thể tìm được những điều mình cần biết mà chưa biết. Chuyện cũ Hà Nội được giải thưởng Thăng Long cũng vì lẽ đó” (Chuyện cũ Hà Nội, Tô Hoài, NXB Hà Nội, 2003, tr.10).

 

Những giai thoại thú vị về nhà văn Tô Hoài

Nhà văn Tô Hoài không chỉ để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ, mà còn có rất nhiều giai thoại thú vị về cuộc đời và sáng tác, phản ánh một cá tính nghệ sĩ hóm hỉnh, cần mẫn và gắn bó sâu nặng với đời sống.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Một, giai thoại “Dế Mèn ra đời từ… trò nghịch đất”: Thuở nhỏ, Tô Hoài sống ở làng Nghĩa Đô ven Hà Nội. Ông mê quan sát côn trùng, thường đào hang dế, nuôi dế đá nhau. Những trò chơi trẻ con ấy sau này trở thành vốn sống quý giá để ông viết Dế Mèn phiêu lưu ký. Ông từng nói vui: “Tôi viết Dế Mèn vì hồi bé nghịch đất nhiều quá”. Đây là giai thoại cho thấy tác phẩm lớn bắt nguồn từ trải nghiệm đời thường.

 

Nhà văn Tô Hoài được trao nhiều giải thưởng danh giá, như Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. Nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội (2010), Tô Hoài được trao giải “Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội” (Love for Hanoi award) – một giải dành cho những cá nhân có đóng góp nổi bật trong việc sáng tác, nghiên cứu, hay quảng bá về Thủ đô Hà Nội, bởi ông đã viết hơn 30 tác phẩm về Hà Nội và có ảnh hưởng sâu sắc tới hình ảnh, văn hóa của thành phố trong văn học Việt Nam.

 

Hai, giai thoại “nhà văn mê đi bộ”. Tô Hoài rất thích đi bộ khắp Hà Nội. Ông bảo: “Muốn viết về Hà Nội thì phải đi bằng chân, không thể ngồi bàn mà tưởng tượng”. Nhờ những cuộc lang thang ấy, ông nhớ từng ngõ nhỏ, từng quán nước, từng giọng rao. Sau này, các tùy bút Hà Nội của ông đầy ắp chi tiết sống động chính từ những bước chân đó.

Ba, giai thoại về trí nhớ phi thường. Nhiều bạn văn kể rằng Tô Hoài nhớ gần như tuyệt đối những câu chuyện cũ, người cũ, địa danh cũ của Hà Nội. Chỉ cần nghe nhắc một cái tên, ông có thể kể lại cả một giai thoại dài. Vì thế, nhiều người gọi ông là: “Kho tư liệu sống của Hà Nội”.

Ngoài ra, các giai thoại về tính cách hóm hỉnh: “Viết lâu thì thành thói quen. Không viết thì ngứa tay”. Câu nói này trở thành giai thoại quen thuộc trong giới văn nghệ. Hay giai thoại về tình bạn văn chương với Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyên Hồng… Trong hồi ký Cát bụi chân ai, ông kể nhiều câu chuyện “hậu trường đời sống văn nghệ sĩ” Hà Nội trước Cách mạng tháng 8 với những trang hồi ức được xem như “biên niên sử văn chương” sống động. Khi đã ngoài 90 tuổi, Tô Hoài vẫn tự viết mỗi ngày. Ông nói: “Còn viết được là còn sống”.

T.N.T

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm