TIN TỨC

Cảm hứng sinh thái trong thơ Đặng Bá Tiến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-04-03 10:41:25
mail facebook google pos stwis
2943 lượt xem

Là một nhà báo, nhà thơ mấy chục năm gắn bó với vùng đất Đắk Lắk, Đặng Bá Tiến đã sáng tác thành công về thiên nhiên, con người và văn hoá Tây Nguyên với nhiều tác phẩm: Lời chân thành với cỏ (Thơ, 2009), Rừng cổ tích (Trường ca, 2012), Hồn cẩm hương (Thơ, 2017), Linh hồn tiếng hú (Thơ, 2020). Anh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Tây Nguyên đương đại, một nhà thơ “thứ thiệt”[1] có bản sắc riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo. Nổi bật trong sáng tác của anh là những tác phẩm viết về rừng, về sinh thái văn hoá và nhân văn.     

Nhà thơ Đặng Bá Tiến 

1. Từ thế kỷ XIX trở đi, với chủ nghĩa nhân loại trung tâm, con người đã trở thành chủ nhân của thế giới và thế giới tự nhiên trở thành đối tượng chinh phục, đối tượng tiêu dùng của con người.

Con người không dừng lại ở việc hưởng lợi từ tự nhiên mà còn khai thác đến mức độ tận diệt, làm cho tự nhiên trở nên khô cằn, nghèo nàn, tuyệt chủng. Hành động đó của con người gây ra những thảm hoạ môi trường khủng khiếp và ngày càng dữ dội hơn. Môi trường, sinh thái trở thành vấn đề nóng bỏng, cấp bách với sự quan tâm của các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn, và văn học cũng không đứng ngoài cuộc: “Nguy cơ sinh thái tự nhiên, nguy cơ sinh thái xã hội, nguy cơ sinh thái văn hoá với rừng khô, suối cạn, đất mòn, tinh thần thất lạc, đạo đức xuống cấp, tâm thái mất cân bằng… đẩy nhân loại vào lo âu, mất mát, tổn thương. Và đó chính là động cơ sáng tác, cảm hứng sáng tác mạnh mẽ đối với các nhà văn, khiến họ viết ra những tác phẩm văn học chuộc lỗi với tự nhiên – văn học sinh thái”[2]. Văn chương Việt Nam đương đại đã có những tác giả sáng tác thành công về vấn đề sinh thái như Trần Duy Phiên, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Diệu Thanh, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Đặng bá Tiến, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Anh Thái…

Thơ Đặng Bá Tiến có sự phong phú, đa dạng về phương diện nội dung cảm hứng. Bên cạnh “Linh hồn tiếng hú” – thơ viết về rừng, còn “Những vọng âm khác” và mảng “Thơ tình”. Điều này dễ hiểu vì trong cõi nhân sinh, tâm hồn nhà thơ rung động bởi nhiều hiện tượng đời sống xã hội, bao trạng thái nhân tình, bao cung bậc cảm xúc. Tuy nhiên, đọc “Đặng Bá Tiến – Thơ chọn” (NXB Hội Nhà văn, 2022) vẫn thấy cảm hứng chủ đạo, xuyên thấm, ám ảnh và giàu ý nghĩa hơn cả, đó là cảm hứng sinh thái. Vào những thập niên 70, 80, 90 của thế kỷ trước, lý thuyết về văn học sinh thái, phê bình sinh thái còn chưa phổ biến ở Việt Nam. Vì thế, cảm hứng sinh thái trong thơ Đặng Bá Tiến xuất phát từ cảm thức cá nhân trước những hiện tượng thiên nhiên và đời sống mà nhà thơ trải nghiệm. Trong thơ ca Việt Nam đương đại, không mấy nhà thơ viết về rừng Tây Nguyên nhiều và sâu đậm, ám ảnh như Đặng Bá Tiến. Bên cạnh trường ca Rừng cổ tích, anh còn có trên trăm bài thơ viết về rừng, về con người và văn hoá truyền thống các dân tộc Tây Nguyên. Là người đã trải nghiệm vùng đất và con người Tây Nguyên, chứng kiến bao sự việc, bao hiện tượng, bao biến thiên thăng trầm của đời sống, Đặng Bá Tiến đau nỗi đau của rừng, nỗi đau của người mất rừng, nỗi đau sinh thái. Với tâm hồn nhạy cảm, anh đã thể hiện cảm xúc của mình bằng những lời thơ thiết tha, day dứt không nguôi. Đúng như nhà nghiên cứu Phạm Quốc ca đã viết: “Ám ảnh, nhức nhối nhất trong thơ ông (ĐBT) vẫn là những vấn đề liên quan đến tình trạng mất rừng và rộng ra là sự mai một, tan rã của văn hoá rừng Tây Nguyên”.[3]

Ở trường ca Rừng cổ tích, mạch tự sự như một thân cây leo để cảm xúc toả ra như những chùm hoa lá. Cảm xúc đi từ niềm hạnh phúc ấm áp của nhân vật trữ tình dưới mái rừng dấu yêu, niềm mến yêu thiết tha, rạo rực trước vẻ đẹp, sự phong phú của rừng. Tiếp đến là cảm giác bàng hoàng thảng thốt khi chứng kiến rừng bị xâm lấn vì nạn phá rừng làm nương rẫy, làm nơi ở, nhà cửa của người dân di cư hoặc bị tàn phá bởi các loại lâm tặc. Tây Nguyên mấy chục năm cuối thế kỷ trước đến thập niên đầu thế kỷ XXI, nạn phá rừng tràn lan khắp nơi. Những cánh rừng nguyên sinh với nhiều loại cây gỗ quý bị tàn phá hàng loạt không thương tiếc. Tiếng cưa máy, cưa tay xèn xẹt gầm rú ngày đêm nghiến vào cổ rừng, những chiếc xe tải lớn nối đuôi nhau rầm rầm chở gỗ về xuôi; những nông trại cà phê, tiêu, bắp đậu lấn sâu vào chân núi làm rừng thu hẹp dần: “Ngày ngày/ đêm đêm/ cứ vang vọng giữa rừng già/ tiếng rìu, tiếng cưa/ tiếng cú, quạ mất nhà/ tiếng hổ, báo thét gào chạy trốn/ tiếng cây đổ ào ào như bão cuốn/ anh đau đớn ngỡ mình bị chém ngang lưng!”. Hậu quả của mất rừng là những giá trị văn hoá rừng cũng tàn lụi: “trăng bức bối không còn chỗ tắm/ thuyền độc mộc nằm trơ trên bến vắng/ Ama tựa đầu ngồi nhấm nháp trăng suông…”. Căm giận, bức xúc, đớn đau khi chứng kiến rừng bị tàn phá, nhân vật trữ tình đã cùng đồng đội tiếp tục cuộc chiến bảo vệ rừng đầy gian khổ, cam go. Tất cả những nỗ lực bền bỉ với niềm tin rừng được hồi sinh, để lời kể khan lại vang vọng, nhịp chiêng rộn ràng hoà cùng điệu Ay ray duyên dáng trở về với buôn làng giữa đại ngàn kì vĩ.

Những tập thơ Hồn cẩm hương, Linh hồn tiếng hú tiếp tục phát triển mạch cảm hứng sinh thái được khơi lên từ Rừng cổ tích với độ rung cảm sâu sắc hơn, nồng nàn và thống thiết hơn. Nhà thơ hồi tưởng về đại ngàn một thuở xa xăm với vẻ đẹp của những cánh rừng nguyên sinh rậm rạp đầy những cây gỗ quý. Dòng Sê rê pốk cuộn trào với bao thác nước đẹp đến mê đắm lòng người và “hoa dã quỳ vàng rực đất trời”. Thú rừng, chim muông tự do sinh sôi,  những đàn voi Bản Đôn, Hồ Lắk làm nên vẻ đẹp kiêu hùng của núi rừng Tây Nguyên. Buôn làng giàu có với “những K’pan ngồi đủ cả bảy dàn chiêng”, những nhà dài với cầu thang mẫu hệ, ché túc, ché tang, Đing Năm, Đinh Tuk, ching Kram, Krá.[4] Cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp hài hoà với những nét sinh hoạt văn hoá dân gian truyền thống đậm đà mà trung tâm là con người. Đó là những a ma, a mí, chàng trai, cô gái Ê đê với vẻ đẹp hoang sơ, dân dã, giàu chất thơ. Một A ma Kông nổi tiếng với nghề săn voi rừng, một Ma Té với chiếc tù và vang vọng, hình ảnh người đàn bà mang gùi lên rẫy hay chị nghệ nhân ngồi dệt thổ cẩm. Những nghề truyền thống như săn voi rừng, dệt thổ cẩm, đẽo tượng, gốm sứ, mây tre đan lưu truyền từ đời này qua đời khác.  Già làng với lời kể khan trầm ấm như vọng về từ sâu thẳm, vòng Xoang nhịp nhàng duyên dáng bên đống lửa chập chờn, điệu Ay ray trữ tình say đắm bên ché rượu cần ngất ngây. Khi viết về vẻ đẹp của rừng xưa và sinh hoạt văn hoá bản địa truyền thống, cảm hứng của nhà thơ dạt dào đắm đuối mến yêu tự hào.

Trở lại với thực tại nghiệt ngã là hình ảnh những cánh rừng bị huỷ diệt, những cây cổ thụ thưa dần và vắng bóng; xóm làng, nương rẫy lấn sâu vào chân núi. Cảm hứng cơ bản của thơ Đặng Bá Tiến trong mảng thơ về rừng là cảm hứng phê phán: phê phán thói cẩu thả, vô ơn của con người đối với thiên nhiên, gây nên những thảm hoạ môi trường: “Rừng xưa, giờ đã về đâu/ Hỏi ai đây giữa ngàn lau bạc màu?/ Ngàn lau xao xác u sầu:/ Rừng xưa đã hoá nỗi đau nhân tình!” (Trở lại rừng xưa). Không gian sinh tồn của cỏ cây muông thú bị thu hẹp, chim thú cũng vắng dần, đàn voi rừng, voi nhà Tây Nguyên có nguy cơ tuyệt chủng: “Giờ đại ngàn đã bỏ ta đi/ muông thú chỉ còn hồn lang thang trong gió/ cổ thụ chỉ còn ảo hình trong trí nhớ/ nòi giống ta cũng tan tác phiêu linh” (Lời con voi Bản Đôn). Nhà thơ đau đớn khi nghe tiếng máy cưa rít lên làm những thân cây chảy máu, đổ gục: “Tôi ngồi thương cội hương già/ Ngỡ cưa còn siết trên da thịt mình” (Trở lại rừng xưa). Sự tàn phá rừng làm môi trường tự nhiên thay đổi, biến dạng: rừng khô thì sông suối cạn, nguồn sống bị huỷ diệt: “Sê – rê – pốk ơi, nước đã về trời/ khi những cánh rừng/ mẹ của mạch nguồn suối mát/ đã trụi trơ bật gốc/ thì sông là đứa bé mồ côi/ rừng đã bỏ sông/ sông biết sống với ai/ sông khô héo thác cũng đành ngắc ngoải.” (Sê – rê – pốc mơ và thực).

2. Tư tưởng sinh thái hiện đại coi sinh thái là một hệ thống chỉnh thể bao gồm thiên nhiên, động thực vật và con người và tất cả các thành viên đều bình đẳng, tác động qua lại, nương tựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển.

Con người không còn là chủ nhân của thế giới mà là một thành viên của của thế giới, của hệ thống sinh thái. Con người là sinh thể xã hội và văn hoá, vì thế, nói đến sinh thái, không chỉ là vấn đề môi trường tự nhiên mà còn gắn chặt với nó là môi trường xã hội, văn hoá. Trong văn học, cảm hứng sinh thái tự nhiên kết hợp hài hoà với sinh thái xã hội, sinh thái văn hoá và nhân văn là điều tự nhiên và dễ hiểu. Với Đặng Bá Tiến, sự tàn phá thiên nhiên cũng là sự huỷ diệt một không gian văn hoá dân gian đặc sắc. Núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, nên thơ và lịch sử, đời sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc là không gian sinh thành và phát triển của của hình thức kể khan đặc sắc và là Không gian Văn hoá Cồng chiêng được thế giới vinh danh. Nhưng những sinh hoạt văn hoá dân gian của đồng bào dân tộc bản địa cũng mai một dần khi rừng bị tàn phá, môi trường sống bị thu hẹp. Những dàn chiêng Ê đê, M’ Nông, Ba Na, J’rai vang bóng một thời, nay chỉ còn là hình ảnh đầy xót thương: “Chiêng K’ ná nằm dưới gầm giường bạc bẽo/ tháng một lần gõ cho Tây trắng, Tây đen nghe cười nhí nhố” (Chuyện của Ma Té). Những người chủ núi rừng, chủ nhân của vùng văn hoá dân gian ấy giờ đây mòn mỏi, âm thầm giấu kín tâm tư của mình sau cái vẻ lặng lẽ, trầm mặc, cam chịu. Vua săn voi Bản đôn đã “về bến nước” xa xăm khi rừng cạn kiệt. Tiếng tù và của Ma Té năm xưa dội vang rừng núi, “gọi Giàng về dự hội”, “gọi buôn gần buôn xa”, “gọi chim về trên mái nhà ấm khói” giờ đây cũng lạc lõng, tội nghiệp: “Giờ tù và Ma Té thổi trên sân khấu, xa xôi/ Giàng không nghe, chim không nghe/ Chỉ cái máy nghe rồi xập xình phụ hoạ.” (Chuyện của Ma Té). Già làng kể khan cũng dần khuất bóng, không còn âm hưởng sử thi vang vọng bên ánh lửa nhà dài. Những nghề truyền thống, những sinh hoạt văn hoá dân gian của người dân tộc thiểu số cũng mai một dần và chỉ còn trong hoài niệm. Nghệ nhân đẽo tượng nhà mồ đã gác rìu vì rừng không còn gỗ; người chị dệt thổ cẩm không còn niềm hứng khởi của một nghệ nhân dệt hoa văn ngày xưa nữa mà chỉ biết thở dài nhớ về một thời huy hoàng quá vãng. Chiếc gùi của người đàn bà Ê đê siết nặng đôi vai vì đường lên rẫy ngày càng xa như giấc mơ một thời con gái trở nên xa vời. Nhà thơ không nén được tiếng khóc xót thương khi chứng kiến một “Dòng sông mồ côi” và hình ảnh “Độc mộc sầu thương nằm dười gầm sàn”, “chài lưới trở thành tổ chuột”, những quần tượng nhà mồ trở nên “cô độc”, hoang phế vụn vỡ, lở lói theo thời gian, “những đời tượng xiêu vẹo, quằn quại trong gió, trong sương lạnh”, để nỗi buồn dâng lên nuối tiếc. Nhà thơ cảm nhận nỗi đau của “Lời chiêng từ đất” khi phải xa rời những giá trị truyền thống để lạc lõng giữa thế giới hiện đại: “Đêm tôi nghe tiếng chiêng ngân lên âm …âm…u…u từ dưới chỗ tôi nằm./ Tiếng chiêng như đất thở, như gió rên, như tiếng người than từ nấm mồ sau hàng trăm năm bỏ mả/ Thoát ra từ kẽ đất ba – zan, tiếng chiêng ngái ngủ, ngượng ngùng, dụi mắt và ngơ ngác nhìn những người com lê, cà vạt, những toà nhà cao tầng phọt ra âm thanh chát chúa của “rock thế giới”, “rock Tây Nguyên” (Lời chiêng từ đất). Bằng cảm xúc chân thành, thiết tha, nồng cháy với rừng, với con người và văn hoá truyền thống bản địa Tây nguyên, Đặng Bá Tiến đã cất lên thông điệp thống thiết: “Hãy cứu lấy những cánh rừng, cứu lấy đại ngàn, cứu lấy một không gian văn hoá và di sản văn hoá đặc sắc của Tây Nguyên, của Đắk Lắk đang bị bị tàn phá và có nguy bị cơ huỷ diệt”.[5] Có thể cảm nhận được tiếng kêu cứu bền bỉ, róng riết, “nghiêng ngả đại ngàn đảo điên cổ thụ” (Rừng cổ tích) của Đặng Bá Tiến đã thấu đến cao xanh, hoà âm với những tiếng nói nghệ thuật khác, tác động vào hiện thực cuộc sống, vào tâm tâm tư, tình cảm của con người, góp phần làm thay đổi thái độ và hành động đối với rừng, với không gian văn hoá Tây Nguyên. Đến nay, nhờ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực vào cuộc của cả hệ thống chính trị, rừng Tây Nguyên đang dần được phục sinh, không gian văn hoá Tây Nguyên được quan tâm bảo tồn và phát huy với những dấu hiệu tích cực. Sự kết hợp phát triển kinh tế rừng với du lịch sinh thái, du lịch văn hoá đã đạt được những kết quả bước đầu và thấp thoáng ánh sáng những triển vọng.

3. Cảm hứng sinh thái nổi bật chi phối phương thức thể hiện và sự lựa chọn chất liệu nghệ thuật.

Giọng điệu: Thơ sinh thái của Đặng Bá Tiến có giọng điệu trữ tình thống thiết, dư âm buồn thương khắc khoải không dứt, không nguôi. Giọng điệu buồn thương đắng đót ấy phản ánh tâm trạng nhân vật trữ tình ở một giai đoạn bi kịch khi rừng bị tàn phá nặng nề, kiệt quệ; không gian văn hoá bị biến dạng, sản phẩm văn hoá bị mai một dần. Khoa học, kỹ thuật phát triển, đời sống vật chất được cải thiện nhưng bệnh tật thì nhiều hơn, phức tạp hơn và con người đứng trước những dự cảm hãi hùng về một tương lai bất định, bất an. Thơ anh có tiếng khóc, có nước mắt của rừng, của sông suối và con người: “Sê – rê – pốc ơi/ ta khóc cho dòng sông khúc đời lận đận/ ai đã khiến cho Mẹ Rừng hiu hắt…” (Dòng sông mồ côi), “ – Sê – rê – pốk ơi…/ tôi gào gọi tên sông trong nước mắt ròng ròng…”(Sê – rê – pốk mơ và thực). Hình ảnh người thợ dệt thổ cẩm trong đêm gợi lên tâm tư và thân phận của bao kiếp người trong cuộc đời dâu bể: “Rồi chị dừng tay lau nước mắt/ chị không muốn nước mắt mình rơi ướt hoa văn/…/ cũng là cái hoa văn lênh đênh trên thổ cẩm/ như một mảnh linh hồn/ mai gió dạt về đâu” (Chị ngồi dệt trong đêm). Cảm thức sinh thái, ám ảnh những thảm hoạ sinh thái, nhà thơ xót thương, cảm thấu cả nỗi đau của linh hồn tượng gỗ: “Có một đêm ở Bản Đôn không ngủ/ tôi đã thấy những tượng nhà mồ lã chã nước mắt/ khóc cùng trăng cùng sương…” (Nước mắt tượng nhà mồ). Thoảng hoặc trong thơ thấy những lời than buốt nhói: “Ta với bạn rừng mà bỗng bơ vơ/ không thú, không cây, không cả làn gió mát/ buồn, ôm ché uống hoài không trôi hết/ nỗi nhớ rừng nghẹn đắng giữa lòng ta!” (Ây Nô nhớ rừng). Cảm giác mất mát, hụt hững với những câu hỏi nuối tiếc không dứt, không nguôi: “Đâu rồi những nhà dài, dài hơn cả tiếng chiêng ta…?/…/Đâu rồi con voi một ngà, đâu rồi bầy công ngũ sắc bỏ rừng về nhảy múa đầu buôn khi nghe tiếng chiêng ta?” (Lời chiêng từ đất). Những câu hỏi tu từ theo dạng phủ định xuất hiện với mật độ khá dày ám gợi sự mất mát: “Còn đâu những tháng ba trời đất thơm lừng”, “Còn đâu điệu múa xoè của những bầy công”, “Đâu rồi lũ con gái con trai từ bảy buôn xa, từ chín làng gần…”. Những câu cảm thán cũng xuất hiện khá nhiều góp phần tạo ra giọng điệu bi thương: “Thần linh ơi”, Giàng ơi”, “Hỡi ông bà tổ tiên”, “hỡi Giàng trên cao xa kia”, “Ôi giấc mơ thì xa mà nỗi cơ cực lại quá gần”, “Ôi cái thời rừng trùng điệp vây quanh”… Giọng điệu trữ tình thống thiết được thể hiện bằng âm điệu tiếng khóc, tiếng than, những câu hỏi tu từ, những câu cảm thán khá phổ biến, tạo ra những dư âm buồn thương khắc khoải như là lời sám hối của lương tri con người, từ đó gợi lên khát vọng giữ gìn, bảo bệ môi trường sinh thái.

Cấu tứ và hình tượng: Thơ Đặng Bá Tiến có tứ thơ mới mẻ và khá độc đáo. Cảm xúc tha thiết, nồng cháy kết hợp chất suy tư sâu lắng tạo nên chất thơ riêng, một dấu triện riêng không hoà lẫn. Nhiều bài thể hiện trực tiếp cảm xúc của nhân vật trữ tình như Trở lại rừng xưa, Dòng sông mồ côi, Nước mắt tượng nhà mồ…Ở đây, chủ thể và đối tượng trữ tình chan hoà vào nhau, đồng cảm, đồng điệu. Có nhiều bài, anh hoá thân vào một hình tượng cụ thể như dòng sông, dòng suối, con voi, con người… biến khách thể thành chủ thể để bộc lộ  cảm xúc và suy tưởng, ký thác tâm sự hay giãi bày nỗi niềm như các bài: Đray Nu, Tiếng tù và Ma – Kông, Lời chiêng từ đất, Người đàn bà mang gùi, Lời con voi Bản Đôn, Chuyện của Ma – Té, Chuyện về Hồ Lắk, Chuyện không hót. Hình tượng thơ Đặng Bá Tiến thường được xây dựng bằng lối tương phản, tương phản xưa – nay, còn – mất, mơ – thực, tương phản giữa một thế giới phong phú, tươi đẹp (xưa) và một thế giới tàn úa, hư hao (nay). Nhà thơ đã tạo ra một thế giới nghệ thuật với nhiều hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp đẽ, kì thú, một không gian văn hoá đa dạng, giàu bản sắc độc đáo. Nhưng đó là thế giới hình ảnh của hoài niệm, trong tâm tưởng, là rừng xưa thấp thoáng ẩn hiện trong giấc mơ của già làng, còn hiện tại là nỗi buồn thương khắc khoải, là cảm giác mất mát, hư hao khi rừng khô, suối cạn, động thực vật hao kiệt, văn hoá truyền thống mai một dần, con người trở nên cô đơn, bơ vơ với những dự cảm mất mát, tinh thần thất lạc. Đây là cách xây dựng hình tượng phổ biến trong thơ sinh thái của Đặng Bá Tiến.

Ngôn ngữ và hình ảnh: Thơ Đặng Bá Tiến rất giàu hình ảnh được chọn lọc từ chất liệu thiên nhiên, chất liệu đời sống, văn hoá mang đậm màu sắc Tây Nguyên. Nhờ có vốn sống phong phú, khả năng quan sát và cảm nhận tinh tế, anh phát hiện những ý tưởng, rung động cảm xúc từ những sự vật, con người bình dị. Kết hợp những hình ảnh thực tế với hình ảnh hoài niệm, tâm tưởng, những hình ảnh tả thuật với những hình ảnh có yếu tố siêu thực, mờ ảo, giàu sức gợi: “Đêm tôi nghe tiếng chiêng ngân lên âm…âm…u…u từ dưới chỗ tôi nằm,/…/ Thoát ra từ kẽ đất ba – zan, tiếng chiêng ngái ngủ, ngượng ngùng, dụi mắt và ngơ ngác nhìn những người com lê, cà vạt…”, “Và tôi thấy mình bồng bềnh trôi miên man trên dòng sông hư ảo, thấy những con người trong suốt, những cái chiêng trong suốt múa lượn trong hào quang của một hoàng hôn đã tắt” (Lời chiêng từ đất). Thơ anh có những hình ảnh đơn lẻ nhưng chủ yếu là những chùm hình ảnh lung linh sắc màu được gợi lên dồn dập để diễn tả tận cùng cảm xúc và suy tưởng: “Sê – rê – pốc trong ký ức tôi/ có ba mươi mùa buồn vui/ ba mươi mùa với những đêm mơ đầy lá xanh, đầy tiếng chim reo trộn lẫn những đêm mơ chập chờn vũ điệu cánh đen bầy quạ đói/…/ những bầy công trong nắng mai xoè xiêm y ngũ sắc lượn bay với bạn tình/ những thảm cỏ xanh trưa vàng có chú nai con nằm day vú mẹ/ tiếng gà rừng chiều lung linh dập dờn trong khóm lá/ ai hú gọi đến uống mật ong rừng” (Sê – rê – pốc mơ và thực). Ngôn ngữ thơ Đặng bá Tiến giản dị, giàu chất liệu đời sống, giàu nhịp điệu và nhiều sáng tạo; có những bài thơ không vần hoặc ít vần nhưng nhạc tính vẫn phong phú. Tác giả dùng khá phổ biến các hiện tượng điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp, các hiện tượng láy, từ cảm thán, các hiện tượng chuyển đổi cảm giác, chuyển nghĩa từ, những câu hỏi tu từ…để biểu hiện nhiều cung bậc cảm xúc và suy tưởng.

Thơ Đặng Bá Tiến chủ yếu sáng tác theo thi pháp truyền thống nhưng đã có những sáng tạo mới mẻ. Anh viết thơ tự do, kết hợp linh hoạt nhiều thể thơ câu dài, câu ngắn khác nhau. Có những bài thơ ngắn gọn, mỗi bài chỉ có vài câu thơ hoặc những chùm tứ tuyệt ghi nhận ấn tượng, cảm xúc lướt qua trong thoáng chốc. Có những bài thơ dài như những khúc trường ca mà cảm xúc và suy tưởng được nung nấu đến cháy bỏng, như: Sê – rê – pốc mơ và thực, Lời chiêng từ đất, Nước mắt tượng nhà mồ, Người đàn bà mang gùi, Khúc xuân chép ở Bản Đôn…Thơ anh không phải bài nào cũng hay, có sức lay động và chinh phục lòng người. Cũng có những bài thơ tạo những ấn tượng nặng nề, u uất, đôi khi có cảm giác căng thẳng; cũng có những bài cảm xúc và hình ảnh còn đơn giản, dễ dãi. Nhìn chung, qua hành trình sáng tạo, Đặng bá Tiến đã thành công trên nhiều lĩnh vực báo chí, nhiếp ảnh, thơ ca với những tác phẩm gây được tiếng vang trong và ngoài nước. Đặc biệt, cảm hứng sinh thái nổi bật được thể hiện trong nhiều tác phẩm thơ là thành công xuất sắc, đóng góp quan trọng và đầy ý nghĩa của anh đối với vườn thơ Tây Nguyên và thơ ca đương đại Việt Nam./.

N.P.H

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm