TIN TỨC

Thơ ca chào đón Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-20 01:03:05
mail facebook google pos stwis
838 lượt xem

Lê Xuân

Cách mạng tháng Tám - 1945 thành công, mở ra trang sử vàng chói lọi cho dân tộc. Bác Hồ đọc “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á được thành lập. Hai tiếng Việt Nam vang lên đầy phấn khởi, tự hào trên trường quốc tế, đã khơi nguồn, làm bừng dậy biết bao cảm hứng về thơ ca, nhạc, họa thật mới mẻ, mãnh liệt và sôi nổi, làm không khí văn nghệ đổi sắc thay da. Từ đây nền văn học của ta chỉ còn duy nhất một trào lưu là văn học cách mạng.

Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02-9-1945

Các nhà thơ là những người nhạy cảm nhất, đã nói hộ chúng ta bao điều suy nghĩ, mừng vui, ngậm ngùi, trăn trở và những ước mơ hy vọng về một tương lai sáng lạn của một nước Việt Nam mới. Cảm hứng bao trùm thơ ca cách mạng là niềm vui sướng, say mê, nồng nhiệt trước cuộc "tái sinh" của dân tộc. Xuân Diệu là nhà thơ reo ca hơn bất cứ nhà thơ lãng mạn nào lúc bấy giờ:

Có một suối thơ chảy từ gần gũi

Ra xa xôi về lại gần quanh 

(Nguồn thơ mới)

Hoặc "Nước non sinh lực dồi dào/ Còn căng ngọn mạ rào rào mọc lên"  (Đồng quê). Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám vốn là một nhà thơ luôn khát khao yêu đương nồng nàn, ham sống, ham giao cảm với đời. Sau hơn hai tháng Độc lập, ngày 30-11-1945 Xuân Diệu đã hoàn thành bản trường ca "Ngọn quốc kỳ", và qua biểu tượng thiêng liêng lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc, nhà thơ đã hân hoan chào đón nước Việt Nam bằng những vần thơ tràn đầy sinh khí:

Gió reo! Gió reo, gió Việt Nam reo

... Việt Nam! Việt Nam! Cờ đỏ sao vàng!

Những ngực nén hít thở ngày Độc lập

Nguồn lực mới bốn phương lên tới tấp.

Xuân Diệu đã phác họa cuộc đấu tranh của dân tộc để giành độc lập "dưới lá cờ đỏ ánh vàng sao". Cờ đã ngập tràn và tung bay khắp mọi miền Tổ quốc: "Có mấy bữa mà Việt Nam thắm cả/ Khắp Việt Nam cờ mọc với lòng dân". Lá cờ đã nâng bước chân bao chiến sĩ, vẫy gọi bao khát vọng của đoàn quân, tạo cho họ sức mạnh để vượt qua mọi gian lao nguy hiểm, giành thắng lợi: "Giữ lá cờ sao vàng lấp lánh/ Cờ như mắt mở thức thâu canh/ Như lửa đốt hoài trên chốt đỉnh”. Đầu năm 1946, Xuân Diệu lại hoàn thành tiếp bản trường ca thứ hai "Hội nghị non sông" để ca ngợi Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam do nhân dân bầu ra. Tác giả đã so sánh với hội nghị Diên Hồng đời nhà Trần. Từ đó khẳng định ý chí đoàn kết, thống nhất của toàn dân quyết tâm chiến đấu  bảo vệ nền độc lập vừa mới giành được, bảo vệ nước Việt Nam non trẻ.

Bác Hồ làm việc dưới nhà sàn ở Hà Nội

"Hội nghị non sông" đã mở rộng vòng tay đón muôn lớp người "tay dao, tay súng" đi xây dựng và bảo vệ nhà nước Việt Nam độc lập đầu tiên. Ngoài ra Xuân Diệu còn viết các bài thơ khác như "Một cuộc biểu tình", “Tổng...bất đình công"... để đả kích, châm biếm bọn Việt gian tay sai đang chống phá chính quyền non trẻ. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương nhớ lại không khí ngày 19-8 ở Thủ đô Hà Nội với bài “Nhớ về Hà Nội vàng son” sáng tác năm 1947 mà tiếng vang mừng ngày độc lập từ Thủ đô lan tỏa như sóng biển trào dâng khắp Thái Bình Dương:

Ôi ngày mười chín, ngày oanh liệt!

Sóng đỏ hoa vàng khắp bốn phương

Hà Nội tiếng reo hò bất tuyệt

Vang sang bờ nọ Thái Bình Dương.

Ba mươi sáu phố, ngày hôm ấy

Là những nhành sông đỏ sóng cờ

Chói lọi sao vàng, hoa vĩ đại

Năm cánh xòe trên năm cửa ô…

Nhà thơ Tố Hữu - lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hân hoan chào đón Cách mạng tháng Tám ở ngay trên quê hương mình với bài "Huế tháng Tám", được viết bằng cảm hứng lãng mạn, sôi trào niềm vui ngây ngất, ghi lại những biến cố trọng đại:

Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh

Thổi phồng lên . Tim bỗng hóa mặt trời

Có con chim nào trong tóc nhảy nhót hót chơi.

Một năm sau Tố Hữu viết tiếp các bài "Vui bất tuyệt", "Giết giặc", "Thưa các ông nghị", "Trường tôi", "Tình khoai sắn", "Hồ Chí Minh"...thể hiện niềm tin vào tương lai của nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của Bác kính yêu.

Nguyễn Đình Thi phơi phới một niềm vui khôn cùng trước đất trời giải phóng, trước lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió:

Reo reo hò cờ rực đỏ ánh cây

Thoáng sao vàng nghiêng nghiêng vẫy…

Nhà thơ Thâm Tâm cảm nhận về Đất nước, Dân tộc trong sắc đỏ, sắc vàng của lá cờ Tổ quốc: "Hồn thiêng khắp hết cõi bờ/ Sáng nay óng ánh trên tơ vải điều". Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh trước Cách mạng háng Tám đã từng viết những vần thơ bí hiểm, tắc tị, thì nay đã thể hiện nỗi mừng vui qua những chi tiết rất thực của đời sống dung dị:

Ta khát vô biên ngọn sóng vang

Ta mừng hội gió lúc lên đàng

Nhà thơ - chiến sĩ Trần Mai Ninh lúc này đang hoạt động ở Nam Trung Bộ cũng đã gởi tình yêu mến sâu nặng với Đất nước, con người qua hai bài thơ "Tình sông núi" và "Nhớ máu". Tình đất nước là tình của sông núi, tình của những con người biết "Trộn hòa lao động với giang san". Những địa danh Nam Trung Bộ giàu đẹp và khắc nghiệt ùa vào bài thơ với giọng điệu phóng túng, táo bạo, tự hào, và bằng một bút pháp tạo hình rất ấn tượng:

“Trăng nghiêng trên sông Trà Khúc/ Mây lồng và nước reo/ Nắng bộn chen dừa Tam Quan/ Gió buồn uốn éo/ Bồng Sơn dìu dịu như bài thơ/ Mờ soi Bình Định trăng mờ/ Phú Phong rộng/ Phù Cát lì/ An Khê cao vun vút…”

Những chiến sĩ  với tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" chưa được hưởng ngày Độc lập đã lại lao vào cuộc chiến đấu mới:

Cả nghìn chiến sĩ

Cả nghìn con bạc, con vàng của Tổ quốc

Sống... trong đáy âm thầm

Mà nắm chắc tối cao vinh dự

Quắc mắt nhìn vào thăm thẳm tương lai.

(Nhớ máu)             

Nhà thơ Đoàn Văn Cừ, tác giả của những "bức tranh thơ" nổi tiếng như: "Chợ Tết", "Đường về quê mẹ", "Trăng hè" trước CMT8, nay đã diễn tả một nét mới trong hồn dân tộc đang hồi sinh tươi tắn với những sắc màu truyền thống:

Bao thôn nữ hôm qua còn yếm đỏ

Miệng hoa cười tươi tựa ánh bình minh

Hôm nay đều ra khỏi lũy tre xanh

Với dòng máu quật sôi trong huyết quản.

Thơ ca chào mừng nước Việt Nam mới tập trung vào chủ đề Đất nước - Dân tộc với Độc lập -Tự do, đã xây dựng được một hình tượng văn học gây xúc động lòng người. Đó là hình tượng Bác Hồ - người sáng lập Đảng ta, người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nổi bật là hai bài "Hồ Chí Minh" của nhà thơ Tố Hữu và "Hồ Chí Minh" của  Tế Hanh. Tố Hữu lúc này tuy viết về Bác chưa thật hay như một loạt các bài viết về Bác sau này, nhưng đã khắc họa được hình ảnh của vị anh hùng dân tộc kiểu mới, kết tinh được những nét đẹp truyền thống:

Hồ Chí Minh

Hỡi ngọn đuốc thiêng

Trên đầu ta, ngọn cờ dân tộc

Trăm thế kỷ trong tên Người: Aí Quốc

Bạn muôn đời của thế giới đau thương.

 Nhà thơ Tế Hanh lại khẳng định môt cách chắc chắn vai trò của Bác đối với con thuyền cách mạng qua những suy nghĩ chân thành, khái quát về đức độ của Người:

Sáng láng, ôn tồn, thành tâm, quyết chí

Sóng gió khinh, sấm sét chẳng kinh hoàng

Hồ Chí Minh, chỉ là Người có thể

Đưa con thuyền Tổ quốc đến vinh quang.

Thơ ca mừng ngày Độc lập, chào đón nước Việt Nam mới ra đời là hơi thở của hồn thiêng sông núi, là tiếng đồng vọng của muôn triệu lớp người. Đó là niềm tin, niềm vui bất tuyệt của dân tộc ta, phần lớn được viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Những vần thơ đa sắc, đa thanh này tô thắm vườn thơ ca cách mạng hiện đại. Nó đánh dấu một bước ngoặt của lịch sử dân tộc, một sự đổi đời sau 80 năm nô lệ. Nó tuôn chảy từ huyết quản của những nhà thơ- chiến sĩ, nó động viên, khích lệ bao lớp người. Nguồn suối thơ ấy hơn 80 năm đã trôi qua nhưng đọc lại ta vẫn thấy tươi tắn, vẫn thấy hừng hực tính thời sự như mới ngày nào./.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm