TIN TỨC

Chuyện những thương binh “tàn mà không phế”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-01 06:08:51
mail facebook google pos stwis
1229 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

TRẦN TRỌNG TRUNG

Đất nước thống nhất, non sông Việt Nam liền một dải, chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ... nhưng, vết thương của cuộc chiến vẫn còn hằn sâu trên da thịt của các thương binh, bệnh binh, những cựu chiến binh Việt Nam. Hằng năm có ngày 27/7 là ngày tri ân các anh hùng thương binh, liệt sĩ, những chiến sĩ Bộ đội Cụ Hồ đã hy sinh tính mạng, xương trắng, máu đào... để giành lấy độc lập, tư do cho dân tộc, hòa bình, thống nhất Tổ quốc...

Phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, sau khi rời quân ngũ, gác tay súng trở về cuộc sống đời thường, những thương binh vẫn lao vào trận chiến tăng gia sản xuất, khởi nghiệp, phát triển kinh tế gia đình làm giàu chính đáng, bằng chính đôi tay, khối óc và tinh thần cần cù lao động, vượt lên chính mình. Nhiều người gọi những thương binh này bằng câu “Tàn mà không phế”!

Đến thăm gia đình anh Huỳnh Văn Quận (sinh năm 1960) ở ấp K8, xã Phú Đức, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, vào một ngày không nắng. Được anh Quận dẫn ra phía sau nhà là một khu đất rộng cạnh bên vùng đệm Vườn Quốc gia Tràm Chim đã được anh trồng nhiều trụ thanh long ruột đỏ. Các trụ thanh long ruột đỏ được anh cần mẫn chăm sóc cẩn thận nên đã cho thu hoạch nhiều đợt và đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình. Ngồi bên cạnh trụ thanh long đang trổ bông, anh Quận kể lại thời trai trẻ đã xung phong lên đường bảo vệ Tổ quốc: “Tôi thi hành nghĩa vụ quân sự năm 1982, trong một lần cùng đồng đội tham chiến ác liệt để bảo vệ biên giới Tây Nam - Campuchia, tôi đã bị thương và để lại một phần thân thể tại chiến trường…”.

Đến năm 1984, sau khi xuất ngũ, trở về cuộc sống đời thường, anh bị cụt mất một chân phải, với tỷ lệ thương tật 61%. Lúc bấy giờ, cuộc sống của thương binh hạng 2/4 Huỳnh Văn Quận hết sức khó khăn. Nhưng, với bản lĩnh của người lính “Bộ đội Cụ Hồ”, quyết tâm không cam chịu là gánh nặng của gia đình và xã hội, bằng nguồn trợ cấp thương binh hằng tháng, cộng với nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng, anh cùng với vợ lao vào làm ăn, tăng gia sản xuất và chi tiêu tiết kiệm để phát triển kinh tế gia đình, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Qua nhiều năm cần cù làm ruộng, trồng sen, mua bán và trồng thanh long ruột đỏ… đến nay, cuộc sống kinh tế gia đình thương binh Huỳnh Văn Quận đã cơ bản ổn định, sung túc. Anh hiện sở hữu 10 công đất ruộng canh tác mỗi năm 3 vụ lúa và 6 công đất vườn trồng thanh long ruột đỏ phía sau căn nhà tường cấp 4 vừa mới xây dựng xong, trị giá gần 400 triệu đồng. Trung bình mỗi năm, gia đình thương binh Huỳnh Văn Quận có nguồn thu nhập từ ruộng lúa và vườn thanh long ruột đỏ trên 300 triệu đồng. Ba đứa con trai của anh đều được học hành tới nơi tới chốn. Thương binh Huỳnh Văn Quận vui vẻ chia sẻ: “Được cuộc sống như ngày hôm nay, hiệu quả kinh tế cũng tốt. Với thu nhập ổn định mỗi năm hàng trăm triệu đồng thì cuộc sống của gia đình tôi ổn định, sung túc lắm. Bà xã đỡ vất vả hơn ngày xưa; con cái đã an cư và có việc làm ổn định rồi”.

Rời nhà thương binh Quận, tôi ghé nhà ông Võ Văn Hoàng ấp Cà Dăm, xã Tân Công Sính. Được gia chủ mời uống trà và trò chuyện rất thân tình. Ông Võ Văn Hoàng bày tỏ: “Tôi sinh năm 1930, quê ở xã Đốc Binh Kiều, huyện Tháp Mười, tham gia bộ đội ở Tiểu đoàn 502. Vào năm 1968, trong kháng chiến tôi còn có tên là Bảy cùng với đồng đội chiến đấu ác liệt với kẻ thù trong trận đánh ở Cả Bèo để chiếm khám đường Cao Lãnh. Không may, trong trận chiến này, tôi đã bị thương, cụt mất một chân trái…”.

Là thương binh, ông Hoàng rất tự hào vì đã cống hiến một phần thân thể cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau ngày 30/4/1975, ông Hoàng cùng vợ rời quê nhà lên xã Tân Công Sính (còn gọi là Khu Tư) để khai phá đất hoang, lập thân, khởi nghiệp. Thương binh Võ Văn Hoàng cho biết: Lúc bấy giờ, vùng đất Khu Tư này rất khó sống nếu ai không có bản lĩnh và nghị lực. Bởi, đất đai ở đây bị nhiễm phèn nặng, cỏ - năn mọc dày đặc, những ngày mưa bão - lũ lụt thì vô cùng khủng khiếp… nên dân gian có câu “Đến đây xứ sở lạ lùng - Nghe tiếng con chim hót, tiếng con cá vùng, cũng kinh”… Thương binh Hoàng nhớ lại: “Hồi đó, tôi được ông bà già vợ cho 10 công đất để làm lưng vốn lên xã Tân Công Sính làm ăn, lập nghiệp. Sau khi khai phá được 6 ha đất hoang, vợ chồng tôi bắt tay vào canh tác lúa. Tưởng dể, nào ngờ lúa sạ được gần nửa tháng đang lên xanh tốt, bỗng vài ngày sau lá bị đỏ đầu, đem phân rải xuống thì cây lúa từ từ lụi tàn rồi chết sạch... Năm nào đất cũng dậy phèn đỏ lồm, không loại cây nào sống nổi, chỉ có cỏ - năn mà thôi, tiền của bao nhiêu chịu cho nổi với vùng đất hoang vu này... Đó là chưa kể chuyện sâu rầy, chuột bọ sinh sôi phá hại tràn lan rồi muỗi mồng, đĩa vắt vô số... Vì thế, nhiều người đến đây chưa có kinh nghiệm sản xuất, thiếu ý chí - nghị lực, thiếu lòng kiên nhẫn đối với vùng đất mới này nên chỉ sau một, hai năm làm ăn thất bại đã khăn gói ra đi...”.

Để trụ lại được ở xứ sở đã từng được mệnh danh “Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội tợ bánh canh, cỏ mọc thành tinh, rắn đồng biết gáy” này, vợ chồng thương binh Võ Văn Hoàng chỉ biết nương tựa nhau lao vào công việc để tìm kế mưu sinh và được cha mẹ vợ động viên tinh thần, hỗ trợ vốn để làm ăn, tăng gia sản xuất... Hằng ngày, vợ chồng ông vừa làm ruộng vừa tảo tần làm mướn, rồi tới mùa nước nổi thì thả lưới, giăng câu, hái rau, bắt ốc... kiếm tiền lo nuôi sống gia đình và tiếp tục khai hoang mở đất. Ròng rã hơn 7 năm trời, làm lúa có năm huề vốn, có năm bị thua lổ… nhưng vợ chồng ông vẫn không nản lòng mà quyết chí làm ăn, tăng gia sản xuất, mỗi năm chuyển vụ được vài công ruộng để canh tác kiếm nguồn thu nhập ổn định… Ông Hoàng kể tiếp: “Mãi đến thập niên 90 của thế kỷ XX, đất đai của tôi đã được thành khoảnh, sản xuất có lãi... Từ đó, vợ chồng tôi chi xài tiết kiệm và tích lũy vốn liếng để mua sắm phương tiện chuyên chở, máy móc hiện đại… phục vụ sản xuất và đời sống…”.

Thật đáng khâm phục, dù là thương binh hạng 3/4, nhưng ông Hoàng luôn quyết tâm vượt khó vươn lên làm giàu chính đáng bằng mô hình làm lúa. Sau nhiều năm cần cù nỗ lực, ông đã xây dựng được căn nhà tường khang trang, rộng rãi; trong nhà mua sắm đầy đủ tiện nghi sinh hoạt… Ông còn đầu tư mua 3 chiếc máy cày vừa làm 6 ha đất ruộng nhà vừa làm dịch vụ cho nông dân… Với cách thức làm ăn khoa học nên mỗi năm, ông Hoàng có thu nhập hàng trăm triệu đồng. Thương binh Hoàng vui vẻ chia sẻ: “Nỗ lực làm để chính quyền địa phương nhẹ lòng lo. Tôi hết sức nỗ lực làm đêm, làm ngày nên mới vượt qua khó khăn. Ngày nay coi như gia đình tôi cũng có tương đối có ăn. Cũng nhờ Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ cho tôi trong phần đời sống được thoải mái, sống khỏe được đi an dưỡng chỗ này chỗ kia vợ chồng tôi quanh năm nên hết sức là mừng. Cuộc sống tôi bây giờ thoải mái rồi, cứ trưa cũng có ngủ một giấc; nhà cũng có máy lạnh đàng hoàng, mừng lắm chớ”.


Thương binh Dương Hùng Oai trao đổi với PV.

Còn ông Dương Hùng Oai (sinh năm 1956) ở xã Phú Thọ thi hành nghĩa vụ quân sự năm 1976, đóng quân ở Trạm Biên phòng Cầu Muống, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Hai năm sau, ông Oai được phong cấp hàm Trung sĩ, giữ chức Phó Trưởng Trạm Biên phòng Cầu Muống. Trong một lần cùng đồng đội tham chiến ác liệt để bảo vệ biên giới Tây Nam - Campuchia, ông Oai chẳng may bị thương và để lại một phần thân thể tại chiến trường. Năm 1979, sau khi xuất ngũ, trở về cuộc sống đời thường, ông bị cụt mất một cánh tay phải, với tỷ lệ thương tật 45%. Lúc bấy giờ, cuộc sống của thương binh hạng 3/4 Dương Hùng Oai hết sức khó khăn. Nhưng, với bản lĩnh của người lính “Bộ đội Cụ Hồ”, quyết tâm không cam chịu là gánh nặng của gia đình và xã hội, bằng nguồn trợ cấp thương binh hằng tháng, cộng với nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng, ông Oai lao vào làm ăn, tăng gia sản xuất và chi tiêu tiết kiệm để phát triển kinh tế gia đình, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Qua nhiều năm miệt mài sản xuất, chăn nuôi… đến nay, kinh tế gia đình ông cơ bản ổn định. Tận dụng gần 2 công đất trống quanh nhà, ông trồng dừa, xoài, mít, mía, khoai mì… trung bình mỗi năm, gia đình ông thu nhập 70 triệu đồng. Ông Oai đã xây dựng căn nhà khang trang gần nửa tỷ đồng... Thương binh Dương Hùng Oai tâm sự: “Tôi bản thân thương binh, nên vợ chồng vươn lên làm ăn thoát nghèo, nay gia đình cũng khấm khá, xây nhà khang trang rồi cho bớt gánh nặng của địa phương và xã hội. Gia đình tự vươn lên, nay cũng hết khó khăn rồi”.

Tới nhà ông Phan Văn Tịnh (sinh năm 1954) ở xã Phú Ninh. Sau một tuần trà, ông Tịnh cho biết: ông nhập ngũ năm 1971 và được biên chế vào đơn vị hậu cần Quân khu 9. Khoảng tháng 3/1972, trong một trận chiến đấu với kẻ thù ông Tịnh bị thương và được xếp loại thương binh hạng 3/4. Sau ngày 30/4/1975, ông xuất ngũ trở về địa phương. Lúc đó, gia đình không có đất sản xuất, không nghề nghiệp nên vợ chồng ông phải làm thuê mướn vất vả để kiếm sống. Gần 10 năm lao động miệt mài, vợ chồng tôi tích cóp được chút lưng vốn, mua được 10 công đất ruộng để sản xuất lúa, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Đến năm 2005, Hội Cựu chiến binh huyện vận động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ông Tịnh mạnh dạn vay 12 triệu đồng vốn Ngân hàng đầu tư xây chuồng và mua 2 con bò cái thả vào chuồng nuôi. Ông Tịnh quyết tâm vượt khó, vươn lên làm giàu chính đáng bằng mô hình nuôi bò lai Sind. Từ 2 con bò cái nuôi ban đầu, đến nay ông đã tăng đàn bò lên tới 32 con các loại. Trung bình mỗi năm, ông thu nhập từ 250 đến trên 300 triệu đồng. Thương binh Phan Văn Tịnh bày tỏ: “Về sức khỏe cũng giảm, nhưng cũng phải phấn đấu để làm quyết liệt lo cho vợ con sau này, trong tương lai. Làm phát triển cũng mua được 10 công đất cặp Quốc lộ 30 này, nhà cửa cũng hoàn chỉnh; không để gánh nặng cho Nhà nước, xã hội tiếp mình. Ráng phấn đấu để vượt qua, tự lực làm giàu là chính”.

Toàn huyện Tam Nông hiện có 604 liệt sĩ, 63 mẹ Việt Nam anh hùng, 277 thương binh và 59 cán bộ chiến sĩ bị địch bắt tù đày... Trong đó, có nhiều thương binh, bệnh binh là hội viên Hội Cựu chiến binh các xã, thị trấn. Đa số các hộ thương binh đều có ý chí phấn đấu vươn lên làm kinh tế giỏi, với nhiều cách làm hay, mô hình hiệu quả thiết thực nên đời sống đều được ấm no, sung túc. Trong số 123 thương binh là hội viên Hội Cựu chiến binh đã có 41 hộ giàu, 47 hộ khá và 35 hộ có mức sống trung bình, không còn hộ thương binh nghèo. Ông Trịnh Văn Lớn cho biết: “Với vai trò Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Tam Nông, tôi rất hoan nghênh, đồng tình với sự quyết tâm của anh em thương binh, cựu chiến binh khắc phục vượt lên hoàn cảnh khó khăn, thực hiện các mô hình sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh giỏi để góp phần ổn định cuộc sống... Hướng tới, Hội Cựu chiến binh huyện sẽ tiếp tục phát động những thương binh, cựu chiến binh học tập tấm gương các đồng chí Quận ở xã Phú Đức; đồng chí Hoàng ở xã Tân Công Sính; đồng chí Oai ở xã Phú Thọ và đồng chí Tịnh ở xã Phú Ninh. Đây là những tấm gương sáng để cho các hội viên cựu chiến binh toàn huyện học tập, noi theo để vượt khó, làm ăn phát triển kinh tế gia đình, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Cựu chiến binh huyện nhiệm kỳ 2022 - 2027, gắn với phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh ở địa phương; xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.

Rõ ràng, các thương binh sau khi rời quân ngũ, trở về cuộc sống đời thường, bằng ý chí quyết tâm, bản lĩnh của “Bộ đội Cụ Hồ” đã vượt qua mọi khó khăn để phát triển kinh tế gia đình, vươn lên làm giàu chính đáng bằng chính đôi bàn tay, khối óc và con tim đầy nhiệt huyết của mình, góp phần xây dựng nông thôn mới - đô thị văn minh để làm giàu cho quê hương, xứ sở...

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm