- Bút ký - Tạp văn
- Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An. Cuộc hành quân tìm diệt bằng trực thăng năm ấy, lính Pắc-chung-hy đã giết 41 người, làm 62 phụ nữ và 25 trẻ em bị thương. Năm ấy (2000), trên chiếc tắc ráng dưới lòng kênh, tôi thật ấn tượng trước hình ảnh chị Du Thị Đông đang ngồi ngoài cầu cao chùi trắng hàng tá xoong nồi bằng mỏm tay cụt cùng cánh tay còn lại của chị. Và cũng thật ấn tượng cách chị Tư đâm xuồng vào cầu ao mừng rỡ reo lên: “Nó, con Bảy Đông đó! Thiệt may là nó có nhà”... Thật may là chị còn khỏe mạnh, vẫn còn nhớ ra tôi. Chị mừng rỡ làm cá lóc, nấu canh chua đãi khách thuần thục chỉ bằng một cánh tay. Ngôi nhà chị giờ thay đổi quá nhiều. Đến thăm chị, tôi đi bằng đường xe hơi có định vị. Còn đang lóng ngóng nhìn dòng kênh xưa giờ nước đổ về đầy và rộng hơn, người hàng xóm sốt sắng chỉ đường: “Cô đến nhà bà cụt tay hả? Ở đây, qua cây cầu là tới liền, chỗ bia thảm sát đó!”.
TỪ NỖI ĐAU KHÓ THỂ NGUÔI NGOAI…

Tác giả và chị Bảy Đông trên Cánh đồng 41 giờ phủ đầy lúa thơm...
Thật lòng, tìm về Tân Hòa (nay thuộc xã Tân Thạnh, Tây Ninh), tôi chỉ muốn thăm chị Bảy Đông sau nhiều năm không gặp. Tôi không muốn nghe chị kể chuyện bị thảm sát trên Cánh đồng 41 nữa. Nhưng đồng lúa lao xao vẫn ùa về nỗi đau muốn quên mà vẫn khắc sâu vào tâm khảm người còn sống. Năm ấy, nhà mẹ Thạnh bị giết chết 11 người, chỉ có chị Bảy Đông là còn sống sót. Đôi mắt đen của chị vẫn sâu thẳm nỗi buồn. Chị kể mẹ sinh chị vào một ngày mùa Đông năm 1958, ầm ào gió chướng. Ngày chị chào đời, cha không có nhà, ông đang cùng một số cán bộ, du kích thời chống Pháp lập “Bộ đội Trâm bầu”. Đó là một đơn vị vũ trang hình thành rất sớm để chống lại sự tàn bạo của Mỹ - Diệm. Những người chiến sĩ lấy cây trâm bầu làm vũ khí bảo vệ Nhân dân. Tên gọi “Bộ đội Trâm bầu” ra đời từ đó. Và để trả thù cho những mưu toan “bình định” liên tiếp bị thất bại, nhằm cắt đứt mạch máu giao thông, tiếp tế của Cách mạng từ phía biên giới Campuchia về các tỉnh miền Trung Nam bộ, quân Mỹ và chư hầu Pắc-chung-hy đổ quân xuống cánh đồng Kiến Tường (nay thuộc huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An và một phần Hậu Bắc Mỹ, Cái Bè, Mỹ Tho, nay là Tiền Giang). Năm ấy, đối với cô bé Du Thị Đông mới lên 8 là một ngày định mệnh, không chỉ với riêng gia đình chị mà còn cả hàng chục gia đình trên cánh đồng Tân Hòa kéo dài qua Hậu Bắc Mỹ...
Hôm ấy, mẹ cô bé Đông, bà Phạm Thị Thạnh (Chín Liềm) ra đồng từ sáng sớm để cắt lúa. Cô bé Đông chơi đùa cùng hai em Thu, Mười và hai cháu Hà, Hải. Cô bé nặn hình trâu, bò, gà, vịt… bằng nắm đất sét trên tay. Những đứa trẻ cười lên nắc nẻ vì những hình thù ngộ nghĩnh trên tay cô bé Đông. Từ đồng lúa, mẹ Thạnh quan sát toán quân hung hăng chui ra từ những chiếc trực thăng, tỏa đi về phía những ngôi nhà. Bộ dạng chúng có gì đó khang khác, hung hăng hơn thường ngày. Rồi những tràng súng nổ chát chúa, tiếng la khóc vang lên khắp cánh đồng. Một linh tính thoáng qua khiến người mẹ rùng mình ớn lạnh. Mẹ quăng lưỡi liềm, cắm đầu chạy một mạch về nhà. Trông thấy đàn con: Phụng, Hoàng, Thu, Đông, Bé Mười, 2 cháu ngoại Hà, Hải và 4 đứa cháu họ đứng lố nhố trong nhà, mẹ Thạnh hốt hoảng hét lớn: “Xuống hầm, lẹ lên!”. Rồi không cần đợi lũ con cháu phản ứng, mẹ đẩy từng đứa xuống tăng-xê. Mẹ xuống sau cùng, lấy thân hình án ngữ miệng hầm, sẵn sàng che chở cho bầy trẻ. Nhưng đã muộn… Những tên lính chư hầu đã sầm sầm nện gót giày đinh càn vào mái nhà tranh bé nhỏ. Tên đi đầu trong bộ quần áo rằn ri của biệt kích, mặt lầm lì, lạnh lẽo, giương đôi mắt trắng dã hằn những tia máu đỏ ngầu quát hỏi bằng thứ ngôn ngữ xa lạ: “V.C! V.C ?!”. Chúng xí xô xí xào những âm thanh man dại, rồi chĩa súng xuống miệng hầm. “Không, không, chúng tôi là thường dân! Đừng bắn, lạy các ông, đừng bắn!”. Mẹ Thạnh gào lên thống thiết. Có tiếng khóc của cháu Hải vang lên, rồi tiếp theo là những đứa trẻ khác. Chúng dùng súng lùa tất cả ra ngoài, cho ngồi cặp bờ đìa (ao). Lũ trẻ sợ đến nỗi không còn khóc được nữa, giương những đôi mắt trẻ thơ nhìn bọn người trong những bộ quần áo vằn vện, súng, lưỡi lê lăm lăm trên tay, lớp đeo ngang hông tua tủa. Gương mặt những tên giết người như được phủ lên lớp chì đen tối, chúng lầm lì chĩa súng. Mẹ Thạnh hốt hoảng ôm lấy đứa con nhỏ và đứa cháu ngoại vào lòng… “Đùng, đùng…”, tiếng súng vang lên. Rồi tất cả chìm trong im lặng. Khi những thân hình đổ gục, chúng bỏ đi. Gót giày đinh của chúng dẫm đạp lên luống rau trước nhà, dẫm nát lên những con trâu, bò, gà, vịt mà cô bé Đông vừa nặn lúc nãy. Chốc chốc, từng tràng súng vang lên từ những mái nhà tranh ở ấp Tây, hòa trong tiếng thét gào. Rồi im lặng. Rồi từng tràng súng lại vang lên… Điệp khúc đầy mùi tử thần ấy ngự trị khắp cánh đồng Tân Hòa trong buổi sáng định mệnh năm ấy. Tàn cuộc: 41 người bị giết, 62 phụ nữ và 25 trẻ em bị thương. Riêng ngôi nhà mẹ Thạnh, 11 người bị sát hại. May mắn thay, cô bé Đông là người duy nhất còn sống sót trong ngôi nhà này…
Chung quanh cô bé Đông là những người thân đã ngã xuống đìa, ngổn ngang, đầm đìa máu. Một nỗi sợ hãi khác xâm chiếm cô bé, nỗi sợ còn ghê gớm hơn khi phải nhìn thấy lũ giết người là sự mất mát. Vây quanh Đông là những xác người ngổn ngang, máu và máu. Người cô bé ướt đầm máu. Máu từ vết thương cô. Máu bắn ra từ những người thân xối lên người cô. Cô bé biết mình thoát chết vì chúng nghĩ rằng cô đã chết. Nhận thức ấy khiến cô bé run rẩy khi nghĩ lũ giết người có thể sẽ quay trở lại. Trí khôn của đứa bé lên 8 mách bảo cô bé phải rời khỏi đây ngay. Đông với tay nắm lấy một gốc cây với ý định bò lên bờ, trốn xuống hầm nhưng nghe đau nhói nửa bên mình. Lúc ấy, Đông mới biết mình bị thương ở bàn tay trái. Cố gắng hết sức, cô mới leo lên khỏi miệng đìa, nhích từng bước bằng cánh tay còn lại bò vô tăng - xê. Cánh tay sưng vù, bầm tím rất nhanh, Đông ngất đi… Mãi cho đến 5 giờ chiều cô bé mới tỉnh dậy. Ông Du Quang Minh lúc ấy mới lần về nhà tìm con. Ông mừng rỡ khi nhận ra Đông chỉ bị thương vào bàn tay trái. Cánh tay Đông đã bị nhiễm trùng sưng tấy lên. Người Đông nóng hầm hập. Cô bé rơi vào hôn mê…
Hàng chục năm sau ngày tang tóc ấy, chị Bảy Đông ngắm mỏm tay cụt của mình, ngậm ngùi nói: “Lẽ ra với điều kiện y học thời đó, bàn tay tôi không đến nỗi bị cắt. Nhưng… cha tôi bị địch lùng sục, không thể đưa tôi đi bệnh viện. Bác Tư tôi bị đặt ngoài vòng pháp luật của chính quyền cũ nên khi đưa tôi đến Bệnh viện Mỹ Tho, ông phải trốn đi. Vết thương nhiễm trùng, không người thăm nuôi, vậy là…”. Sau trận thảm sát, cô bé Bảy Đông không còn tuổi thơ nữa. Mất mẹ, mất quá nhiều người thân, người cha là chỗ dựa cuối cùng. Những năm đó, cha trốn đâu, chị đi theo đó. Bên cạnh cha, chị trở thành một chiến sĩ giao liên, bảo vệ, cấp dưỡng không chính thức. Chị lớn lên trên chiến trường ác liệt, cùng cha bám lại cánh rừng xơ xác vì chất độc hóa học phát quang. Chị quen dần với bom napalm, bom lân tinh sáng ngời như những đốm lửa ma trơi lập lòe trong bóng tối. Chị biết cách khoanh vết thương bom lân tinh bằng nước mắm. Chị biết tránh những vệt rừng cháy bằng phốt-pho để đi liên lạc… Nhưng cuối cùng, chị không tránh được điều mà chị sợ hãi nhất. Năm 1971, người chị thân yêu duy nhất còn lại là Du Thị Hồng hy sinh trên đất Campuchia. Năm 1972, cha chị hy sinh trên đường đi công tác...
Chiến tranh đã cướp đi tuổi thơ, cướp đi một phần thân thể, tước đoạt tất cả những người thân của chị. Vào ngày giỗ mẹ, chén cơm thơm ngát mùi gạo mới đặt lên bàn thờ cúng mẹ ướt đầm nước mắt của chị Đông. Năm ấy, mẹ Thạnh ngã xuống, ôm con và đứa cháu nhỏ vào lòng mà bụng còn đói vì ra đồng cắt lúa mà chưa kịp ăn bữa cơm sáng. Mẹ Thạnh ngã xuống, quá bất ngờ, quá tức tưởi trước họng súng đen ngòm, không hề nghĩ mấy mươi năm sau mình trở thành Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Cha hy sinh, chị đi dân công hỏa tuyến mang vác đạn ra chiến trường. Hòa bình, chị trở về cánh đồng thấm máu năm xưa, chỉ với một cánh tay trồng lúa, xây lại ngôi nhà đổ nát... Vì quá thiếu tình cảm, cô gái mồ côi Du Thị Đông đã dồn hết tình thương cho chồng, cho con. Nhưng hạnh phúc không mỉm cười với chị, người chồng bỏ đi, để lại hai con còn thơ dại. Với cánh tay còn lại và trái tim tan nát, chị đã dũng cảm đứng lên bằng nghị lực phi thường để bám trụ lại mảnh đất đau thương này. Chị cột lưỡi liềm vào bàn tay cụt cắt lúa. Bàn tay chị thoăn thoắt như múa trên cánh đồng. Chị chăm sóc, vỗ về, cho con bú bằng cánh tay còn lại và bầu sữa dạt dào tình mẫu tử. Chị chùi xoong nồi ngoài cầu ao bằng một cánh tay. Gian bếp nhà chị, xoong nồi sạch bóng như gương mà khi nhìn vào, ngay cả những phụ nữ lành lặn hai tay còn phải hổ thẹn… Cứ như vậy, chị bước đi giữa cuộc đời, chân bám chặt vào cánh đồng ấp Tây, đạp bằng những đổ nát, gai góc để một lần nữa vượt lên đói nghèo, để có được ngôi nhà khang trang, để nuôi con khôn lớn. Nghe nói trước đó chị có làm tay giả, nhưng nó vướng víu, chị quẳng sang một bên, cứ mỏm tay cụt mà làm lụng...
… ĐẾN NIỀM VUI NGÀY TRỞ LẠI
24 năm sau, tôi về Cánh đồng 41, ngỡ ngàng trước bao điều thay đổi. Năm 2018, chị Bảy Đông hiến 1 công đất xây Bia tưởng niệm Cánh đồng 41. Chị kể về nỗi đau của mình khi dịch Covid-19 cướp đi đứa con trai đầu: “Cái thằng em chụp ảnh mấy mươi năm trước đó, nó chết, chị buồn đau, đổ bệnh cả năm trời, giờ mới đỡ hơn chút”. May mắn chị còn đứa con trai út Huỳnh Đông Hồ hiếu thảo, siêng năng. Vườn mít quanh nhà em trĩu quả. Tôi hỏi chị: “Bờ xôi ruộng mật vầy, hiến 1 công đất chị có tiếc không?”. Chị thật thà nói: “Đất quý vì thấm mồ hôi và máu. Nhưng không tiếc vì bia tưởng niệm đó nhắc cháu con chuyện 41 người đã ngã xuống để giữ đất. Chú Trương Tấn Sang vận động Binh đoàn 16 xây tấm bia tưởng niệm này. Hồi xưa phía Tiền Giang xây bia căm thù ở Hậu Mỹ Bắc, nhưng giờ ở đây, chú nói nên đề bia tưởng niệm cho bớt nặng nề...”. Chị ôm tôi, nước mắt chảy tràn vì quá bất ngờ khi tôi xuất hiện trước ngôi nhà chị. Tôi nghẹn ngào nói với chị rằng tôi cám ơn cuộc sống biết bao. Những chuyến đi đã cho tôi gặp những nhân chứng chiến tranh, những con người lạ lùng kỳ diệu để có được những trang viết thấm đầy số phận con người. Tôi kể năm 2019, khi được sang thành phố Deagu, Hàn Quốc giới thiệu tập thơ “Cây tâm hồn”, gồm 30 nhà thơ Hàn và Việt, có ngài thị trưởng đến dự, đoàn Việt Nam được các bạn Hàn đón tiếp nồng nhiệt, đưa đi thăm nhiều nơi, rất nhiệt tình. Lúc ấy, câu chuyện thảm sát ở Cánh đồng 41 cùng hình ảnh chị Du Thị Đông chùi xoong nồi ngoài cầu ao bằng cánh tay cụt của mình hiện về khiến tôi viết nên bài thơ “Tình Deagu”. Buổi chia tay, tôi đọc bài thơ cho những người bạn Hàn nghe. Tôi đã khóc vì xúc cảm dâng trào. Giờ tôi lại rơi nước mắt vì hạnh phúc khi mang “Tình Deagu" về Cánh đồng 41 đọc cho chị Bảy Đông nghe...
“... Tôi biết đằng sau sức mạnh chiến tranh cuốn đi nhiều thứ
Là lời tạ lỗi cánh đồng
Giờ phủ đầy lúa thơm...”
Chị nói những người bạn Hàn của Quỹ Hòa bình Hàn - Việt đã đến Cánh đồng 41 thắp hương. Các bạn hứa sẽ xây đường, xây cầu, nói lời tạ lỗi quá khứ. Tôi lại rưng rưng nhìn chị chùi xoong nồi ngoài cầu ao bằng mỏm tay cụt của mình. Vâng, vẫn như 24 năm trước tôi tìm về Cánh đồng 41, chị Bảy Đông vẫn với chất giọng trầm ấm, điềm tĩnh, đôn hậu kể chuyện ngày ấy và hôm nay. Bây giờ, nhiều đoàn Hàn Quốc đến thăm Cánh đồng 41 này, nên việc di dời những người bị thảm sát chôn ở đây từ nhiều năm trước về gần nhà là việc chị phải làm. Gia đình không còn ai, chị sống thay những người nằm xuống, quyết phủ lên cánh đồng Tân Hòa này màu xanh no ấm. Tôi hỏi cảm xúc của chị về những đoàn Hàn Quốc khi đến đây, chị nói giản dị: “Hồi đó là chiến tranh nên khác, giờ hòa bình rồi phải khác. Chị không bao giờ muốn có chiến tranh. Bia tưởng niệm xây là để nhớ lịch sử, nhưng hận thù phải quên. Không thể căm thù những người đến với mình bằng lòng lành, đến để hàn gắn, tạ lỗi”. Chị lại nói nhiều về chuyện làm ăn. Tôi hỏi bí quyết nào một mình chèo chống làm kinh tế gia đình giỏi, nuôi con ngoan vậy. Mắt chị thoáng ánh buồn: “Chị rất muốn con học cao, nhưng tụi nó yêu đất quá, mà cũng một phần vì thương chị có một mình nên nghỉ học sớm, giúp chị canh tác. Chị không vui nhưng rồi nghĩ nếu đã là nông dân thì phải là nông dân giỏi. Chị chẳng có bí quyết gì, đơn giản là làm cái gì cũng phải đến nơi đến chốn. Mình yêu đất, yêu cây thì phải lắng nghe cây, đất cần gì để chăm chút, đáp ứng điều chúng mong đợi, như chuyện bón phân phải đúng thời điểm để đòng lúa xanh tươi, trĩu hạt. Mình phải xịt thuốc đúng lúc để lúa xanh tươi... Bởi vậy, thấy ba tụi nhỏ cứ cà kê, mình hối thúc ổng xịt thuốc, rải phân, ổng quạu, rồi vợ chồng lớn tiếng, ổng đi biệt tới giờ. Thôi, ai đi thì đi, tôi ở lại, một mình chèo chống nuôi con. Con trai chị lớn lên giỏi nghề nông, đã đỡ đần phần lớn công việc để vai mẹ nhẹ gánh. Chị và con trai bàn với nhau mùa mưa này sẽ múc đất đắp ao để trồng mít. Cầm trên tay trái mít nặng trĩu, chị hồ hởi nói: “Nghề nông cũng cần sự linh hoạt, cần liệu sức mình. Chị nói với thằng Hồ đừng ham trồng sầu riêng vì phải chăm sóc nhiều, phải tác động thuốc men; trong khi mít dễ trồng, chỉ cần bón phân đúng lúc, bao trái để tránh sâu. Một ký mít giá 40 ngàn, như trái mít này hơn chục ký, mà một cây mít cũng hơn 10 trái. Cây trồng cũng đừng tham ken dày quá, cứ cách nhau 3 thước để đất còn thở, cây cũng được nắng gió chan hòa, không tranh giành che khuất nhau. Cây mít lại cho trái quanh năm...”.
Nghe chị nói mà mê, tôi được truyền cảm hứng nghề làm nông, ước gì mình cũng có một vườn mít ở Tân Hòa! Vâng, chan hòa, hòa hợp, tất cả đều được đón nắng gió, không che khuất ai để tận hiến và hạnh phúc. Triết lý của chị Bảy Đông, cô bé sống sót trên cánh đồng 41 năm nào, giản dị đến nao lòng!
T.H

Chị Bảy Đông và con trai Huỳnh Đông Hải trên cánh đồng 41 năm 2000. Em mất năm 2021 trong dịch Covid-19...

Giờ tôi lại rơi nước mắt vì hạnh phúc khi mang “Tình Deagu” về Cánh đồng 41 đọc cho chị Bảy Đông nghe...

Tôi lại rưng rưng nhìn chị chùi xoong nồi ngoài cầu ao...

Chị Bảy Đông trên cánh đồng 41, năm 2024

Chị Bảy Đông cùng con trai út Huỳnh Đông Hồ, dâu và cháu nội... trước bia tưởng niệm cánh đồng 41...

Con trai út Huỳnh Đông Hồ đưa mẹ và tôi đi thăm cánh đồng 41...

Bà mẹ VNAH Phạm Thị Thạnh, có chồng và con gái hy sinh. Gia đình mẹ 11 người con, cháu bị thảm sát...