TIN TỨC

Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-31 08:52:51
mail facebook google pos stwis
600 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.

 

Trước cổng đình Thổ Hà. Ảnh tác giả cung cấp.

 

Theo chân bạn bè du xuân về miền đất phật ở bên phía Tây của dãy núi Yên Tử, chúng tôi có dịp trở lại làng Thổ Hà, ghé thăm ngôi đình cổ, từng nổi tiếng với bức cửa võng, vừa mới được nhà nước xếp hạng bảo vật quốc gia và cũng để hoài niệm về cái nghề làm gốm từng làm cho Thổ Hà một thời vang bóng khắp cả mọi miền. Trở lại ngôi làng nhỏ bên dòng sông êm đềm nước chảy lần này chúng tôi thấy Thổ Hà đã có không ít đổi thay, trong đó có những đổi thay làm ngẩn ngơ người. Bây giờ, con sông bao quanh làng không còn thơ mộng như câu hát ngày xưa; trong làng không còn nhiều những lò gốm nhấp nhô, đỏ lửa đêm ngày; bên làng, trên các bến nước cũng không còn cảnh sầm uất trên bến dưới thuyền như trong câu thơ của thi sĩ Vũ Quần Phương ngày nào: “Làng gốm cữ này đang độ lửa/ Khói cỏ de thơm khắp cả làng/ Thuyền đinh khoang nặng đang rời bến/ Thanh Nghệ xuôi vào, Tuyên Thái sang...” (Làng gốm Thổ Hà). Và, làng Thổ Hà cũng không còn thuộc diện thôn quê nữa. Cùng với sự “lên đời” của huyện Việt Yên (tỉnh Bắc Giang cũ) thành Thị xã, sau lại sáp nhập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, nên về mặt hành chính, làng Thổ Hà cũng không còn gọi là thôn, xã … mà đã trở mình thành phường, thành phố; phường Vân Hà của tỉnh Bắc Ninh. Tuy vậy cái nét nhà quê của một làng nghề vốn không có ruộng, không có đồng; nằm ở sát ven sông vẫn cứ hiển lộ rõ ràng ra mặt phố như chẳng thể nào trộn lẫn vào đâu được. Làng nhỏ Thổ Hà vẫn còn nguyên “mái nhà thôn san sát nhau”; đường gạch, ngõ nhỏ vẫn cứ nối tiếp, quanh co, ngang dọc như những ngày xưa. Ngắm nhìn Thổ Hà bây giờ người ta thấy có khác xưa chăng thì cũng chỉ là thấy mất đi cái thứ từng làm lên cho tên tuổi của làng vang danh, lẫy lừng thiên hạ mấy trăm năm. Đó là không còn những dãy chum, chĩnh, tiểu, vại, lọ, bình hay các loài linh vật … bằng đất hay bằng sành xếp đầy trong sân, trong vườn hay bên những đường đi lối lại để chờ ngày vào lò hoặc đợi xếp lên thuyền xuất bến. Và thay vào chỗ đó là các tấm phên nứa, phên tre chất đầy những chiếc bánh đa đem hong, đem phơi trên khắp ngả đường, ngõ xóm, sân đình, sân chùa… bất kể chỗ nào có đất để trống. Thổ Hà bây giờ vẫn là làng nghề, một làng nghề trong phường. Nhưng đó là làng nghề làm bánh đa, bánh tráng thay cho nghề làm gốm cổ truyền, từng có tuổi đời dễ đến gần chín trăm năm.

Đến làng Thổ Hà, chúng tôi qua sông Cầu, từ bên bờ Nam chúng tôi qua đò để sang làng ở bên bờ Bắc. Đứng bên này sông, nhìn sang bên kia; hình ảnh bến nước, cây đa, mái đình của Thổ Hà, cũng là một cảnh quan điển hình của làng quê Bắc Bộ, theo nhau hiện ra rất đẹp trong tầm mắt. Có thể nói, nhìn tổng thể, phong cảnh của làng Thổ Hà rất hữu tình. Dường như trời phú cho Thổ Hà một địa thế ba bề sông nước mà hiếm có làng quê nào có được. Phía Bắc của làng, xa xa là những đồi núi thấp, giống như một điểm tựa chắc chắn để ngả lưng tựa vào; ba bề còn lại của làng được dòng nước mát lành của con sông Cầu bao bọc. Ngắm nhìn địa thế ngôi làng như thế, ta mới thấy, Thổ Hà không chỉ có một vị trí thuận lợi giao thương (nhất cận thị nhị cận giang) mà còn là một thế đất phong thuỷ rất cát tường (tựa sơn đạp thuỷ). Như thế bảo sao làng không phát, cư dân không giàu cho được! Cái sự thịnh vượng ấy trải suốt bao đời và nay vẫn còn giữ nguyên như vậy. Những nhà cao tầng nối tiếp nhau, mọc lên san sát; người xe qua lại dập dìu, tấp nập; cửa hàng len lỏi vào tận trong từng ngõ xóm; hàng nghề phơi trải khắp cả làng … Ngắm nhìn những thế lòng khách không khỏi mừng vui cho người Thổ Hà. Ấy vậy ngẫm đến nghề xưa khách đến lòng nào cũng không khỏi ngậm ngùi, luyến tiếc.

Thăm thú đình, chùa, văn chỉ, điếm xóm của làng Thổ Hà chúng tôi thấy những nét xưa vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn. Và qua những gì lưu giữ được ấy người ta cũng phỏng đoán được sự trù phú của ngôi làng ở trong quá khứ. Hẳn, nếu không phải là nơi có của ăn của để thì Thổ Hà làm sao có được những ngôi đình, ngôi chùa …  đồ sộ và tinh xảo đến như thế. Chỉ tính riêng ngôi đình thôi, người ta thấy dân Thổ Hà chẳng hề kém cạnh với những ngôi làng vốn nổi tiếng có đình to, đình đẹp ở trong và ngoài tỉnh. Theo bia ký, ngôi đình được làm vào năm 1685 (năm Chính Hoà thứ 6), cửa võng làm vào năm 1692 (năm Chính Hoà thứ 13). Nghe kể, đương thời, ngôi đình đã nổi tiếng đất Kinh Bắc; sau này, đến thời Pháp, chính quyền cũng phải công nhận và xếp hạng trong Viện bảo tàng Bác Cổ Đông Dương; khi đất nước được độc lập, một lần nữa, rất sớm, năm 1960, đình được lại nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa; đặc biệt vừa qua, tháng 2 năm 2026, cụm di tích ở Thổ Hà, trong đó có ngôi đình lại được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.

 

Bờ tường được xây bằng những tiểu sành. Ảnh tác giả cung cấp.

 

Đình làng Thổ Hà nằm bên sông, trên diện tích ước chừng khoảng ba ngàn mét vuông, nhìn về hướng Tây – Nam. Nhìn tổng thể, ngôi đình được thiết kế theo hình chữ Công, gồm Tiền tế - Ống muống – Đại bái; trông rất bề thế. Toà nhà Đại bái dài hai mươi bảy mét, rộng mười sáu mét, gồm năm gian chính và hai gian phụ với bốn mái dài rộng, lợp ngói mũi hài; trên nóc đình đắp nổi đôi rồng chầu mặt trời rất đẹp, các góc đình đắp đầu đao uốn lượn cong vút, mềm mại, duyên dáng. Trong nhà Đại bái có bốn mươi tám cột lim to, hơn người ôm; chia thành tám hàng cột ngang và sáu hàng cột dọc, kê trên các tảng đá màu xanh. Ngôi nhà Tiền tế gồm ba gian hai trái. Nối nhà Tiền tế và Đại bái là nhà Ống muống. Kiến trúc nhà Tiền tế đơn giản hơn nhà Đại bái. Bốn mặt Bái đường có bưng chấn song gỗ, gối lên tường gạch xây thấp; nóc nhà làm theo kiểu chồng rường kết hợp giá chiêng. Trên các đầu kẻ, đầu dư, đầu bẩy, ván nong, cốn … có chạm rồng, phượng, lân, ly, hươu, ngựa, hổ, báo trong các tư thế sống động; đặc biệt hơn là có các hình thiếu nữ búi tóc, chít khăn, mặc váy hoặc yếm với nét mặt rạng rỡ, thân hình nở nang trong tư thế đang cưỡi phượng, đè rồng hoặc nhảy múa ... bằng các thủ pháp chạm lộng, chạm kênh, chạm bong rất tinh xảo.

Phải nói rằng, ngôi đình Thổ Hà tuy đã qua nhiều lần trung tu nhưng cơ bản đường nét kiến trúc vẫn mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Đặc biệt, trong đình còn giữ được bức cửa võng thếp vàng chạm trổ rất lộng lẫy, xứng đáng được xem là một tinh hoa nghệ thuật. Bức cửa võng được đặt ở trước Hậu cung. Nó vừa có chức năng ngăn cách không gian tâm linh nhưng đồng thời cũng là điểm nhấn trang trí ở trung tâm khu thờ tự. Cửa võng của đình Thổ Hà có chiều cao bốn mét chín, chiều rộng bốn mét ba; được chạm khắc theo nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau một cách rất tinh tế. Ở đấy người ta thấy có kỹ thuật bong kênh kết hợp kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng, chạm nổi để tạo ra nhiều lớp, nhiều tầng không gian khác nhau trên cùng một miếng gỗ, trong cùng một đề tài ... Nhìn cụ thể, bố cục của cửa võng này được chia làm ba tầng. Tầng thứ nhất (trên cùng) có hai lớp diềm chồng lên nhau, chạm hoạ tiết vân mây và các hình rồng cuốn cột. Những hình rồng được đục rất đẹp trong tư thế đang vươn mình, đầu quay về phía cửa khám, thân uốn khúc, chân trước vuốt râu. Tầng thứ hai (ở giữa) có ba lớp chạm với đề tài “lưỡng long chầu nhật”. Những con rồng này có mắt to, miệng ngậm ngọc, mũi gồ lên cao, tóc xòe ra và hơi lượn sóng. Giữa những bức tranh rồng có bốn bức đố chạm tùng, trúc, cúc, mai. Tầng thứ ba (phần cuối cùng) chạm những hình đao mác. Điểm đặc biệt trong phần này là hình rồng uốn lượn với những chiếc đầu chầu vào nơi trung tâm, chân trước đưa ra vuốt râu, các chân còn lại nắm các linh thú. Các linh thú xuất hiện ở đây trong bộ dạng đầu ngoảnh lại, miệng nhoẻn cười, trong nhiều tư thế khác nhau; con chạy, con nằm, con đứng … nhìn rất vui mắt. Ngoài ra, ở dưới phần diềm, người ta thấy có hình ảnh của voi - người. Voi nằm phủ phục, người cởi trần đóng khố, hai tay níu ngà voi. Thông thường hình người ở cửa võng rất ít thấy. Phải chăng nghệ nhân chạm khắc bức cửa võng này muốn thể nghiệm sự cách tân. Họ muốn đưa hơi thở của cuộc sống thường nhật vào bức tranh thờ tự ở nơi tối linh.

Đến hẹn lại lên, sau tết, từ ngày hai mươi đến ngày hai mươi hai tháng Giêng, dân làng Thổ Hà lại mở hội để tưởng nhớ, tri ân Lão Tử và tổ sư nghề gốm Đào Trí Tiến. Tương truyền, tổ sư Đào Trí Tiến đã cùng với các ông Hứa Vĩnh Cảo, Lưu Phong Tú được cử đi sứ Bắc Tống. Trên đường đi sứ về, khi đi qua Thiều Châu (Quảng Đông) đoàn sứ bộ gặp bão nên phải nghỉ lại. Trong thời gian này ba ông đã học được nghề làm gốm ở đây. Tan bão, các ông về nước. Ông Đào Trí Tiến dạy cho làng Thổ Hà cách làm gốm với màu thẫm (đỏ gạch, đỏ sẫm, nâu sẫm); ông Hứa Vĩnh Cảo dạy cho làng Bát Tràng cách gốm men trắng (men trắng vẽ hoa lam); ông Lưu Phong Tú dạy cho làng Phù Lãng cách gốm màu vàng thẫm (vàng da lươn)... Và cũng bắt đầu từ đây, Thổ Hà, Bát Tràng, Phù Lãng là ba nơi làm gốm nổi tiếng trong cả nước. Theo đó gốm làng Thổ Hà cũng từng có mấy trăm năm phát triển huy hoàng. Trong ký ức của người dân Thổ Hà, lúc hưng thịnh cả làng có đến hơn tám mươi lò gốm, mỗi lò cao khoảng hơn hai mét, rộng từ hai mươi đến ba mươi mét vuông. Nhưng sự hưng thịnh ấy nay đã tàn phai. Dấu xưa của nghề gốm chỉ còn lại một ít nền móng lò cũ hay phế phẩm sành trên những tường rào hoặc tường nhà. Giờ đây nghề làm bánh đa đã thay cho nghề làm gốm để dân làng kiếm kế sinh hai. Tuy vậy, người làng Thổ Hà vẫn không quên nghề xưa. Mỗi khi có khách hỏi thăm về gốm Thổ Hà, người già trong làng ai nấy mắt sáng lên và lại bắt đầu câu chuyện ngày xưa.

Có bà lão bán nước bên bến sông kể rằng, ngày xưa, gốm Thổ Hà nức tiếng. Chum thổ Hà gõ kêu koong koong, đổ nước vào không thấm. Chum vại, tiểu quách, bình lọ … của làng Thổ Hà làm từ đất nung lên thành sành, không cần thoa men mà vẫn bóng đẹp (nung cho đến khi đất chảy thành men bóng, màu son hoặc nâu đen, nâu đỏ). Đất làm gốm là loại đất sét; được lấy lên từ các gò đống, trên những bãi sông và mua ở các vùng phụ cận mang về. Bà bảo, để có một sản phẩm gốm, người thợ ở Thổ Hà phải làm sạch đất, phơi khô tự nhiên, nghiền nhỏ và loại bỏ tạp chất; rồi đem ngâm nước, nhào trộn kỹ và ủ cho dẻo, cho mịn sau mới tạo thành hình dáng sản phẩm; làm thành sản phẩm rồi đem phơi, đem sấy thật khô, sau cất vào lò để nung. Quá trình tạo ra một sản gốm khâu nào cũng quan trọng nhưng quan trọng nhất là khâu tạo hình (làm ra sản phẩm đẹp hoặc không đẹp) và nung gốm (quyết định sự thành bại của sản phẩm). Khâu tạo hình đòi hỏi người làm gốm phải có “hoa tay” nhưng khi nung gốm đỏi hỏi người thợ phải có kinh nghiệm và đây là bí quyết riêng của mỗi người chủ lò (lò sư - thầy đốt lò). Người ta nung gốm trong lò, kéo dài từ hai đến ba ngày, nhiệt độ có khi lên tới một ngàn hai trăm độ. Trong suốt quá trình nung, người thợ lò phải thường xuyên quan sát, điều chỉnh lửa để cho phù hợp với sản phẩm, không bị nứt vỡ và có được sắc màu như mong muốn. Bà lão khoe chum Thổ Hà từng có cái làm rất to, hai ba người ngồi trong chum cũng được, muốn vào bên trong chum phải bắc thang leo lên; tiểu, quách rất cứng và đẹp, không bị sứt mẻ. Chum, vại không bị thấm nước; muối dưa không bị khú vì đất được nung đến cứng như sắt mới thôi. Bởi thê gốm làng Thổ Hà rất sắc. Mảnh vỡ của gốm có thể cắt, cứa như dao.

Say xưa kể chuyện nhưng rồi bà lão cũng khẽ bảo, nghề gốm cũng đã mai một mất rồi, có lẽ rồi cũng sẽ mất; làng giờ rất ít thợ gốm, cả làng cũng chỉ còn một lò gốm. Lò ấy làm gốm cũng chỉ để cung cấp cho du lịch mà thôi. Nghề gốm làng bà có lẽ mất, bà nhắc đi nhắc lại. Rồi bà chỉ cho tôi bức tường và ngôi được làm bằng gốm phế phẩm (những sảm phẩm gốm bị lỗi trong quá trình nung) với nỗi niềm đầy hoài niệm, luyến tiếc và cũng như để minh chứng cho những điều mình vừa kể xong; để ký ức được trở về với một thời hoàng kim của nghề gốm Thổ Hà. Kể xong rồi bà lại khoe. Bà khoe làng bà có nghề làm bánh đa (bánh đa dừa và bánh đa nem). Mất nghề gốm nhưng còn được nghề làm bánh đa. Cái nghề ấy thay cho cái nghề làm gốm để làng mưu sinh. Rồi bà chỉ ra, khắp nơi trong làng, chỗ nào cũng có phên phơi bánh đa. Có lẽ bà chẳng chỉ thì du khách đến làng ai cũng trông thấy. Bánh đa phơi bên đường, dựa vào tường nhà, tường rào; trên bờ sông; sân đình, sân chùa … cứ chỗ nào hở đất là có ngay những phên bánh đa phơi nắng, hong gió. Hơn thế nữa bánh đa Thổ Hà cũng nức tiếng trong vùng ai chẳng đã từng nghe. Thế đấy, đất chật, người đông; đồng không, bãi chẳng có … dân Thổ Hà không đi buôn thì cũng làm nghề… Nghề ấy đem lại miếng cơm cho Thổ Hà nhưng cũng làm cho làng cổ vốn thanh bình cũng trở nên bừa bộn. Ngay cả cái chốn tôn nghiêm, nơi thơ tự cũng ngập tràn nhưng phên nứa phơi những chiếc bánh đa. Cũng đành thôi, kế sinh nhai của cả dân làng, biết làm sao?

Lang thang trên “bán đảo” Thổ Hà tôi chợt nhận ra nơi này thật lạ. Lên phường mà chẳng ra “phố”, vẫn cứ mộc mạc thôn quê với bến nước, gốc đa, mái đình … bên cổng làng rêu phong. Nhưng bảo Thổ Hà là thôn quê thì cũng chẳng phải, bởi nông dân ở làng đâu có đồng, có ruộng để trồng lúa, trồng ngô kiếm kế sinh nhai; chẳng những vậy, mật độ dân cư ở Thổ Hà cũng chẳng thua kém gì ở nơi thành phố. Dạo quanh làng Thổ Hà ta cũng thấy hầu như chỉ có đường nhỏ, ngõ nhỏ … dài, sâu hun hút; san sát mái nhà… chẳng khác gì ngõ nhà ở trong phố cổ. Càng nghĩ càng thấy Thổ Hà độc đáo. Đúng là trời sinh, dòng sông Cầu bắt nguồn từ đỉnh Phja Bjoóc thuộc dãy Văn Ôn, trên địa phận tỉnh Thái Nguyên (trước đây là Bắc Kạn) chảy theo hướng Nam thế nào đến Vân Hà lại vặn mình đổi sang hướng Bắc để sinh ra làng Thổ Hà, nhô ra như một bán đảo với ba dề dập dìu sóng nước êm đềm. Cái “bán đảo” ấy tuổi đời nay cũng có đến hàng ngàn năm tuổi. Cái tuổi đời như thế cùng những với mái đình, mái chùa, đền, miếu, bến nước, cổng làng cổ kính và đặc biệt là những ngôi nhà, bờ tường làm bằng sành, bằng gốm …khiến cho Thổ Hà xứng đáng được xem là một làng di sản. Nhưng rồi cũng không biết những ngôi nhà, bờ tường di sản kia có còn trụ được trên “bán đảo” Thổ Hà bao lâu nữa hay lại như số phận của những lò gốm đã từng sinh ra nó. Đi trên ngõ nhỏ Thổ Hà nghĩ vậy, tiếc và hoài niệm!

Bài, ảnh: Phan Anh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm