TIN TỨC

Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-04-24 15:00:15
mail facebook google pos stwis
724 lượt xem

Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời. Từ nhạc sĩ Trương Quang Lục, Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang đến những vị tướng từng đi qua chiến tranh, “Nhị vị tiền bối” là lời tri ân lặng lẽ mà sâu sắc của một người trong cuộc – khi nhìn lại những giá trị tinh thần vẫn còn tiếp tục lan tỏa đến hôm nay.

TRẦN THẾ TUYỂN

NHỊ VỊ TIỀN BỐI (I)

Từ thuở học sinh, tôi đã yêu thích ca khúc Vàm Cỏ Đông của nhạc sĩ Trương Quang Lục. Năm 1969, trước ngày nhập ngũ, trong vai trò quản ca lớp 10A, tôi được bạn bè tín nhiệm trình bày ca khúc này. Nhiều năm sau, từ 1972 đến 1989, tôi cùng đồng đội chiến đấu dọc tuyến biên giới Tây Nam – nơi hai dòng sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây hiện diện như những chứng tích sống động của một thời lửa đạn.

Năm 2008, tôi về công tác tại Báo Sài Gòn Giải Phóng, nơi nhạc sĩ Trương Quang Lục từng là Trưởng ban Khoa giáo. Mới đây, tại Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, gặp lại ông ở tuổi chín mươi ba, vẫn minh mẫn và tâm huyết, tôi càng cảm nhận rõ hơn mối liên hệ bền chặt giữa văn học và âm nhạc. Ông chia sẻ: “Nhờ các nhà văn, nhà báo có lời, chúng tôi mới có thể sáng tạo nên những ca khúc đi vào cuộc sống”.

Tác giả với NS Trương Quang Lục.

Từ câu chuyện ấy, nhớ đến nhà thơ Hoài Vũ – tác giả bài thơ Vàm Cỏ Đông – có thể thấy sự gặp gỡ giữa thi ca và âm nhạc đã tạo nên một tác phẩm sống cùng năm tháng. Đáng chú ý, khi phổ nhạc bài thơ này, nhạc sĩ Trương Quang Lục chưa từng gặp tác giả. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai ông cùng công tác tại Báo Sài Gòn Giải Phóng – môi trường báo chí đã góp phần kết nối, lan tỏa những giá trị văn học nghệ thuật đến công chúng.

Cũng trong mạch nguồn ấy, cuộc gặp lại Nghệ sĩ nhân dân Trà Giang – một trong những gương mặt tiêu biểu của điện ảnh cách mạng Việt Nam – gợi nhiều suy ngẫm. Là người con Quảng Ngãi, vùng đất Núi Ấn sông Trà, bà không chỉ ghi dấu ấn qua các vai diễn mà còn để lại hình ảnh một nghệ sĩ giàu nội lực sáng tạo. Những năm sau 1990, khi tham gia Ban giám khảo cuộc thi “Người đẹp xứ Dừa” tại Bến Tre, bà cùng các nghệ sĩ tên tuổi như Nghệ sĩ nhân dân Trần Minh Ngọc đã góp phần tôn vinh vẻ đẹp văn hóa, con người Nam bộ.

Tác giả với NSND Trà Giang.

Điều đọng lại sâu sắc là tình cảm và nguồn cảm hứng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại trong tâm hồn người nghệ sĩ. Nghệ sĩ nhân dân Trà Giang nhiều lần vinh dự được gặp Bác, và chính từ đó, bà không chỉ thêm vững vàng trên con đường nghệ thuật mà còn tìm thấy nguồn cảm hứng bền bỉ trong hội họa.

Kỷ niệm năm mươi mốt năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhìn lại những cơ duyên gặp gỡ và cống hiến của hai gương mặt tiêu biểu trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, càng thêm trân trọng những giá trị tinh thần đã góp phần làm nên chiều sâu văn hóa của dân tộc trong và sau chiến tranh.
 

NHỊ VỊ TIỀN BỐI (II)

Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi không trực tiếp là cán bộ dưới quyền ông. Năm 1974, tôi công tác tại ban tuyên huấn trung đoàn, khi ấy ông là Sư đoàn trưởng, thay ông Út Liêm được điều động lên làm Phó Tư lệnh Binh đoàn 232.

Mối gắn bó thực sự giữa tôi và ông chỉ bắt đầu khi tôi về công tác tại Báo Quân đội Nhân dân, lúc đó ông là Tư lệnh Quân đoàn 4. Thầy trò gặp nhau, câu chuyện dường như không bao giờ dứt. Không chỉ bởi tôi từng là người lính dưới quyền ông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh – chiến dịch kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài hàng chục năm – mà còn bởi giữa chúng tôi có một sự đồng cảm sâu sắc về nhân tình thế thái.

Tác giả với Thiếu tướng Vũ Văn Thược và Trung tướng Lê Nam Phong.

Tôi chỉ là lớp con cháu, nhưng ông luôn gọi tôi một cách thân tình là “ông nhà báo”. Ông là Thiếu tướng Vũ Văn Thược, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4.

Vị tiền bối thứ hai tôi muốn nhắc đến là Trung tướng Lê Nam Phong, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 1, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 2.

Khi ông Vũ Văn Thược làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 thì ông Lê Nam Phong là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7. Đó là hai vị sư đoàn trưởng lừng danh, không chỉ được cán bộ, chiến sĩ kính trọng mà còn khiến đối phương khiếp sợ. Khi ấy từng lan truyền tin đồn, phía địch treo thưởng hàng chục nghìn đô la Mỹ cho ai lấy được “thủ cấp” của hai vị sư đoàn trưởng này.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh cách đây năm mươi mốt năm, trong đội hình Binh đoàn 232 do ông Năm Ngà làm Tư lệnh, ông Út Liêm làm Phó Tư lệnh, ông Năm Thược chỉ huy Sư đoàn vượt qua “cánh đồng chó ngáp” từ biên giới tiến về giải phóng thị xã Tân An. Sau khi giải phóng Đà Lạt, ông Lê Nam Phong chỉ huy Sư đoàn 7 bôn tập dọc Quốc lộ 20, bao vây và tiến công Xuân Lộc – “cánh cửa thép” phía đông Sài Gòn.

Hai cánh quân của hai ông đã gặp phải sự chống trả quyết liệt. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh ngay trước giờ toàn thắng.

Lịch sử có những trớ trêu. Sư đoàn 7 của ông Lê Nam Phong được giao nhiệm vụ cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Nhưng trong khoảnh khắc quyết định, một đơn vị của Quân đoàn 2 đã đến sớm hơn và cắm cờ trên nóc dinh – sào huyệt cuối cùng của chế độ cũ. Đến chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 7 mới tiến vào.

Ảnh 4: Với Trung tướng Lê Nam Phong

Nhận bàn giao từ Quân đoàn 2, Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong chỉ cười, nói giản dị: “Không sao. Các đồng chí đến sớm thì cắm cờ trên cao. Chúng tôi đến muộn một chút thì cắm cờ dưới sảnh. Quân giải phóng cắm được cờ trong thời khắc lịch sử là tốt rồi.”

Vị tướng được mệnh danh là “ông Năm Lửa” ấy cũng có những phút mềm lòng. Có lần đứng trước Tượng đài Chiến thắng Xuân Lộc, ông rơi nước mắt và nói: “Tôi còn nợ các bà mẹ, các gia đình liệt sĩ nhiều lắm. Tại nơi này, hàng nghìn anh em đã hóa thân vào đất đai Tổ quốc. Không biết bao giờ chúng ta trả được món nợ này.”

Hai vị tiền bối, hai vị tướng, hai người lính từng đi qua Điện Biên, nay đã về với tổ tiên. Tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh, hai ông nằm cạnh nhau, như vẫn tiếp tục sát cánh bên nhau sau mấy chục năm binh nghiệp dưới ngọn cờ của quân đội nhân dân.

Mỗi lần đến viếng, tôi không quên mang theo một chai rượu đế. Rót rượu mời hai ông, tôi như thấy ánh mắt quen thuộc ấy nheo lại, ấm áp và hóm hỉnh: “Ông nhà báo quân đội có gì mới không? Món nợ của chúng ta thì không bao giờ trả hết…”

Thành phố Hồ Chí Minh, những ngày cuối tháng Tư năm 2026.

TTT

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm