TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-08-26 18:33:12
mail facebook google pos stwis
3581 lượt xem

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN ĐỨC HẢI
Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Quốc phòng  - BQP

Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng vẻ vang của Đại tướng gắn liền với những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đặt ra những yêu cầu và thách thức mới. Nghiên cứu, vận dụng và phát huy tư tưởng, nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ mang ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn có giá trị thực tiễn cao, là kim chỉ nam quý giá để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân ủy Trung ương và Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là đỉnh cao của chiến tranh nhân dân. Trong đó, nghệ thuật chỉ huy tác chiến nổi bật với tư duy tầm chiến lược sâu sắc, mang tính bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mốc son là chiến dịch Điện Biên Phủ, chính là sự thay đổi từ phương châm đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc, một quyết định thể hiện tư duy quân sự thiên tài khi cân nhắc kỹ lưỡng tương quan lực lượng trên chiến trường. Điều kiện thay đổi, Đại tướng đã dũng cảm đưa ra quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân: kéo pháo ra, bố trí lại thế trận, chuẩn bị công phu để đảm bảo chắc thắng 100% mới đánh. Quyết định đó khẳng định nghệ thuật nắm bắt thời cơ và đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch. Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn quán triệt và vận dụng xuất sắc tư tưởng chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính. Dưới sự chỉ huy của Đại tướng, quân đội ta luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân như cá với nước. Nghệ thuật tác chiến không chỉ dựa vào bộ đội chủ lực mà là sự kết hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Sức mạnh của chiến tranh nhân dân tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, biến mỗi làng xã thành một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ tiêu diệt địch. Bên cạnh đó, nghệ thuật quân sự của Đại tướng luôn coi trọng việc tạo thế, lập thời, nắm thời cơ và chuyển hóa thế trận thông qua nghệ thuật nghi binh, điều địch, bắt địch phải phân tán lực lượng để đối phó. Đại tướng luôn chủ trương giành quyền chủ động chiến dịch, chiến lược, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta, đưa chúng từ thế chủ động sang thế bị động, từ đó tạo ra điểm huyệt quyết định trên chiến trường. Đặc biệt, Đại tướng luôn kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao, luôn nhấn mạnh chính trị trọng hơn quân sự, người trước súng sau, bởi sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân không chỉ nằm ở vũ khí trang bị kỹ thuật mà trước hết nằm ở lòng yêu nước, tinh thần quyết chiến quyết thắng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh và tình đoàn kết quân dân.

Ngày nay, tình hình thế giới và khu vực đang trải qua những biến động sâu sắc, cục diện địa chính trị thế giới và sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cùng sự xuất hiện của các hình thức tác chiến mới như chiến tranh không gian mạng, chiến tranh điện tử và tác chiến phi đối xứng đặt ra những thách thức hoàn toàn mới đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Vận dụng tư tưởng và nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào giai đoạn hiện nay đòi hỏi sự sáng tạo, đổi mới toàn diện nhưng vẫn giữ vững những nguyên tắc cốt lõi của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trước hết, kiên trì phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, chủ động trong chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự. Học tập tư tưởng chủ động, đánh chắc thắng của Đại tướng, trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta không thể để bị động hay bất ngờ chiến lược; việc xây dựng tiềm lực quốc phòng phải được tiến hành đồng bộ thông qua việc củng cố thế trận lòng dân vững chắc, chủ động nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình và đẩy mạnh tự chủ quốc phòng, phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự cường, lưỡng dụng. Bên cạnh đó, tập trung xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên các địa bàn, hướng chiến lược kết hợp với xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân hiện đại, trên không gian mạng và các môi trường tác chiến mới. Vận dụng nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Đại tướng, chúng ta phát huy tối đa vai trò của toàn dân, toàn hệ thống chính trị trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Mỗi cơ quan, tổ chức và người dân nâng cao cảnh giác, tham gia bảo đảm an ninh mạng quốc gia; kết hợp chặt chẽ tác chiến truyền thống với tác chiến hiện đại trên không gian mạng, làm chủ công nghệ lõi và trang thiết bị trong chiến tranh công nghệ cao.

Bên cạnh đó, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại luôn đi đôi với việc rèn luyện bản lĩnh chính trị và năng lực tác chiến hiện đại. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định con người là nhân tố quyết định thắng lợi; do đó, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh luôn gắn liền với việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Chúng ta chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược có tư duy quân sự nhạy bén, khả năng thích ứng cao với phương thức tác chiến hiện đại, đồng thời đổi mới nội dung, chương trình huấn luyện, đào tạo quân sự, vận dụng linh hoạt nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông vào việc vận hành hiệu quả các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. Phát huy nghệ thuật ngoại giao quốc phòng trong tổng thể ngoại giao Đảng, Nhà nước, nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc theo phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến", kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Vận dụng tư tưởng đó vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi chúng ta kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; thực hiện nhất quán nguyên tắc kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc nhưng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Với cuộc đời vẻ vang và những cống hiến to lớn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - một nhân cách lớn đã trọn đời hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Tư tưởng quân sự và nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là di sản vô giá trong kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen, việc vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm từ cuộc đời cầm quân lỗi lạc của Đại tướng sẽ tiếp thêm sức mạnh tinh thần to lớn. Đó là cội nguồn sức mạnh để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định để đất nước phát triển, ngày càng phồn vinh và hạnh phúc.

TP.HCM, 25.08.202
N.Đ.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm