TIN TỨC

Có một người thương binh như thế

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-26 09:10:25
mail facebook google pos stwis
1282 lượt xem

NGUYÊN ANH

Anh, một người lính xuất thân từ một vùng quê nghèo miền Trung gió lào, cát trắng. Từ giã tuổi học trò khi đang học dở Lớp chín, trốn cha và nhờ bạn khám tuyển thay, Anh xung phong nhập ngũ khi vừa tròn 16 tuổi, ra đi mang theo nhiệt huyết của lớp trẻ Việt Nam trong những năm đánh Mỹ:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai

Anh từng là người lính trinh sát rồi đặc công dũng cảm, đầy mưu trí có mặt trên các chiến trường Nam Lào, Quảng Trị Thừa Thiên Huế trong những năm chống Mỹ cam go, ác liệt nhất từ năm 1964 - 1971. Với trí nhớ đặc biệt và sự thông minh trời phú cùng với tính gan góc của người dân xứ Nghệ, Anh đã nhanh chóng trưởng thành trong chiến trận, có vai trò quyết định khi chỉ huy nhiều trận đánh trên chiến trường Trị Thiên. Cũng như bao người lính cùng thời, Anh đã nếm trải những gian khổ, hiểm nguy nơi chiến trường khốc liệt, từng vào ra sinh tử chiến đấu cùng với đồng đội.


Trung tướng, nhà văn Nguyễn Mạnh Đẩu.

Anh, một người lính đã từng viết Di Chúc trong những ngày cam go ác liệt nhất, khi vừa tròn hai mươi tuổi để gửi Cha mình như một lời hứa danh dự kế thừa truyền thống gia đình, dòng họ: Sống hết mình vì Tổ quốc, quê hương. Anh đã sống và chiến đấu đúng như lý tưởng của mình, những trận địa trinh sát gay go nhất Anh đều có mặt, những trận đánh ác liệt nhất Anh đều tham gia trong vai trò vừa chỉ huy, vừa chiến đấu. Hòn tên mũi đạn chẳng chừa ai. Sau bảy năm chiến đấu, năm 1971, Anh bị thương nặng trong một trận chiến đấu ở chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Một viên đạn của kẻ thù đã chui sâu vào lá phổi của Anh. Do bị mất máu nhiều và vết thương quá nặng, tưởng chừng không qua khỏi, anh đã nói lời trăng trối cùng đồng đội, nói lời chào từ biệt mọi người. Với tia hi vọng hết sức mong manh, đồng đội đã chuyển Anh về tuyến sau cứu chữa. Sau nhiều tháng vật lộn với tử thần, Anh đã được hồi sinh nhờ sự tận tâm của các y, bác sỹ quân y, và có lẽ cũng nhờ sự che chở của Tổ tiên linh thiêng hướng tới người con ưu tú của dòng họ Nguyễn Đình. Anh được chuyển về Quân y viện 108 với một cơ thể suy nhược, gầy gò, nặng chỉ còn 36 kg, và không thể tự phục vụ được mình, cùng với viên đạn nằm vĩnh viễn trong cơ thể. Tỷ lệ thương tật của Anh lên tới 63% ( sau này cộng thêm 35% nhiễm chất độc da cam ). Tính ra, Anh đã để lại nơi chiến trường phần lớn sức khỏe của mình. Anh trở thành một thương binh! Hồi đó, Anh có thể được giải ngũ trở về quê hương như bao nhiêu người thương binh khác. Thế nhưng, Anh vẫn muốn được tiếp tục theo đuổi con đường binh nghiệp mà Anh đã lựa chọn. Phải chăng, đây là số phận của Anh? Anh đã chọn binh nghiệp hay binh nghiệp lựa chọn Anh - một con người TRÍ DŨNG SONG TOÀN.

Rời chiến trường, Anh được điều về công tác ở Cục Chính sách TCCT. Cố quên đi những nỗi đau đớn của thương tật, bằng ý chí, nghị lực và sức trẻ , anh đã miệt mài làm việc và hối hả học tập như để bù đắp lại những năm tháng chiến đấu ở chiến trường đã phải gác bút nghiên. Khi không còn tuổi học sinh nữa, Anh tham gia học bổ túc văn hóa. Mặc dù nghỉ học đã ngót mười năm, nhưng khi đi học lại bổ túc chương trình Cấp ba, Anh đã đọat giải trong kỳ thi học sinh giỏi Toán BTVH của Thủ đô Hà Nội. Thật đáng nể cho trí tuệ và ý chí của Anh. Sau đó, Anh đã bền chí học hành có hai tấm bằng tốt nghiệp đại học ở Hà Nội

Trên chặng đường công tác của mình, Anh đã trải qua nhiều cương vị khác nhau: Là Cục trưởng Cục Chính sách TCCT; là Phó hiệu trưởng về Chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 1; Là Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật - Bộ Quốc phòng… Ở cương vị nào, Anh cũng cống hiến hết mình và để lại dấu ấn đặc biệt cùng với sự tin tưởng của cấp trên và lòng kính trọng, khâm phục của anh em, đồng đội.

Về tài năng, đức độ và cống hiến của Anh trong chặng đường Binh nghiệp thì đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng cấp bậc quân hàm Trung tướng và các tấm huân chương Chiến công, Quân công cao quý. Một sự đánh giá công lao xứng đáng và một vinh dự lớn lao không chỉ cho cuộc đời Anh mà còn là niềm kiêu hãnh, tự hào cho Gia đình, Dòng tộc, Quê hương. Điều tôi muốn nói tới trong bài viết này là sự trọn nghĩa, vẹn tình của Anh - một người thương binh đối với đồng chí, đồng đội và quê hương.

Là một người từng trực tiếp cầm súng chiến đấu ở chiến trường , từng vào ra sinh tử nơi trận mạc, Anh hiểu những mất mát đau thương cũng như những tâm tư, nguyện vọng của người lính. Do vậy, Anh đã tham mưu và đề đạt nên những chính sách thích hợp và thỏa đáng cho những người có công với cách mạng. Trong đó, không thể không nhắc đến việc phong tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Một việc làm hết sức cao cả, có ý nghĩa nhân văn, thể hiện được đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, sống trọn nghĩa thủy chung của dân tộc ta, góp phần xoa dịu nỗi đau cho các Mẹ và hương hồn các liệt sĩ.

Chiến tranh đã qua đi, nhưng trong Anh luôn khắc khoải nỗi đau đớn, xót thương những người đồng đội vĩnh viễn nằm lại chiến trường. Anh đã gửi lòng mình vào những lời thơ như xé ruột trong những trang thơ viết về đồng đội:

.

Đất nước ta bao năm ròng binh lửa

“Ai đếm nổi khăn tang

Ai đong màu chiến trường”

Ai tính hết số làng quê chìm dưới đạn bom

Chiến thắng- hi sinh, quyện hòa cùng lịch sử

.

Bao mẹ già đau đáu ngóng tin con

Người vợ trẻ trông mong chồng mòn mỏi

Biết bao người ra đi

Xiết bao người chờ đợi.

Chiến thắng rồi...

Ngày đoàn tụ lùi xa!

(Trích “Đất nước ta”- In trong tập Một chữ tình).

Đồng đội có thấu cho chăng, Anh đã giải tỏa nỗi day dứt, nhớ thương của mình vào hồn cốt từng bài thơ như chuyển lời tri âm tới hương linh các anh hùng, liệt sĩ.

Khi đã nghỉ hưu, Anh vẫn không cho phép mình được nghỉ ngơi, Anh lại miệt mài “cày xới trên cánh đồng chữ nghĩa” để sáng tác văn chương. Chỉ trong mấy năm mà Anh đã cho ra đời hai tập thơ với hàng trăm bài thơ để trải lòng mình với anh em, bè bạn. Anh đã ôn lại những năm tháng trong cuộc đời binh nghiệp bằng tập hồi ký : “Những nẻo đường thời gian” như những lời ghi nhớ công lao và tri ân đồng đội. Để quê hương không lãng quên những người có đóng góp nhiều cho Cách mạng, Anh đã tẩn mẩn sưu tầm và viết về “Những tướng lĩnh, anh hùng quê hương Nghi Lộc - Nghệ An”.

Anh còn thể hiện những quan điểm, những chính kiến sâu sắc của mình về nhân sinh, thế thái qua những bài viết trong tập "Suy ngẫm Luận bàn”. Không chỉ dừng lại ở đó, Anh còn tham gia thẩm bình, đánh giá các tác phẩm văn chương một cách hết sức xuất sắc. Thật đáng kính nể cho năng lực và cường độ làm việc của một thương binh như Anh!

Chiến tranh đã lùi xa, Anh đã từ giã cuộc đời binh nghiệp trở về nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Nhưng di chứng của chiến tranh vẫn còn hằn sâu trên cơ thể Anh. Đó là nỗi đau nhức nhối do vết thương hành hạ mỗi khi trái gió, trở trời, khiến Anh nhiều đêm thao thức không ngủ:

Em hỏi, đêm qua ngủ được chăng

Anh rằng, vẫn vậy suốt bao năm

Mỗi bận trở trời y chang thế

Vết thương lại nhức- thức tròn canh !

.

Thỉnh thoảng trở trời , chẳng có sao

Đã quen nhức nhối vết thương đau

Nhớ bao đứa bạn cùng trang lứa

Chẳng có ngày về- để thức đâu !

(Đêm không ngủ)

.

Anh hình như đã quên đi tỷ lệ thương tật và tỷ lệ mắc chất độc da cam trong cơ thể mình để vui sống và tiếp tục làm việc trong quãng đời còn lại. Trong tâm niệm của Anh: So với đồng đội mình còn may mắn hơn nhiều. Như Anh đã thổ lộ trong một bài thơ: «Thuở cả nước hành quân ra trận- Mất mát hi sinh đâu chỉ có riêng mình». Nghĩ sao làm vậy. Anh đã sống với cái tâm coi trọng ân nghĩa bằng tất cả sự thủy chung với quá khứ, với đồng đội. Điều đó được thể hiện bằng hành động đáng trân trọng ở Anh là những chuyến viếng thăm thường xuyên hàng năm của Anh tới các Nghĩa trang liệt sĩ, tới những nơi mà Anh đã từng tham gia chiến đấu. Anh muốn hàng năm được tới viếng thăm đồng đội như một sự trả nghĩa cho đời và tri ân đồng đội. Giờ đây, đã bước qua tuổi “cổ lai hi”, nhưng trong những ngày hè nắng như đổ lửa, gió lào hầm hập như thiêu đốt, không quản ngại đường sá xa xôi, Anh vẫn tiếp tục rong ruổi vào miền Trung, tới nghĩa trang Việt Lào, nghĩa trang Trường Sơn hay đi thăm lại chiến trường Thừa Thiên. Người người đã nghẹn lòng khi nghe đọc những lời văn khấn anh linh đồng đội từ tâm mình viết ra :

Mấy mươi năm sinh tử biệt ly

Đôi ngả âm dương cách trở

Vĩnh hằng đồng đội thấu chăng

Ân tình khôn bề giải tỏ

.

Xin cúi mình tưởng nhớ tri ân

Đồng đội một thời binh lửa

Hỡi vong hồn liệt sĩ anh linh

Tình nặng nghĩa sâu

ngàn sau còn đó

.

Kính cẩn dâng hương.

(Trích: «Văn tế các liệt sĩ ....»

Động lực nào đã tạo nên sức mạnh như vậy cho một người thương binh? Phải chăng, đó là ý chí, là bản lĩnh của người lính chiến xông pha trên chiến trường năm xưa cộng với tình người mang nặng ân nghĩa với cuộc đời. Cho nên, Anh muốn sống hết mình để trả nghĩa cho Đời. Để xứng đáng với sự hi sinh của lớp lớp đồng đội đã đổ xương máu cho Độc lập của Tổ Quốc hôm nay.

Anh rời xa quê khi chỉ mới tròn 16 tuổi, là một thương binh đã có nhiều cống hiến và đóng góp cho đất nước trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước… Ngót 60 năm xa quê, nhưng lòng Anh vẫn đau đáu một nỗi niềm thương nhớ, day dứt khi nghĩ về vùng quê nghèo khó của mình. Anh vẫn băn khoăn mình chưa đóng góp được gì cho quê hương. Anh thương những đứa trẻ vùng thôn quê không đủ sách vở tới trường nhưng vẫn ráng vươn lên học hành chăm chỉ. Trong mỗi chuyến trở về thăm quê, nhìn lại mái trường xưa, Anh như thấy lại tuổi thơ của mình. Để khơi dậy lòng hiếu học cho các cháu học sinh, Anh đã dùng 1 tỷ đồng tiền tiết kiệm của mình để lập Quỹ khuyến học mang tên Anh, gửi cho trường Tiểu học xã nhà. Nghĩa tình sâu nặng của Anh dành cho quê hương thật đáng trân trọng !

Người Thương binh đó không những tài năng và nghị lực mà anh còn là một con người LỊCH LÃM, HÀO HOA, VĂN VÕ SONG TOÀN. Anh, một người lính- một vị Tướng phong trần, lãng tử lại giỏi văn thơ, đàm luận thì khúc triết, sâu sắc, nói năng thấu tình, đạt lý. Ai đã tiếp xúc với Anh thì khó có thể không ấn tượng về Anh. Hơn nữa, ở Anh lại còn có cách sống quan tâm chu đáo tới mọi người, sống vô tư, hết mình, chí tình chí nghĩa, giàu lòng trắc ẩn.

Tôi thực sự khâm phục Anh - Một thương binh giàu ý chí và nghị lực, sống xứng đáng với danh hiệu Anh bộ đội Cụ Hồ, xứng đáng với gia đình, dòng họ giàu truyền thống yêu nước từ bao đời nay.

Người thương binh đó là: Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu, người Nghi Lộc quê tôi.

Nhân Ngày 27/7, xin chúc Anh mạnh khỏe, hạnh phúc!
 



 

ANH, NGƯỜI CHIẾN SĨ NĂM XƯA

(Thơ: Nguyên Hùng - Nhạc: Đỗ Tiến Lập - Thể hiện: NSƯT Vũ Tiến Lâm)


Dựng clip: Nguyên Hùng.

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm