TIN TỨC
  • Truyện
  • Con chim khách/Tiến Luận

Con chim khách/Tiến Luận

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-09-01 10:20:45
mail facebook google pos stwis
2323 lượt xem

CUỘC THI “TRUYỆN NGẮN HAY - NĂM 2022”

Tiến Luận

Nhà Lê ở dưới chân đồi cách thị xã gần 10 cây số. Nơi đây trước là khu sơ tán. Hòa bình, tất cả máy móc, thiết bị và công nhân nhà máy đều chuyển về phố. Vì hoàn cảnh nhà nghèo, lại đông con nên bố Lê ở lại bám lấy đất đồi để kiếm sống.

Nhà Lê xây bằng gạch vôi, lợp cọng ràng ràng là những vật liệu kém dẫn nhiệt nên mùa hè rất mát. Trong vườn, bố Lê trồng toàn những cây ăn quả lưu niên: hồng xiêm, ổi, doi, na, mít mọc xum xuê. Đằng sau nhà cách hơn cây số là những cánh rừng còn sót lại sau chiến tranh có những cây dẻ, cây lim, cây táu mọc xen trong rừng bạch đàn và keo tai tượng. Thích nhất là vào mùa xuân, mùa hè, chim các nơi về làm tổ và kiếm ăn: nào vàng anh, sáo đá, chim gáy, chào mào, chích chòe, vành khuyên, sẻ đá… Chúng nhảy lanh chanh trên các cành cây tìm quả chín, vừa ăn vừa hót râm ran như bản hợp xướng nhiều bè. Chúng dạn người đến nỗi Lê đứng dưới gốc cây mà mấy anh chào mào dám sà xuống đỗ ngay một cành trước mặt trơ cái bộ ngực trắng phơ. Nhìn chúng, Lê nghĩ tới miếng chả chim nướng vàng ngậy thơm nức mà thèm nhỏ nước miếng. Lê nẩy ra ý nghĩ làm mấy chiếc dò mắc trên cành cây. Dưới cành treo một quả cà chua chín đỏ chót. Gió đung đưa như khêu gợi. Lũ chào mào bông nhìn thấy thì quên chết, chúng sà vào rỉa quả. Cần dò bật lên xiết chặt hai chân nó vào sợi dây thòng lọng, cố giãy nhưng không tài nào thoát ra được. Loại dò này chỉ bắt nạt được những chú chào mào bông. Còn lũ chào mào đỏ đít thì ranh lắm. Nó biết cái cành cây khô ấy có phủ mấy chiếc lá úa. Lại có cái cần cong cong và nhất là sợi dây cước lòng thòng, nên chúng biết thừa đấy hẳn là cái bẫy của người, nên chúng chíu chít bảo nhau nhảy sang cành khác. Tức mình, Lê chặt một chạc ba cây ổi, buộc nịt vào làm súng cao su.

Lê ngồi dưới gốc cây hồng xiêm chờ chim bay đến. Một đàn chào mào đỏ đít bay đến đậu trên cành cây chìa mỏ ra rỉa quả trơ cái ngực trắng phau. Ngon quá! Lê giương trạc súng lên ngắm, tay kéo căng dây thun - nín thở rồi buông tay ra - Phựt! Viên sỏi bay vèo trúng cái bốp vào ngực một con, rơi xuống  đất. Cả đàn chào mào hốt hoảng bay đi thì đàn chim khác lại đến. Mỗi ngày Lê bắn chết tới chục con. Lê đem về nhổ lông làm thịt rồi kẹp vào thanh tre nướng trên bếp than hồng. Mỡ vàng ngậy, từng giọt rơi xuống lèo xèo, Lê cầm con chim nướng thơm phức xé ra từng miếng đưa vào miệng nhai giòn rau ráu. Tuy vậy, cũng chỉ được vài ngày đầu. Về sau đàn chim bay đến vườn mỗi ngày một vắng. Ngày nào Lê cũng cầm súng cao su đứng dưới gốc cây chờ sẵn mà tịnh không thấy một con chào mào, chích chòe, cu gáy nào đến nữa. Thi thoảng có vài con bay đến rập rờn trên ngọn cây. Hễ nhìn thấy bóng dáng Lê là chúng bay vù đi mất.

Phục mãi mới có một con chích chòe bay đến đậu tít trên ngọn cây mít. Nó ngó nghiêng không thấy bóng người, liền thu cánh lại, hếch cái đuôi dài màu đen, xen trắng rồi cất tiếng hót. Tiếng hót của chích chòe véo von lanh lảnh như hát. Có lúc lại líu ríu như người thì thầm trò chuyện. Nó mải mê hót coi như cả bầu trời xanh là của mình. Nó đâu biết rằng dưới gốc cây có một thằng người là Lê đang giơ trạc súng ngắm cho cái bụng trắng phớ của nó nằm gọn giữa cái trạc súng. Lê kéo căng sợi dây thun rồi đột ngột buông tay ra. Lực kéo căng của dây thun cùng với lực vẩy làm đà, viên đạn sỏi bay vút trúng cái bịch vào giữa ngực con chích chòe. Nó đau đớn chớp cánh được mấy nhát thì rơi bịch xuống đất. Nhưng con chích chòe không chết. Nó chỉ bị gãy mỏ. Là chim mà gãy mỏ thì có sống cũng thành tật, vĩnh viễn không bao giờ cất tiếng hót được nữa. Tuy vậy, Lê vẫn nhốt nó trong chiếc lồng son đánh dầu bóng loáng để làm chim mồi đánh bẫy những con chim khác đến. Nhưng nó không ăn được, suốt ngày ủ rũ chúc cái mỏ gẫy vào cánh. Biết nó không sống được, Lê phải nhổ lông làm thịt!

Từ hôm con chim chích chòe bị Lê bắn chết, đàn chim rừng tản mạn đi đâu mà biệt tăm? Vườn nhà Lê không còn thấy bóng dáng một con chim nào bay đến hót nữa. Cả lũ chim vành khuyên, chim sâu cũng chỉ bay đến thoáng chốc, thấy bóng Lê là chúng nháo nhác gọi nhau vù thẳng! Không có tiếng chim, lại ắng tiếng người, nhất là về ban trưa khu nhà trở nên vắng tanh, hoang lạnh. Tuy vậy, Lê vẫn cầm chiếc súng cao su lò dò đến từng gốc cây chờ con chim xấu số nào bay đến. Đợi mãi chẳng thấy con chim nào, Lê ngồi bệt xuống vạt cỏ trong vườn lắng nghe có tiếng chim hót phía xa xa. Tiếng con chích chòe róng rót như tiếng suối reo, có lúc lại trầm buồn như tiếng khóc. Lê sực nhớ tới hôm vặt lông làm thịt con chích chòe, Lê dùng hai ngón tay kẹp chặt lấy mỏ, khiến cái ngực nó chướng lên căng ra như cái bong bóng. Đôi cánh đã trụi húi lông vẫn cố giẫy giụa để giành sự sống trong tay Lê. Khi hai mắt nó nhắm lại lồi ra và hai chân nó thẳng đơ, lát sau lạnh toát làm cho Lê thấy gai người khi nhìn thấy cái chết đang đến với một sinh vật do chính tay Lê gây ra. Tự dưng Lê nhớ hôm cô giáo nói: “Sinh vật ăn thịt thường có răng nanh nhọn, sắc để khi bắt được con mồi thì chúng sẽ dùng răng nanh xé xác con mồi ra mà ăn. Sinh vật ăn trái cây, rơm, cỏ thì có bộ răng hàm to, rộng để nhai đi, nhai lại ví như trâu, bò, hươu, nai. Các nhà khoa học khi nghiên cứu bộ răng con người thấy giống loài vật ăn cỏ. Như vậy con người vốn dĩ không phải là sinh vật ăn thịt”. Lê nói với mấy anh cùng xóm, họ lại bảo: “Trời sinh voi trời sinh cỏ, trời sinh ra con sâu róm là để cho con chim sâu ăn, trời sinh ra con chim là để cho người ăn… cứ thế tuần hoàn, thế giới có sinh, có diệt. Con nọ ăn thịt con kia cho cân bằng sinh thái!”. Mấy anh hàng xóm nói xong cười khớ khớ!

Đang lan man nghĩ thì bỗng dưng ngoài rặng na trước cửa xuất hiện một con chim lạ màu xanh thẫm. Đầu nhỏ, mỏ hơi dài. Chao ơi! Đẹp nhất là cái đuôi. Mỗi lần nó kêu “Quẹt quẹt” lại xòe ra vểnh lên, gập xuống lộ ra những chiếc lông trắng xen lông xanh trông như cái quạt. Lê chưa từng thấy con chim nào hiếu động như con chim này. Nó cứ nhẩy tưng tưng từ cành nọ sang cành kia và luôn mỏ hót: “Quẹt quà quẹt quẹt!”. Đang trên cành na, nó sà sang cành ổi, rồi lại từ cành ổi sang cành roi, cành cao chuyền xuống cành thấp. Không lúc nào thấy nó đứng yên. Lê định giương súng bắn thì vừa lúc mẹ Lê đi chợ về.

“Quẹt quẹt quẹt!”. Nó hót chào mẹ Lê mấy tiếng rồi bay đi. Mẹ Lê mừng rỡ reo lên: “A! Con chim khách, con chim quẹt! Quẹt kêu là nhà mình sắp có khách”. Bố Lê từ trong nhà bước ra sân hỏi: “Con chim khách khi kêu quay đầu về hướng nào?”. Lê bảo: “Hướng tây”. Bố Lê giơ ngón tay lên tính rồi nói: “Đông khứ, tây lai, nam vô sự, bắc có tài” Thế thì đích thị nhà mình sắp có khách.

Quả thật vài ngày sau bà nội và thím Vần ra chơi. Ở quê Đông Hưng, Thái Bình nhà bà cũng có vườn rộng lắm. Vốn lam làm bà và thím chỉ chịu ngồi chơi nửa ngày là ra vườn làm cỏ, quét lá gom lại đốt lấy gio. Bà và thím ra sông gánh nước về tưới cho từng cây trong vườn. Bà bảo: “Giống cây khi ra hoa rất cần nước, phải chăm tưới cho nó mới đậu quả được. Hai người còn leo lên đồi sau nhà hái từng gánh lá mun đem về ủ phân xanh trộn lẫn với gio để bón cho cây. Hôm ở quê ra bà còn mang cho nhà Lê 4 con lợn giống và chục con gà mái Đông Tảo. Bà bảo: bố mẹ Lê đều là công nhân làm than lương ba cọc ba đồng, muốn có đồng ra đồng vào và có tiền sửa chữa cái nhà ở cho chắc chắn nữa thì phải chăn nuôi, trồng trọt.

Bà và thím Vần ở chơi gần một tháng mới về. Vườn tược được chăm sóc đâm chồi nẩy lộc. Bà và thím về quê, chỉ mấy tháng sau 4 con lợn và  chục con gà đã nung núc chật chuồng. Vườn cây xanh tốt, roi chín đỏ cành, mít núc lỉu quả, ổi chín vàng ươm, rặng na trĩu quả mở mắt thơm lừng. Chỉ mỗi đàn chim là không thấy đến?

*

Ngôi nhà của bố mẹ Lê xây từ những năm mới cưới nhau. Bố rất chịu khó. Hằng ngày đi làm về, bố vác búa lên núi ghè đá gánh về tự nung vôi để đóng gạch xây nhà. Đường từ chỗ lấy đá về nhà xa hơn trăm mét qua một khe suối lại leo lên đồi. Thế mà bố Lê gánh ước tính tới hơn trăm khối đá và hàng nghìn gánh nước lên nhà tôi vôi, đóng gạch đủ xây một ngôi nhà 3 gian mái xuôi lợp ngói. Bây giờ cuộc sống khá giả mới thấy nó đã quá cũ kĩ và lạc hậu, nên bố mẹ Lê bàn chuyện xây nhà. Một ngôi nhà năm tầng cao to nhất phố thợ. Lê biết từ khi bố làm trưởng phòng vật tư nên kinh tế gia đình Lê đã khá lên trông thấy. Xây nhà xong bố Lê còn sắm được hai xe máy Thái. Một cái cho bố, một cái cho anh Trần. Hằng ngày mẹ đi chợ mua những con cá ngừ, hoặc cá song to bự. Đi ăn cưới mẹ mặc chiếc áo dài tuyết nhung xanh, có chiếc dây chuyền vàng óng ánh trên ngực. Điều lạ là từ khi có nhà mới, bố mẹ Lê thay đổi tính nết. Hằng ngày không muốn ai vào chơi. Có lần bố Lê còn làm một con tính nhẩm nói với cả nhà: “Mỗi ngày chỉ cần 5 lượt khách đến chơi là mất 5 ấm trà, nửa bao thuốc vinataba, vị chi cũng mất béng năm chục nghìn bạc. Nếu là khách ở quê ra thì quà cáp không tính, riêng tiền ăn cho mỗi người mỗi ngày cũng mất gần một ngày công đi làm. Lại còn những anh hàng xóm đa phần là công nhân hầm lò và thợ làm đá nói chung là nghèo, thường không sạch sẽ. Lắm hôm họ sang chơi thuốc lá không hút cứ thích hút thuốc lào”. Bố Lê có cái điếu cày nạm bạc rất đẹp, nên ai cũng thích hút, thường ngày hay sang hút nhờ, tàn vấy ra lung tung. Mẹ Lê mất hàng buổi lau nhà. Còn nữa, họ là những người hay xin xỏ, vay mượn, nên bố mẹ Lê ghét, bảo Lê đóng cổng. Nhiều hôm Lê thấy có mấy bác đến chơi đứng ngoài ngõ gọi ơi ới chẳng ai thưa, chỉ mỗi con vàng chạy ra sủa ông ổng. Gọi chán, mấy bác quay xe đạp ra về. Thành ra nhà Lê đã lâu không có người đến chơi bỗng trở nên hoang vắng, lạnh lẽo, rêu xanh mọc kín lối đi. Cây cối trong vườn không có chim đến đậu nó cũng trơ trẽn, tẻ nhạt và rầu rầu như ngái ngủ.

Bỗng một buổi trưa Lê đi học về cùng ngồi ăn cơm với bố mẹ trong nhà thì nghe có tiếng chim khách kêu “Quẹt, quẹt! Què quẹt!”, con chim quẹt đỗ trên ngọn cây na hót vội vàng mấy tiếng rồi bay đi. Mẹ Lê buông đũa “nhà lại có khách!”. Thật là linh nghiệm. Mấy ngày sau bà và thím Vần ra chơi. Lần này hình như bà và thím có ý định ra chơi lâu ngày, nên Lê thấy bà đem ra đầy túi quần áo. Cái túi bằng vải bạt do bà tự khâu lấy được nhuộm màu nâu. Lê biết đó là cái túi bà thường dùng đựng đồ đi lễ Phật. Khác với lần trước bà và thím Vần tự nhiên coi nhà con cháu cũng như nhà mình, có dịp được lo toan chăm sóc cho cuộc sống của con cháu, thì lần này ra chơi bà cứ ngượng ngùng e ngại thế nào ấy. Lê để ý thấy mỗi khi bà và thím ngồi trên sa lông bóng như gương, đối diện là chiếc gương to bản choán gần kín bức tường phòng khách, bà nhìn người trong gương rồi lại cúi xuống nhìn mình. Mặc dầu hôm đi bà đã chọn những bộ quần áo mới chắc bà cho là đẹp nhất, thế mà giờ bà lại bảo Lê đi lấy cái ghế nhựa cho bà ngồi. Lê bảo: Bà già rồi phải ngồi sa-lông cho êm và đỡ mỏi. Bà bảo bà không quen ngồi sa-lông. Ngồi ghế nhựa thích hơn. Tối đi ngủ bà để đôi dép dưới chân giường. Sáng sớm mẹ Lê quét nhà nhìn đôi dép cao su đen lem nhem quá, mẹ Lê bỏ luôn vào sọt đem ra đổ vào đống rác rồi ra cửa hàng mua một đôi dép nhựa mới để vào chỗ cũ cho bà. Ngủ dậy bà đi tìm dép mãi không thấy, chỉ thấy đôi dép nhựa, bà không đi mà đi chân đất. Thế mà thím Hới không biết tẩn mẩn thế nào lại tìm được đôi dép mang về cho bà. Mẹ Lê bực bội lừa khi tối bà đi ngủ lại cho vào sọt rác đem đi thật xa vứt vào một cụm cây. Khi về mẹ vẫn còn bực bội lẩm bẩm một mình: “Đúng là các cụ  nhà quê. Khổ quá đi mất. Mà sao bà cụ hay ra chơi thế không biết?”.

Đến hôm ấy Lê mới biết rõ cái bụng của mẹ. Ngoài miệng thì bảo bà và thím cố gắng ở lại chơi với chúng con vài tuần, vài tháng, nhưng trong bụng lại muốn cho bà và thím Vần về quê. Lê nài nỉ bà và thím ở lại chơi vài ngày nữa, nhưng bà bảo: Hè sang năm bà và thím sẽ ra chơi. Mùa hè năm sau lại đến, Lê đợi mãi chẳng thấy bà và thím ra. Bạn học cùng lớp, cùng xóm cũng chắng thấy đứa nào đến nhà. Đàn chim bay đi kiếm mồi bay qua đậu trên đỉnh cây mít, cây roi chốc lát rồi vụt bay sang cây nhà hàng xóm hót véo von.

Tự nhiên Lê thấy nhớ tiếng chim, nhất là tiếng hót liến thoắng của lũ chào mào, tiếng rì rầm trò chuyện của chích chòe và tiếng hót trầm ấm, vang rền như tiếng chuông đồng của con chim gáy. Những hôm như thế, Lê lại da diết nhớ bà, nhớ thím và mong có con chim quẹt đến kêu. Nhưng sao nó cứ biệt tăm?

Một ngày nghỉ hè Lê về thăm quê mới hay bà và thím mùa màng cấy hái đã xong không bận gì cả. Lê mời bà và thím ra chơi, bà bảo rằng:

- Bà già rồi ở nhà bố mẹ cháu không tiện. Bà không ra mỏ nữa đâu. Khi nào cháu về thì cố tìm cho bà đôi dép. Đôi dép ấy là của chú Cận hồi còn là bộ đội về phép mua cho bà. Chú Cận hy sinh chỉ để lại cho bà mỗi đôi dép ấy. Thế mà mẹ cháu nỡ lòng nào đem vứt của bà đi?

Có người bảo: “Người già thường khó tính và hay tủi thân”. Lê biết với bà và thím Vần chưa hẳn thế. Với bà là sống cốt ở tấm lòng có tình có nghĩa, trên dưới phân minh, nghĩa tình trọn vẹn, chứ không phải vì tấm áo, miếng ăn. Cũng như những con chim khách, chào mào, chích chòe, vàng anh, sáo sậu… chúng đến vườn nhà Lê cũng chưa hẳn đã vì miếng ăn mà còn một lí do khác là đất có lành chim mới đến. Vậy mà suốt ngày Lê săn lùng bắn nó thì vườn đất nhà Lê chưa phải là lành! Và cũng từ đó suy ra: bố mẹ Lê không hiếu khách, người ở quê không ra chơi, bạn bè không đến thì con chim khách không đến kêu cũng là phải lắm!

Lê tự giải thích cho mình như vậy, nên đã quẳng chiếc súng cao su vào đống rác. Còn bố mẹ Lê thì mở toang cánh cổng ngõ hoặc khép hờ tức là ai muốn vào cứ đẩy cửa mà vào. Lê chỉ ân hận mỗi một điều là không tìm được đôi dép cao su cho bà.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm