TIN TỨC

Nghe sóng giữa trùng khơi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-27 23:04:03
mail facebook google pos stwis
596 lượt xem

HOÀNG THỤY ANH

Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.

Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.

 

Bìa cuốn Trùng khơi nghe sóng

 

1. Trùng khơi nghe sóng tái hiện đời sống của các thủy thủ, công nhân, kỹ sư đến từ nhiều quốc gia cùng làm việc trên giàn khoan Biển Xanh. Điểm nhìn của Trương Anh Quốc bao quát, kết nối biển và bờ, đưa giàn khoan trở thành trung tâm của câu chuyện. Tại đây, mọi hỉ nộ ái ố, tham sân si và cả tình người đều được anh thiết dựng sinh động, khách quan.

Dưới mắt một lính mới, giàn khoan Biển Xanh hiện lên “vàng rực như một lâu đài nguy nga trên biển. Một công trình kiên cố mọc lên sừng sững nơi mực biển sâu hàng trăm mét. Một thành phố nổi, choáng ngợp… Trên nóc giàn khoan lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong nắng gió sớm mai”. Bối cảnh ấy hiện lên sống động nhờ sự cộng hưởng của nhiều yếu tố. Đó là âm thanh gầm rít của trực thăng, đó là vị mặn chát của muối biển và đó là cảm giác bỏng rát từ cái nắng gắt gao… Nhịp lao động trên giàn xoay vòng khép kín từ cân hành lý, xem phim an toàn, lên xuống trực thăng ở sân bay bờ và giàn, các công đoạn thi công, bảo trì... Bên cạnh không khí lao động nhộn nhịp, giàn khoan cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro. Sự cố thiết bị, tai nạn nghề nghiệp có thể ập đến bất cứ lúc nào. Vì vậy, các quy định an toàn nghiêm ngặt về bảo hộ rất khắt khe. Tất cả liên hợp tạo nên môi trường đặc thù, áp lực và kỷ luật.

Làm việc trong môi trường khắc nghiệt và áp lực không tránh khỏi việc xảy ra mâu thuẫn. Trong Trùng khơi nghe sóng, trục xung đột xoay quanh bộ ba Vĩnh, Jet và Malee. Sự xuất hiện của Malee, nữ kỹ sư đo đạc 23 tuổi người Thái Lan đã phá vỡ bầu không khí toàn man-nam và lập tức trở thành tâm điểm chú ý của mọi người. Jet, gã đốc công cơ hội và mưu mô, lợi dụng quyền lực để cưỡng bức Malee, đẩy cô vào vòng xoáy sợ hãi. Trái ngược hắn, kíp trưởng Vĩnh giữ trọn sự chính trực, trở thành điểm tựa duy nhất cho Malee giữa giàn khoan đầy sóng gió. Bi kịch và tình huống càng trở nên oái oăm khi Malee mang thai và đứa con ấy có thể là kết quả tình yêu với Vĩnh, cũng có thể là hệ lụy từ hành vi bạo lực của Jet. Xuyên suốt tiểu thuyết, số phận ba người bị cuốn vào cơn lốc của tình yêu, dục vọng và quyền lực. Và như thường thấy trong sáng tác của anh, cái kết luôn bất ngờ, khiến người đọc không thể lường trước.

Xung đột trung tâm trở thành nền tảng để Trùng khơi nghe sóng dựng nên “xã hội giàn khoan” đầy mâu thuẫn và biến động. Trên giàn khoan, nhịp lao động luôn gấp gáp, ca này nối ca khác không ngừng nghỉ. Ở đó, như trên một sân khấu thử thách, mọi phẩm chất và tật xấu của con người đều có cơ hội phơi bày. Sự thay đổi liên tục về nhân sự cùng những va chạm trong hành xử khiến bầu không khí làm việc luôn căng thẳng và kịch tính. Có người tận tụy, có kẻ buông xuôi; có người dám nhận trách nhiệm, có kẻ chỉ tìm cách né tránh; có người chân thành, có kẻ khôn lỏi, kẻ thật thà, người khó chịu lẫn kẻ vui tính. Đã vậy, sự đối lập giữa tư duy lý trí phương Tây minh bạch, đề cao hiệu quả và tư duy cảm tính phương Đông nặng tình nghĩa, né tránh va chạm càng khoét sâu những xung khắc trong quan hệ con người.

Trong khung cảnh đó, Trương Anh Quốc đã chạm khắc những gương mặt điển hình trong hoàn cảnh điển hình, mỗi người một nét riêng. Stephen, điện trưởng người Úc, hách dịch và thù dai. Đại thuộc kiểu người ưa phô trương, thích thể hiện. Jet, Đồng và Đại cấu kết để mưu lợi. Satiawan, công nhân Indonesia cần mẫn và lặng lẽ làm việc và sùng đạo. Còn James, lái cẩu Mỹ rất đàn ông quân tử, già nua nhưng vẫn bám nghề với sự tận tụy hiếm thấy. Các chân dung ghép lại, dựng nên “xã hội giàn khoan” mang tính toàn cầu chân thực, thô ráp mà phức tạp.

Đằng sau kỷ luật nghiêm ngặt là vô số mánh lới như lách luật, giả chữ ký qua mặt cấp trên, đút lót để thăng tiến, câu cá lén gửi về bờ đem bán… Có thể xem giàn khoan trong Trùng khơi nghe sóng là tấm gương soi, phản chiếu những mặt đối cực giữa trung thực và gian trá, tận tụy và lười nhác, tử tế và vô cảm. Tác phẩm đã vượt ra ngoài phạm vi phản ánh đời thường để vẫy gợi trong lòng mỗi người những cật vấn, trăn trở, chiêm nghiệm nhân sinh. Sức mạnh phẩm giá nào giúp con người vững vàng trước bão tố? Và đâu là mầm mống gặm nhấm bào mòn đưa đẩy nhân tính trượt dần vào ngõ suy đồi?

2. Để nhận diện cá tính, giọng điệu của Trương Anh Quốc có thể đặt Trùng khơi nghe sóng trong sự đối chiếu với các tác phẩm trước đó như Biển và Sóng của anh. Ở Biển, anh dồn nén các lát cắt đời sống thủy thủ ngay trên tàu theo dạng tự sự tuyến tính. Sang Sóng, biên độ mở rộng hơn, loại hình du kí kết hợp thư từ, điện thoại, truyện lồng trong truyện. Người đọc theo chân nhân vật đi qua nhiều cảng biển, nhiều quốc gia, tiếp xúc với sự đa dạng văn hóa, phong tục, tôn giáo như thể chỉ có đôi mắt và bước chân của người thủy thủ mới khám phá ra được vậy.

Trùng khơi nghe sóng tiếp tục mạch sáng tác về biển của Trương Anh Quốc nhưng với hướng đi mới. Biển lúc này là cái nền cho chiếc giàn khoan, trở thành bối cảnh của lao động kỹ thuật, của va chạm văn hóa và của những thử thách nhân tính. Đặc biệt, với tiểu thuyết này, tính đến thời điểm hiện tại, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, giàn khoan dầu khí được đặt làm trung tâm một tiểu thuyết.

Văn phong riêng khác của Trương Anh Quốc trong Trùng khơi nghe sóng là tiếng cười hóm hỉnh, pha chút cợt nhả mà vẫn giữ được sự tinh tế. Ở Biển và Sóng, chất hài hước đã xuất hiện, song còn nhẹ nhàng, chưa đạt đến độ mạnh và “tới” như trong tiểu thuyết này. Với Trùng khơi nghe sóng, anh khai thác triệt để lối ẩn dụ nhục thể và chơi chữ hai nghĩa tạo nhiều lớp nghĩa vừa dí dỏm vừa trào lộng. Các câu như “Lên nhanh nào, chị cho lái máy bay…”“Khe của ai người ấy cắm, cắm cho đúng khe nghe mày” gợi liên tưởng đến vùng cấm kỵ, nhưng nhờ đặt trong không khí bông đùa, chòng ghẹo nên mang sắc thái tục mà vẫn thanh, không gây phản cảm. Tiếng cười như thang thuốc tinh thần giải tỏa chướng ngại lao động và thể hiện tính cách phong trần, nghịch ngợm của tập thể thủy thủ, công nhân và kỹ sư khoan.

Đọc Trùng khơi nghe sóng của Trương Anh Quốc, tôi nhận ra bóng dáng con người đời thực của anh thấp thoáng trong từng trang viết. Cái duyên ngầm nửa đùa nửa thật, nghịch ngợm nhưng không bật cười thành tiếng khiến người đọc dễ lầm tưởng là nghiêm túc tuyệt đối. Duyên ấy còn ở cách kể chuyện rất giản dị tự nhiên, cứ ngỡ như anh thấy gì nói nấy, có gì kể nấy nhưng thật ra anh đã dẫn dắt khéo léo, khiến người đọc bị cuốn theo mạch kể tưng tửng mà khả tín. Điểm biệt lạ của anh chính là tình yêu và sự am hiểu biển hiếm có. Văn phong phản chiếu phong thái từng trải, linh hoạt, gắn bó trọn vẹn với biển đảo và đủ sức chuyển tải chiều sâu trải nghiệm sống vào tác phẩm. Gấp trang cuối tiểu thuyết, tôi chợt thấy lòng mình dâng lên một niềm yêu biển cả, yêu thủy thủ lạ lùng. Do đó tôi không ngạc nhiên khi biết Trùng khơi nghe sóng đoạt Giải thưởng của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh năm nay. Giải thưởng là câu chuyện của từng năm, còn với Trùng khơi nghe sóng tôi tin sức cuốn hút dẫn dụ này sẽ theo dòng chữ mà chạm tới nhiều trái tim độc giả trong nhiều năm.

H.T.A

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm