TIN TỨC
  • Truyện
  • Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương

Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-22 08:32:04
mail facebook google pos stwis
1556 lượt xem

"Hoa vẫn nở" của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái. Trên nền bạo lực, nghi kỵ và tỉnh ngộ muộn màng, tác phẩm mở ra một thông điệp lặng lẽ nhưng bền bỉ: sau đau thương, nếu con người biết buông bỏ và thức tỉnh, sự sống vẫn có thể hồi sinh như hoa gạo nở đỏ sau mùa lũ.

NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

Chiều dần xuống chầm chậm trên sườn núi. Mây bò lừng khừng giữa rừng cây quyện cùng khói bếp quẩn quanh bay là là trên những mái nhà gỗ thấp. Gió từ rừng thổi về mang theo mùi cỏ ẩm ướt và tiếng suối xa, đều đều như hơi thở của đất.

Choang….

Giữa ánh đèn vàng leo lét, mâm cơm tối bị ông Pùa ném văng ra khắp sàn. Bát vỡ. Cơm canh văng tung tóe, lẫn vào tro bếp nguội. Đôi mắt ông vằn đỏ, nhìn vợ con mình đang ngồi im thin thít, ông gầm lên: Cút… cút hết, cái giống lạc loài tao không cần…

Tiếng gầm của ông va vào vách gỗ, bật ra ngoài sân rồi tan vào rừng tối.

Chửi xong ông khật khưỡng bước vào góc buồng rồi gục xuống ngủ, lâu lâu lại nghe tiếng ông lèm bèm chửi rủa trong cơn say. Tiếng chửi nhỏ dần, lào khào như gió mắc trong khe đá theo gió tan trong bóng đêm

Bà Phiêng - vợ ông ngồi cúi đầu im lặng. Đôi tay gầy gò, chai sần ôm chặt lấy Hen – cô con gái nhỏ đang ngồi rúm ró bên cạnh. Hen, 15 tuổi mà người nhỏ thó, thân hình gầy guộc theo ánh lửa run rẩy như cây non gặp gió núi.

Hen ngước đôi mắt to tròn thăm thẳm buồn nhìn mẹ rồi khẽ bảo: Ải ơi, sao mình cứ phải chịu khổ như vậy, sao mình không bỏ đi? Êm đã không thương mình, không cần mình thì để Êm sống một mình thôi.

Bà Phiêng không trả lời con gái, chỉ cúi đầu xuống, rấm rứt khóc. Đêm miền cao dày, lạnh và sâu nhưng không lạnh bằng lòng bà lúc này

Hen ôm mẹ rồi đưa mắt nhìn ra khoảng tối trước nhà. Núi cao quá. Trời xa quá. Cô thấy mình nhỏ bé lắm. Cô biết, ngoài nơi đây mẹ con cô nào biết đi đâu. Ngoài kia bao phủ một màu tối đen, cô thầm nghĩ tương lai của cô và mẹ cũng là một màu đen như vậy, không lối thoát.

Hen không hiểu vì sao cha mình đổi khác.

Tác giả Nguyễn Thị Minh Phương bên bố - LS, nhà thơ Nguyễn Minh Tâm - Ảnh: NH.

Có nhiều lúc cô ngồi im nhớ về ngày còn thơ bé, cha cô đã từng rất yêu thương cô. Ngày ngày, khi ông mặt trời còn đang ngái ngủ giữa màn sương giăng trên đỉnh núi, ông đã vội vàng vào rừng đốn củi, bẫy thú rừng… Mỗi khi ông về lúc nào cũng có quà cho cô, khi thì quả mâm xôi chín mọng, lúc thì quả duối vàng ngọt thanh thanh, quả sim tím lịm… Cô ào vào lòng cha và được ông đặt ngồi trên vai, tiếng cười hai cha con vang giữa núi rừng, trong veo như nước suối đầu nguồn. Mẹ cô đứng dựa cửa hai má đỏ hồng, đôi mắt long lanh nhìn hai cha con rồi nhắc vào ăn cơm. Trong căn nhà thơm thơm mùi gỗ, tiếng lửa bập bùng hoà theo tiếng cười ấm áp, thanh bình.

Tất cả bắt đầu đổi khác từ những bữa rượu.

Ông Thênh – người bạn từ thuở nhỏ của cha hay sang cùng uống rượu. Hai người đàn ông ngồi bên ché rượu, nhắc chuyện ngày xưa. Ngày xưa ấy có bà Phiêng – cô sơn nữ đẹp nhất vùng. Ông Thênh thích bà, nhưng bà lại không chọn. Nỗi ganh tỵ không mất đi, nó nằm đó, sâu như hòn đá dưới lòng suối, nó chỉ ngủ yên, chờ men rượu đánh thức.

Trong những cơn giả vờ say, ông Thênh rót từng lời độc vào tai ông Pùa:
“Con bé Hen ấy sao chẳng giống mày.”
“Người trong bản nói nhiều lắm.”
“Đàn ông mà để bị cười sau lưng thì nhục, khà khà…”

Ban đầu ông Pùa gạt đi, nói ông Thênh vớ vẩn, nhưng rượu uống mãi, lời nói ấy ngấm như mưa dầm thấm vào lòng đất. Nghi ngờ lớn dần, ánh mắt ông nhìn vợ khác đi, nhìn Hen cũng thay đổi. Yêu thương bị gặm nhấm, bị thay bằng sự uất hận rồi thành hằn học. Thế là ông trút tất cả nỗi uất ức của một người đàn ông bị tổn thương lòng tự trọng lên hai mẹ con.

Hen lớn lên trong những đêm dài co ro bên bếp lửa tàn, trong sự lạnh lùng của cha, sự cam chịu mà không biết lý do của mẹ. Gió lùa qua vách gỗ. Lửa bếp chỉ đỏ một lúc rồi tàn. Hen ngồi bó gối bên cửa sổ nhỏ, nhìn ra rừng tối. Có những đêm nước mắt cô rơi lặng lẽ, trăng treo trên đỉnh núi, sáng mà lạnh soi rõ nước mắt cô, trăng đẹp lắm, đẹp nhưng không ấm.

Mùa xuân năm ấy, rừng thay áo. Hoa ban nở trắng sườn đèo, hoa mận rơi đầy lối bản, hoa gạo đỏ rực góc trời. Bản có thầy giáo mới về.

Chính trong những đêm đen buồn tủi ấy, Hen bám lấy những con chữ. Cô biết chỉ có học thật giỏi cô mới có thể thoát khỏi nơi này.

Anh là người Kinh, dáng gầy, giọng nói nhẹ trầm ấm. Anh đến mang theo một thế giới khác lạ đầy sắc màu. Lớp học dựng bằng tre nứa, gió lùa bốn phía, anh dạy Hen không chỉ con chữ, mà dạy cô rằng ngoài kia có biển, có thành phố, có đại học, rằng con gái cũng có quyền mơ ước, có quyền sống và làm những điều mình yêu thích. Ánh sáng trong mắt anh không biết từ lúc nào đã lọt vào đời cô.

- “Em giỏi lắm, cố học nhé. Núi cao, nhưng không che hết trời đâu.” anh nói.

Hen nghe như nuốt từng lời anh dạy, trái tim cô dần ấm lại, lòng cô dần mở ra. Lần đầu tiên, cô biết bên ngoài những dãy núi này còn có một thế giới khác, đẹp và bí ẩn theo một cách khác. Một tình cảm thầm lặng nảy nở, trong veo như nắng sớm.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại, nó chỉ âm ỉ ủ, rồi một ngày, mọi thứ vỡ ra.

Sau bữa rượu trưa hôm ấy, cơn mưa rừng đổ xuống xối xả, suối gầm lên dữ dội, cuốn hết đi những gì ngáng đường nó, cuốn theo cả những u uất tích tụ bao ngày. Men rượu lá và lời thì thầm của ông Thênh làm đầu óc ông Pùa nóng lên. Những lời nói tưởng chừng vô hại lại dần dần hoá thành gai nhọn đã chìm xuống bấy lâu chỉ chờ một cơ hội để chồi lên, cào cấu tim gan. Trong cơn ghen tuông bị rượu bào mòn lý trí, ông Pùa cầm con dao rừng dí vào cổ Hen, lạnh toát.

Mắt ông vằn lên, hoang dại như mắt con hổ đói, ông gào lên hỏi bà Phiêng câu hỏi bấy lâu nay ông cố giữ trong lòng. Ông hỏi bà mà cũng là hỏi chính ông. Tiếng gào của ông vỡ ra giữa tiếng mưa.

“Nói! Con Hen là con của ai?!”

Bà Phiêng sững người, ngơ ngác nhìn ông. Câu hỏi của ông xoáy sâu vào tim bà, đau buốt khiến bà đứng im như tượng đá. Thì ra bấy lâu nay ông lạnh lùng, hắt hủi hai mẹ con bà chỉ bắt nguồn từ một sự nghi ngờ vô cớ. Cứ thế, bao lâu nay bà bị đóng đinh vào một tội lỗi mà bà không hề biết nên không thể cãi tội cho chính mình.

Bà đau đớn gục xuống nền đất ướt.

“Ông ơi… nó là con ông… núi rừng làm chứng…”

Trong đầu bà, cả một đời hiện về. Những tháng ngày mang thai đi rẫy, sinh nở, những đêm ôm con khóc vì đói rét… Bà đau không phải vì sợ hãi, mà đau vì người đàn ông bà tin tưởng nhất, lại sẵn sàng giết chính máu thịt mình chỉ vì lời độc của người ngoài.

Hen đứng im, cô không khóc. Trong khoảnh khắc ấy, lưỡi dao lạnh không làm cô sợ, cô đau. Cô chỉ nghĩ: nếu cha giết mình, ông sẽ sống thế nào với bản làng, với núi rừng này.

Đúng lúc ấy, thầy giáo chạy đến, Anh đến để báo tin cho Hen về đại học, về những cánh cửa vừa mở ra. Nhưng trước mắt anh là con dao kề cổ, là một gia đình đang đứng bên bờ vực không thể quay đầu. Và người con gái trong tim đang gặp nguy hiểm.

Không dám chậm trễ, anh lao đến đứng trước mặt ông Pùa, mắt anh nhìn thẳng vào ông, chăm chắm.

Sau khi hiểu câu chuyện, những câu hỏi của anh rơi xuống từng nhát, không nặng tiếng nhưng nặng nghĩa, nặng tình. Chúng khoan thẳng vào phần lý trí còn sót lại trong ông Pùa, nó đánh bay hết những ché rượu ông vừa uống. Anh hỏi về người đàn ông từng yêu bà Phiêng mà không có được, hỏi ông ta đẹp trai hơn, biết nói lời ngọt ngào hơn mà vì sao bà Phiêng không chọn người đó, mà chọn ông – một người nghèo chỉ có núi rừng làm của hồi môn. Tay cầm dao của ông Pùa run lên.

Khi thầy giáo nói đến hậu quả – tù tội, cái chết của con, nỗi nhục của vợ, và sự ung dung của kẻ gieo độc thì con dao trong tay ông đã nặng như đeo đá.

“Có gì chứng minh Hen không phải là con ông?”
“Nếu là con họ, họ có để con mình sống khổ sống sở bao nhiêu lâu nay không?”

Và câu nói: Có những sai lầm có thể sửa chữa, nhưng có những sai lầm sau này có muốn cũng không bao giờ sửa chữa được. Ông đừng để mình rơi vào cảnh đó.

Những câu hỏi, câu nói ấy như xé toạc màn sương trong mắt ông, như nhát búa giáng vào đầu óc mụ mị của ông. Trong khoảnh khắc, lớp men rượu, lòng ích kỷ, cơn ghen mù quáng bỗng nứt toác ra. Ông nhìn Hen. Đứa con gái gầy gò đứng đó, lưng thẳng như cây tre nứa, ánh mắt không oán hận, chỉ có đau đớn và thương xót. Giờ ông mới nhận ra đôi mắt của con bé đen và sâu giống hệt mắt ông khi soi mình dưới suối. Ông nhìn vợ mình, ánh mắt bà đầy tuyệt vọng, như có bóng tối mịt mờ.

Ông buông tay, con dao rơi xuống vang lên tiếng khô khốc, như một phán quyết. Cả thân hình ông Pùa đổ gục xuống như thân cây chuối giữa rừng già. Ông bật ra tiếng khóc trầm đục, lạc nhịp, như tiếng thú bị thương giảy dụa giữa rừng sâu. Ông khóc cho cơn điên của mình. Khóc cho niềm tin, tình yêu mà ông đã tự tay bóp chết. Ông chợt hiểu sự độc ác của ông Thênh không đáng sợ bằng sự ngu dốt của chính mình. Ông hận ông Thênh nhưng trên tất cả, ông hận chính mình. Hận vì đã nghi ngờ người đàn bà đã không bỏ ông dù ông nghèo. Hận vì bà Phiêng, cô sơn nữ đẹp nhất bản đã chọn ông, không vì tiền, không vì danh, không vì điều gì.

Mưa vẫn rơi. Day dứt khôn nguôi. Ngoài bìa rừng, cây gạo già vẫn đứng lặng, nhưng trong lòng đất vẫn đang âm thầm ươm đầy nhựa sống, chuẩn bị cho mùa nở sắp tới, hoa vẫn sẽ đỏ, đỏ như màu máu.

Sau ngày mưa hôm ấy, có hai người đàn bà bỏ đi - bà Phiêng và vợ ông Thênh – bà Nên. Họ cùng nhau dựng lều bên con suối.

Đêm xuống rất chậm. Ngọn lửa nhỏ giữa lều cháy yếu ớt, lúc bùng lên, lúc tàn đi, chấp chới hệt như đời hai người đàn bà đang ngồi đối diện nhau. Ánh lửa hắt lên hai gương mặt đã sạm đi vì nắng gió, vì những tháng năm nhẫn nhịn không lời. Họ ngồi đối diện nhau, không là tình địch, không là người thân, họ chỉ là hai người đàn bà mỏi mệt và muốn thoát khỏi chính mình. Suối vẫn chảy, núi thì đứng lặng im như bao mùa rẫy nhưng trong lòng hai người đàn bà đang dần thay đổi. Nỗi đau của họ khác nhau nhưng không bên nào nhẹ hơn.

Bà Nên ngồi dựa lưng vào cột lều, ánh mắt nhìn ngọn lửa bập bùng rồi khẽ khàng:

- Tôi đã chờ đợi, đợi rất lâu. Tôi từng nghĩ tình cảm chân thành trao đi sẽ được nhận lại, dù ít thôi tôi cũng cam lòng. Tôi ở bên ông ấy cả đời. Mà chưa bao giờ ông ấy quay đầu nhìn lại tôi.

Rồi bà nở nụ cười buồn mong manh như khói: “Nhưng hóa ra…người không yêu mình, thì dù mình có làm gì, mình có đứng ngay trước mặt, họ cũng không thấy. Đàn bà, khổ nhất là khi chồng không hướng về mình”

Bà Phiêng ngồi bó gối im lặng, đôi mắt bà không còn sự đau đớn, tuyệt vọng, nó chỉ còn một sự bình lặng của tro tàn. Bà đáp lại, rất khẽ:
“Với tôi, khổ nhất là khi chồng tin người khác hơn chính người đang nằm cạnh mình mỗi đêm”.

Bà Nên bật cười, ánh mắt vẫn không rời ngọn lửa: “Có những lúc, tôi ước được chồng mình nghi ngờ. Bởi vì ít ra người ta còn nghĩ đến mình. Vậy mà… sống bên nhau mà trái tim ông ấy chưa bao giờ ở đây.”

Bà Phiêng khẽ thở dài: “Còn tôi…, dù được cả hai người yêu nhưng khi bị thương lại đau thương gấp bội, cũng không nhẹ hơn bà đâu”

Lời nói rơi xuống, nặng và chát. Ngọn lửa bập bùng. Tiếng suối đều đều như nhắc rằng đời vẫn trôi, mặc kệ những phận người chao đảo. Trong khoảnh khắc ấy, họ không còn là vợ của ai. Chỉ là hai người đàn bà đã đi gần hết đời mình, nhìn lại và thấy quá nhiều thứ đã đánh mất, Chỉ còn sự bình thản của những người đã hiểu có những cuộc yêu không phải để giữ, mà để học cách rời tay ra mà không oán hận. Họ chợt nhận ra khi không còn phải trông ngóng, mong chờ vào một ánh mắt, khi họ buông hoàn toàn thì lòng họ lại bình yên đến lạ, họ hiểu có những thứ càng níu càng rách. hạnh phúc không phải là được chọn, mà là không còn phải chờ đợi ai chọn mình nữa.

Suối vẫn chảy. Đêm vẫn sâu thăm thẳm. Lửa nhỏ dần, than hồng rực lên lần cuối, rồi lắng xuống. Trên cao, mây tan ra, một khoảng trời sao lộ ra, lặng lẽ, le lói. Và ở đâu đó, giữa núi rừng này, hai trái tim đàn bà lần đầu tiên được tự do.

Cùng một đêm ấy, cũng có hai người đàn ông thức trắng bên ánh lửa. Trống rỗng. Hoang hoải.

Trong căn nhà trống, ông Pùa lần đầu nhìn thấy vẻ đẹp thầm lặng của người vợ đã ở bên ông cả đời. Nỗi ân hận ấy không dữ dội, mà âm ỉ, dai dẳng, như một vết thương không chảy máu nhưng không bao giờ lành. Sự tỉnh ngộ đến muộn, nặng như đá núi đè ngực.

Còn ông Thênh, trong mùi rượu cũ, lần đầu thấy sợ. Ông nhận ra mình đi tìm hình bóng không thuộc về mình, mà bỏ quên người đã nằm trong tim từ bao giờ. Cả đời ông chạy theo một thứ không thuộc về mình, để rồi đánh mất những gì đang có trong tay. Lần đầu tiên, ông hiểu: ghen tuông không phải vì yêu nhiều, mà vì yêu sai chỗ, có những thứ không có được không phải vì kém may mắn, mà vì không thuộc về mình ngay từ đầu.

Hai người đàn ông. Hai căn nhà. Hai nỗi niềm hoang hoải giống nhau.

Lửa tàn dần. Tro rơi xuống, mỏng và nhẹ. Nhưng nỗi đau, nỗi ân hận thì không tàn. Nó ở đó, âm ỉ, như than hồng dưới lớp tro nguội, chỉ chờ một cơn gió – một biến cố – để bùng lên, thiêu rụi tất cả.

Đêm ấy, đàn bà ngủ yên – trong sự buông bỏ đã chín.
Còn đàn ông thức – trong nỗi tỉnh ngộ đến muộn.

Rồi một ngày… Chim rừng, thú hoang bay, chạy tán loạn, bơ vơ…

Trong chốc lát, dòng suối trong xanh, thanh bình uốn lượn bỗng đổi màu, ngầu đục.

Lũ bỗng cuộn về cuốn theo bùn, cây gãy và đá lăn.

Bản làng náo loạn, người chạy gọi nhau, kéo trẻ con, buộc trâu bò. ..Những mái nhà sàn rung lên trong gió lốc. Tiếng người gọi nhau lẫn trong tiếng mưa, tiếng gió, tiếng núi rừng vỡ ra từng mảng, hoang tàn.

Bên bờ suối, bà Phiêng và bà Nên chưa kịp rời xa. Dòng nước dâng nhanh đến mức không ai ngờ, chỉ một khắc sơ sẩy, lối mòn đã biến mất. Hai người đàn bà bám lấy nhau. Nước lạnh buốt. Dòng chảy mạnh đến nghẹt thở, mỗi bước đi như bị ai đó kéo ngược lại, run rẩy.

Ở phía bên kia bản, ông Pùa nghe tiếng suối gầm thì tim thắt lại. Ông không kịp nghĩ. Chỉ kịp lao ra khỏi nhà, lao về hướng con suối.

Bên này ông Thênh cũng chạy. Không vì ai gọi. Mà vì chính ông hiểu: nơi bờ suối ấy, có thứ ông chưa bao giờ giữ được, nhưng vẫn muốn níu giữ.

Hai người đàn ông lao vào dòng lũ. Nước đập vào ngực họ nặng như búa tạ.  Chân trượt trên đá lăn. Họ bám vào rễ cây, vào nhau, vào bất cứ thứ gì còn trồi lên khỏi mặt nước.

Ông Pùa là người đến trước. Ông chụp lấy tay bà Phiêng. Bàn tay gầy guộc ấy lạnh cóng, run rẩy, nhưng khi chạm vào tay ông, nó không buông.

Ông Thênh cũng tới được gần bờ. Ông cố với tay về phía bà Nên. Hai người đàn ông cùng chung mục đích cùng đẩy hai người đàn bà hướng về nơi an toàn. Nhưng dòng nước đã dâng cao quá nhanh. Lũ từ thượng nguồn đổ về, mang theo cả thân cây lớn.

Một tiếng rầm khô khốc vang lên. Cơn lũ chồm lên. nuốt trọn mọi âm thanh.

Ông Thênh chỉ kịp đẩy mạnh bà Nên bám vào cái cây còn chưa bật gốc, rồi nước cuốn ông đi. Trong khoảnh khắc ấy, ông chỉ kịp nhìn phía bà Nên, ánh mắt bà kinh hoàng nhìn ông, đôi tay chấp chới hướng về ông vô lực. Tiếng ông bỗng vang xa giữa tiếng gầm gào: Xin… lỗi…

Ông Pùa ghì chặt bà Phiêng vào lòng. Nước cuộn quanh họ, nhưng ông không buông. Lần này, ông không buông nữa.

Khi mưa ngớt, lũ rút dần, chỉ còn lại bùn đất và những cành cây gãy nát. Núi lại đứng lặng im như trước, gió núi vẫn thổi quanh như từng chưa có điều gì xảy ra.

Nghe tin lũ về bản, Hen, cô giáo tương lai đã từ trường dại học lao trở về. Trước mắt cô, bản làng im phăng phắc, tan hoang xơ xác. Cha mẹ cô lao ra ôm chặt lấy cô, oà khóc. Hen, mắt đỏ hoe, cô nhìn quanh những mái nhà sàn xiêu vẹo, những gương mặt mệt mỏi nhưng không gục ngã. Lần đầu tiên, cô thấy mình không còn nhỏ bé trước núi rừng nữa.

Rồi cô lại chạy về phía cuối bản nơi lán học. Dưới gốc cây gạo già, thầy giáo đang đứng đó, mặt lem luốc bùn lẩy, anh nhìn cô khẽ mỉm cười. Nắng sau mưa rơi xuống, rực rỡ. Nụ cười anh sáng lấp lánh như mặt trời vừa nhô khỏi đỉnh núi. Hoa gạo nở đỏ rực trên cao, màu hoa không còn gắt như máu mà ấm lên màu than hồng, như cháy lên giữa nền trời sau mưa, như những đốm lửa giữ lại sự sống cho bản làng vừa đi qua bão lũ.

Gió thổi nhẹ.

Hoa gạo rơi.

Sau đau thương, một điều mới mẻ, mạnh mẽ đang lặng lẽ bắt đầu.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm