TIN TỨC

Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-01-16 19:37:56
mail facebook google pos stwis
656 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Trần Tế Xương của chúng ta cũng như thế, vì lận đận thi cử, dở thầy dở thợ, mà “vẽ” nên “chân tài” một chân dung. Nếu Trần Tế Xương thuận buồm xuôi gió con đường quan lộ, biết đâu ông đã bị danh lợi ràng buộc (vì lẽ thường con người ở chợ thì ràng buộc chữ lợi, ở triều thì ràng buộc chữ danh - Nguyễn Bỉnh Khiêm). Cho nên có thể nói, chính thời thế đã tác tạo nên tài năng thơ Trần Tế Xương, mà như Xuân Diệu đánh giá:

Ông nghè, ông thám vô mây khói

Đứng lại văn chương một tú tài.

“Không đỗ ông càng tốt bộ ngông”

Trần Tế Xương có tên húy là Trần Duy Uyên. Ông đi học sớm và sớm nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Gia thoại kể lại, hồi Uyên 10 tuổi, nhà có khách đến chơi, thấy trước nhà có một dãy chậu hoa, khách bèn ra cho cậu bé Uyên một câu đối: “Đình tiền ngũ sắc hoa” (trước sân có hoa năm sắc). Cậu bé Uyên liền chỉ vào lồng chim khướu treo ở hiên và đối lại: “Lung trung bách thanh điểu” (trong lồng có chim trăm tiếng). Khách nghe đối khen hay nhưng thở dài mà tiên đoán rằng đời thằng bé này không chừng lại lẩn quẩn như chim bị nhốt trong lồng!

Cuộc đời ngắn ngủi 37 năm của Trần Tế Xương đã nằm gọn trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước. Lục tỉnh Nam Kỳ rơi trọn vào tay Pháp lúc ông ra đời 3 năm. Khi ông 12 tuổi, Bắc Kỳ, Nam Định quê ông mất vào tay giặc. Trần Tế Xương là hiện thân của con đường học hành thi cử trong buổi ấy, không phải của “bảng vàng, lộng tía” mà là “giấc mộng tan tành” của phận thư sinh. Cuộc đời Trần Tế Xương gắn liền với thi cử với tất cả là tám lần thi. Sau 3 lần đầu hỏng thi, mãi đến lần thứ tư của khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài, nhưng cũng chỉ là tú tài thiên thủ (lấy thêm). Sau đó thi hoài mà không đỗ cử nhân. Khoa Quý Mão (1903), Trần Tế Xương đổi tên mình thành Trần Cao Xương tưởng rằng bớt đen đủi, nhưng rồi vẫn hỏng, đến nỗi ông phát cáu lên:

Tế đổi làm cao mà chó thế

Kiện trông ra tiệp hỡi trời ôi!

 Song một mặt ông vẫn luôn tự đắc với mình, xem như đó là cách tự an ủi:

Bởi ông hay quá ông không đỗ

Không đỗ ông càng tốt bộ ngông.

Lý do bậc “thần thơ thánh chữ” (đánh giá của nhà văn Nguyễn Công Hoan về Tú Xương) thi hoài không đỗ đã được nhiều nhà nghiên cứu phân tích. Trong đó có nguyên nhân dễ hiểu là tính tình Tú Xương rất phóng túng, ít chịu sự ràng buộc bởi “tầm chương trích cú” nào. Nhưng với thi cử ngày trước, muốn thi đỗ điểm cao phải có điển này tích nọ trong bài làm, mà với thơ Tú Xương thì điều này tuyệt nhiên rất ít thấy dùng đến. Ngặt nghèo một nỗi là, thời ấy, bằng tú tài thuộc loại “dở dở ương ương”. Vì tú tài không được thi Hội, cử nhân mới được thi; tú tài cũng không được bổ quan, cử nhân mới được bổ. Đã đậu tú tài, muốn đậu cử nhân phải đợi 3 năm sau mới có kỳ thi. Hoàn cảnh oái ăm ấy, khiến ông tú tài Trần Tế Xương trở thành nho sinh “dài lưng tốn vải”, trở thành kẻ “ăn bám vợ” như chính ông đã tự thuật về công lao người vợ nuôi ông trong bài thơ Thương vợ:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Với gia cảnh tám người con, lại khổ với ông chồng đa tình, đa tài và phóng túng, vai bà Tú nặng hơn vì gánh nặng mưu sinh. Tú Xương rất ý thức điều đó, xong cái “tật” của con người có “tài” luôn song hành trong ông. Chính Tú Xương đã “tự kiểm điểm” với vợ trong giai thoại về sự ra đời bài thơ Ba cái lăng nhăng:

Một trà, một rượu, một đàn bà,

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.

Chừa được cái gì hay cái nấy,

Có chăng chừa rượu với chừa trà!

Để rồi cay đắng nhận bi kịch của con người “thừa” (chữ của Nam Cao) “có chồng hờ hững cũng như không” - Thương vợ. Và để rồi Tú Xương tự “thẹn” với lòng như cụ Tam Nguyên Yên Đổ đã từng thẹn trước đây:

Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành,

Mắt thời thao láo, mặt thời xanh.

Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó,

Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh.

Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ,

Rượu chè trai gái đủ tam khoanh.

Thế mà cứ nghĩ rằng ta giỏi,

Cứ việc ăn chơi chẳng học hành.”

(Phỗng sành).

Chính những điều nói trên đã làm nên giọng điệu thơ vô cùng đặc biệt của Tú Xương vừa trào phúng vừa trữ tình, vừa hiện thực vừa lãng mạn: “Vừa say mê nhập cuộc vừa phản ứng lại khoa cử – điều này đã tạo nên sắc thái tự trào độc đáo riêng ở Tú Xương. Chính từ đặc điểm này lại tiếp tục lan tỏa và quy định tiếng nói trữ tình của Tú Xương trong cách cảm nhận về thời thế, trong sự phân thân tạo nên tiếng cười bỡn cợt, bông phèng…” (Một thế kỷ tiếp nhận thơ Tú Xương - Nguyễn Hữu Sơn, Trần Tế Xương - Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, 2003, tr. 13).

“Kìa ai chín suối xương không nát” (Nguyễn Khuyến)

 

Trần Tế Xương (1870-1907) thường gọi là Tú Xương. Cuộc đời ông chỉ gắn liền với thi cử, có tất cả 8 lần. Đó là các khoa: Bính Tuất (1886), Mậu Tý (1888), Tân Mão (1891), Giáp Ngọ (1894), Đinh Dậu (1897), Canh Tý (1900), Quý Mão (1903) và Bính Ngọ (1906). Sau 3 lần hỏng thi, mãi đến lần thứ 4 khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài, nhưng cũng chỉ là tú tài thiên thủ (lấy thêm). Sau đó không sao lên nổi cử nhân, mặc dù đã khá kiên trì theo đuổi…

 

Dù trước tác không nhiều và mất mát nhiều do không được lưu giữ cẩn thận, tuy nhiên ở thể loại nào (thơ luật Đường, phú, văn tế, câu đối, hát nói, lục bát), Tú Xương cũng tỏ ra là một nghệ sĩ bậc thầy. Tương truyền Nguyễn Khuyến đã khóc Tú Xương với hai câu thơ được ghi trên mộ: “Kìa ai chín suối xương không nát/ Có lẽ ngàn thu tiếng vẫn còn”. Nhà văn Nguyễn Công Hoan suy tôn Tú Xương là bậc “thần thơ thánh chữ”. Còn Xuân Diệu thì xếp hạng Tú Xương thứ 5 sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Đoàn Thị Điểm. Thi sĩ Tản Đà khi còn sống tự nhận “trong những thi sĩ tiền bối, phục nhất Tú Xương”. Còn bậc thầy tùy bút Nguyễn Tuân thì Tú Xương là “một người thơ, một nhà thơ vốn nhiều công đức trong cuộc trường kỳ xây dựng tiếng nói văn học của dân tộc Việt Nam”.

Tú Xương còn là hiện tượng hiếm có trong lịch sử tác giả Việt Nam khi có các “môn đệ” theo sau để trở thành “môn phái” thơ Tú Xương bằng sự ngưỡng mộ ông. Từ Tú Xương rồi xuất hiện Tú Mỡ, Tú Sụn, Cử Nạc và thêm chi phái Tú Poanh, Đồ Phồn… (dẫn từ lời giới thiệu của Nguyễn Đình Chú, Tú Xương - tác phẩm, giai thoại, Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh, 1986).

Thật khó nói hết cái tài, cái thi vị về cuộc đời và thơ Tú Xương trong một bài viết ngắn. Để tỏ lòng ngưỡng mộ, người viết bài này có vài dòng lục bát tỏ cảm kích với tiên sinh Tú Xương:

Tài cao phận thấp là đây

Tám lần ứng thí, trắng tay… tám lần

Trách trời ăn ở bất cân

Thơ ngâm không hết, gạo lần chẳng ra

Một ca, một rượu, một trà

Một ông ngất ngưởng… vai bà nặng thêm

Ngẫm đời còn một chữ duyên

Còn hai chữ nợ, còn phiền lụy nhau

Chút tình nhắn gửi mai sau

Đừng ăn ở bạc làm đau phận người

...

Trạng nguyên, tiến sĩ đâu rồi

Tú tài còn được cho đời thẩm thơ!

T.N.T

Nguồn: Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm