TIN TỨC

Vì có em nên đã sinh ra...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-01 10:16:45
mail facebook google pos stwis
1197 lượt xem

ĐẶNG HUY GIANG
(Đọc “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026)

Tôi đã đọc nhiều bài thơ viết về cánh đồng của nhiều nhà thơ, nhưng khi đọc “Những cánh đồng quê hương” của Đinh Nho Tuấn, vẫn cảm thấy có một điều gì đấy khác lạ. Đinh Nho Tuấn phát hiện ra “màu xanh” là “máu của cánh đồng”, còn “màu vàng” là “thịt của cánh đồng”. Hai cái màu căn bản ấy do “Những người nông dân’ ngày lại ngày  đi “gieo màu no ấm” mà có. Nhưng phát hiện lạ hơn là nhìn đất nước qua những cánh đồng và người nông dân thật ấn tượng và thật thuyết phục:

Đất nước tôi

Những cánh đồng

Là tấm áo vá chằng vá đụp

Người nông dân

Khoác tấm áo đó lên người

Mồ hôi thơm mùi đất.

Trong đó,  “tấm áo vá chằng vá đụp” và “mồ hôi thơm mùi đất” là hai chi tiết thơ đắt, đáng lưu ý. Phải là người gắn bó, trải nghiệm với cây lúa, cánh đồng, người nông dân và thân phận nhà nông đến mức nào, mới có thể cất lên những câu thơ như thế! Những câu thơ ấy như được thăng hoa từ sự  giản dị và chân thực rất mực! Và nó quen thuộc đến nỗi ai cũng có thế thấy, nhưng người gọi tên ra nó thì không nhiều và cũng không dễ dàng gì.

Trong mảng thơ viết về tình yêu, tôi tâm đắc với bài “Vì có em nên đã sinh ra” Nguyên văn:

Thời gian chủ động trôi

Tâm hồn ai đôi mươi

 

Khuôn mặt mình dù rơi xuống sau bao lần rửa

Ở những nơi tôi còn thở

Xin hữu hình có em

 

Em chọn sinh vào thuở có ta

Ta có em nên đã sinh ra

Vì em ta siêng sống

Một đời người đi theo màu tím

Một đời người nắm vạt áo tình yêu

 

Nếu hiểu hết về anh thì em sẽ biết một điều

Anh vẫn mãi là như thế

Đau đáu trên trần thế

Vì có em nên đã sinh ra

Bài thơ khẳng định: Tình yêu không chỉ là cảm xúc lứa đôi mà trở thành lý do tồn tại, như một căn nguyên mang ý nghĩa sống. Bài thơ cũng  nêu rõ thân phận và sự hữu hình của tình yêu. Câu “xin hữu hình có em” rất đắt. Ở đây, “em” không chỉ là đối tượng yêu, mà là bằng chứng cho sự hiện hữu, là điểm neo để cái tôi không tan biến. Mặt khác, bài thơ coi tình yêu như nguyên nhân sinh ra tất cả. Hai câu “Em chọn sinh vào thuở có ta/ Ta có em nên đã sinh ra” đảo chiều nhân quả rất thơ: Không phải “ta sinh ra rồi mới có em”, mà “có em nên ta mới thực sự sinh ra”. Đây là một cách nói đậm màu hiện sinh: Con người chỉ thật sự “sinh” khi tìm được ý nghĩa để “sống”. “Em” trở thành điều kiện khai sinh tinh thần. Bài thơ có giọng điệu chân thành, không cầu kỳ nhưng đọc lên là nhớ.

Thơ tình của Đinh Nho Tuấn có lúc rất xác quyết, thiên về phía em một cách cực đoan: “Nếu một ngày em không còn trên trái đất/ Anh sẽ là dấu chấm hết”,  “Đích anh đến chỉ cần em là đủ” (“Nhập vào ta đi hoang”) và em làm anh ngỡ ngàng đến mức trong “Tôi bất ngờ sống”:

Em thực tới mức thành hư ảo...

Tôi bất ngờ sống

Và bất ngờ  hiện diện trong em.

Trong “Khói bụi và cỏ”, có những câu thơ rất đẹp và đẹp đến nao lòng, nên thơ ngay từ cách nói, cách cảm. Đây là 12 câu trích từ “Tháng Giêng”: “Có người con gái đẹp/ Ngày xuân theo chân chồng/ Sao mắt còn rưng lệ/ Vườn quê hạt sương đông”; “Người dắt người yêu tới/ Trong nắng xuân ngập ngừng/ Còn chồi non lộc biết/ Là mắt còn rưng rưng”; “Đất đã tan vào cây/ Nước đã chưng thành rượu/ Đám mây trời trẻ ra/ Tháng Giêng là viên kẹo”. Đó là những câu thơ trong trẻo được sinh thành từ một “cảnh giới’ rất đặc biệt và chúng được tôn cao nhờ “cảnh giới” đặc biệt ấy. Cảm giác sự sống đều đang âm thầm biến đổi để trở nên mềm hơn, ngọt hơn, nhẹ hơn và non trẻ hơn từ “Tháng Giêng” là rất rõ, đặc biệt ở 4 câu kết:

Đất đã tan vào cây

Nước đã chưng thành rượu

Đám mây trời trẻ ra

Tháng Giêng là viên kẹo.

 Còn bài “Nếu” như những lời tự nguyện mong muốn trong đời của một con người đích thực nếu phải chọn một bài hát duy nhất, một quê hương duy nhất, một người yêu duy nhất, một bài thơ duy nhất:

Nếu chỉ hát một lần duy nhất trong đời

Con xin được hát bài ca về cha mẹ

Nếu phải chọn một nơi đi về

Tôi sẽ chọn quê hương, đúng thế!

 

Nếu chỉ một lần nói về người mình yêu

Câu chuyện về em tôi sẽ kể

Nếu chỉ được viết một bài thơ

Bài thơ về tự do, chắc chắn thế!

 Trong “Khói bụi và cỏ”, có những câu thơ hay đủ sức đứng một mình, được viết một cách trực giác đầy ám gợi: “”Bầy thạch sùng ăn không hết đêm đen” (“Sài Gòn mùa yên lặng”), “Bài thơ là vết rách thời gian” (“Dưới chân em vùi lấp ngàn chân lý”), “Đau khổ nhất là phải giấu đi đau khổ” (“Em hay thu”), “Tình yêu không chọn những con đường thẳng” (“Đàn ông và đàn bà”)...

 Đọc những bài thơ tình trong “Khói bụi và cỏ”, tôi ngộ ra rằng: Đinh Nho Tuấn không phải là người đi tìm tình yêu mà Đinh Nho Tuấn là nơi tình yêu đang tìm cách tự nhận ra nó.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm