TIN TỨC

Còn hương tình yêu nào ở lại cùng em

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-21 20:18:34
mail facebook google pos stwis
2715 lượt xem

TRÚC LINH LAN

(Đọc Nắng dắt mùa đi, thơ Hà Kim Quy, NXB Hội Nhà văn, 2022)
 

“Còn đêm nay nữa cuối cùng

Tay trong tay giữa ngập ngừng ở, đi

Thôi đừng dang díu làm chi

Thương nhau đi, ở… lỡ thì vẫn thương”

(trang 72)

Nhà thơ Hà Kim Quy quê Nam Định. Vài dòng thông tin ít ỏi về chị cùng với tập thơ đầu tay gồm 45 bài thơ phần lớn theo thể tự do không gò bó số câu số chữ…Một số bài nói về làng quê, về bà… rất cảm động. Đặc biệt những bài thơ nói về tình yêu gây ấn tượng bởi kết cấu cũng như xây dựng nhân vật trữ tình trong thơ cũng khá độc đáo, khác lạ. Nhà thơ Hà Kim Quy tuy tôi không quen, không biết mặt ngoài đời và cũng chưa lần đọc được thơ chị đăng đâu đó nhưng tôi cảm với tâm thế của một người làm thơ tìm ra cung thương đồng điệu. Xin lá bùa yêu làm con đò chữ nghĩa giải mã những câu thơ nghịch lý thú vị trong bài “Bùa yêu” và đi vào khu vườn đầy nắng, gió và đầy lá rụng để cùng nhà thơ nữ xinh đẹp này đi tìm “lá bùa yêu” khi mà nhà thơ hoang mang, rối rắm trước ngã rẽ cuộc tình: “Em chọn lối nào đi về phía anh/Khi nắng chiều rơi hoàng hôn rực cháy/Trong trăm ngả dọc ngang hoang hoải ấy/Biết lối nào thu

cất lá bùa yêu?” (Lối nào cất bùa yêu – tr.31). Một dấu chấm hỏi hàm ý trả lời, nếu biết thì nắng không dắt được mùa đi! Lá bùa yêu ấy vẫn còn bí mật từ những nghìn năm trước rồi. Các bậc tiền bối xưa vẫn loay hoay đi tìm “lá bùa yêu” ấy mà viết lên nghìn bài thơ tình diễm lệ. Tôi không có gì phải ngạc nhiên khi nàng thơ với những lời thú nhận ngọt ngào:

“Anh, mùa thu cho lòng em rạo rực

Xao xuyến, bâng khuâng khi gió lạnh sương chiều

Anh, bầu trời xanh dịu dàng trong trẻo

Để em gửi vào những khao khát thương yêu”

(Mùa anh- tr.14)

Hình như Nhà thơ Hà Kim Quy muốn làm một chứng nhân các cuộc tình, những chủ thể trong thơ có “anh” với một khu vườn tình ái, một cây tương tư và một người đàn bà ươm nắng cần mẫn siêng năng “Bên những mầm cây tình nhân”, của những đa đoan qua hình ảnh “người đàn bà xâu nỗi buồn thành thơ”; “Làm mẹ đơn thân/Chị như gió chông chênh/Đắng cay xâu thành chuổi hạt/Dệt vào thơ/Lung linh nỗi đời”; hay “Người đàn bà xây lâu đài thơ” trên căn gác nhỏ của mình. Và cứ thế nhà thơ quan sát tinh tế những cung bậc cảm xúc từ bao phía. Vậy phía nào là của chính mình để góp nhặt thành một tập thơ “Nắng dắt mùa đi”? Mùa này có phải là các mùa trong thiên nhiên không? Chúng ta khoan khám phá điều này mà hãy cùng tôi nhìn một hình ảnh thật lãng mạn, gợi cho bạn yêu thơ những liên tưởng những cảm nhận thú vị rất dễ thương:

Em gối đầu vào thơ anh trong giấc ngủ

Những con chữ

Chợt vang như những phím dương cầm

Phím nói lời yêu dịu ngọt êm đềm

Phím gợi nhớ thương thổn thức

Phím vang lên cung trầm

Như tan vào mê đắm

Phím của trái cấm mùa yêu”

(Đêm cài khuy xanh – tr.40)

“Những con chữ”, “Phím dương cầm|” như được nhà thơ thổi vào đó những cảm xúc dồn dập qua điệp từ đầu câu “phím nói…”; “phím gợi…”, “phím vang...” bao trùm lên ý thơ nghe được sự va chạm mãnh liệt của nỗi khát khao và độ rung của cung bậc trầm bổng, sự nhớ nhung khắc khoải ngân lên trong trái tim người đàn bà đang yêu “Như tan vào mê đắm”. Hình như nàng mơ đang lạc vào vườn địa đàng và bản nhạc nàng đang nghe trong giấc mơ được dạo lên từ “Phím của trái cấm tình yêu”. Để rồi khi:” Giấc mơ/Bốc hơi theo ngùn ngụt nắng” để lại trong lòng nhà thơ những tiếc nuối muốn níu kéo nhưng đã xa mất rồi. Tôi đọc bài thơ nhiều lần vẫn chưa hiểu hết ý của câu kết bài thơ cũng là tựa bài thơ “Đêm cài khuy xanh”. Có lẽ nàng tan theo phím đàn với những mê đắm cuồn cuộn dòng chảy của yêu viết lên ngôn từ, hình ảnh câu chữ mang tầng tầng ngữ nghĩa cảm xúc? Điều này làm cho thơ của Hà Kim Quy mở ra những liên tưởng bất ngờ thú vị chăng? làm tôi chợt nhớ câu nói của Philippe Bailey: “Ngọt ngào nhất là tình yêu, cay đắng nhất cũng là tình yêu”: nhưng nó ngọt khi nào? Đắng khi nào và trở thành ly rượu độc khi nào? Phụ nữ chúng ta chưa thấu đáo hết, vẫn hồn nhiên, ngây thơ một cách đáng yêu, hình như biết hết nhưng giả vờ không biết: “Em vẫn biết mùa thu không mãi mãi/Phía sau anh bao rét buốt đông về/Em vẫn biết một mai mùa đi hết/Ngọn lửa nào hong nổi giấc mơ?” (tr.14). Shakespeare đã đúc kết: “Phụ nữ yêu bằng đôi tai, còn đàn ông một khi đã yêu thì sẽ yêu bằng đôi mắt” Vì vậy biết rằng “Ly rượu tình yêu ngọt mà đắng/Hai người uống thì ngọt ngào, ba người uống thì chua cay. Còn tự nhiên uống thì ngộ độc” (Tao Xinhzhi) nhưng vẫn uống mới hay chứ! Tôi thấy người đàn bà trong thơ Hà Kim Quy như một bến chờ con thuyền quay về hay một sân ga chờ con tàu không bao giờ ghé lại!: nàng cứ thơ thẩn đi tìm “Mùa ngâu về sao em chẳng thấy/Giọt mưa nào tràn mi”; “Mây nhiều thế sao chẳng làm mưa nữa/Bắc nhịp cầu cho đôi lứa gần nhau”. Để rổi nàng băn khoăn: “ Hay Chức Nữ bây giờ về đâu/Liệu Ngưu Lang có thay lòng đổi dạ/Em chẳng hiểu vì sao lại thế/Có lẽ nào thu cũng khát mùa yêu?” nên tôi cảm thấy thú vị như nhà thơ Trần Mai Hường nói về mình:”Định cư ở lưng chừng trời”. Hình như các nhà thơ chúng ta đều thế nhỉ? Và cũng không ngạc nhiên khi nàng giải bày:

“Em thả nỗi buồn

                      bay thành ngôi sao xa xôi

Anh cứ mải mê tìm kiếm hoài

                      nỗi buồn em trên cát”

Nỗi buồn nàng thả bay lên thành ngôi sao đã cao ngút ngàn, còn chàng thì lại đi kiếm tìm trên cát. An ủi cho nàng là chàng có đi kiếm mà tìm trật địa chỉ, kết thúc cuộc tình thành hai đường thằng song song: “Nên suốt đời chẳng bao giờ có thể/ Bến bờ xa gặp mặt được tinh cầu…” (Lệ biển – tr.29). Nghe mà đứt ruột nhưng đành chịu thôi vì tình yêu nó lạ lắm. Nhà thơ tình Xuân Diệu đã đúc kết kinh nghiệm gửi bạn yêu thơ: “Yêu là chết trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu/Cho rất nhiều song nhận được bao nhiêu/Người ta phụ bạc hoặc thờ ơ không biết”. Tôi tâm đắc với điều mà nàng thơ đã hiểu ra: “Có bao nhiêu ngả con đường/Ai người gặp được yêu thương trong đời?/Thế gian hơn bảy tỉ người/Chiều nay chẳng có ai cười với tôi” (Chạm – tr.49)… Đọc bài thơ Bức Tường của chị, tôi rất thích, chị so sánh:

Đàn bà như bức tranh

Treo trên bức tường cuộc đời

Dù buồn hay vui      

               bức tranh lúc nào cũng đẹp

Chiếc đinh hiểu nỗi đau âm thầm của bức tường

Nhói buốt”

Người đàn bà trong thơ Hà Kim Quy dịu dàng, đôn hậu, khoan  dung và chung thủy: “Biết mùa thu sẽ ngập ngừng qua hết/Cũng như anh chẳng thể quay về/Tình em cứ rộn ràng bờ bãi/Trải lòng vàng dang díu một đời mê” (Mùa anh – tr.15) chị trách cứ nhẹ nhàng, luôn tìm nguyên nhân không gian thời gian để tha thứ và tự giải mã cho mình mọi ẩn số cô đơn, khắc khoải cả sự thấu hiểu tận cùng mọi nỗi đau xung quanh mình, trái tim mình, buồn nhưng không bi lụy, than thở, vẫn tự tin, vẫn kiêu hãnh là chính mình. Zayn Mailk đã nói gì nhỉ? “Bạn chưa tìm được hoàng tử không có nghĩa bạn không phải là một công chúa”. Tôi thích phong cách này của chị. “Có thể anh đến hoặc không đến/Em vẫn lăn hạt đi qua mùa thương nhớ/Mong ngày tái sinh gặp gỡ/hạt lại nứt vỏ, nảy mầm yêu” (Chuỗi ngọc tình yêu – tr.90)… “Cách ví von của nhà thơ nữ này rất tinh tế nàng là nắng, mưa, cuồng phong…Nắng sẽ mất dần đi khi đêm về, mưa rồi sẽ tạnh, cuồng phong rồi sẽ tan…Không ai cầm được nắng, mưa hay gió bão. Riêng chàng lại là tờ lịch cuối, xếp vào nàng tháng ngày rồi khi chẳng còn tờ lịch cũ trong lòng nàng vẫn là chiếc lá thắm đậu vào lòng đất em vẹn nguyên….Tôi đọc khá nhiều tập thơ của các nhà thơ nữ, thường nói về nỗi nhớ, chờ mong, cô đơn, trách móc của chủ thể trữ tình là “nàng”. Riêng nhà thơ Hà Kim Quy lại có những bài thơ mang tâm trạng nhân vật trữ tình là “anh”. Tôi trộm nghĩ nhà thơ muốn thử đổi giới tính hay sao? Nhưng tôi chợt nhớ lời dẫn của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm của ba học giả Mỹ: Sylvan Barnet, Marten Berman, William Burto nhận định về thơ trữ tình: “Thơ là nhu cầu tâm sự với chính mình những lúc cô đơn. Cho nên đọc thơ là nghe trộm nhà thơ nói với chính mình”. Tôi đang nghe trộm nàng thơ Hà Kim Quy thì thầm: đâu phải chỉ có phái đẹp mình biết buồn, nhớ… vì yêu đâu nghen, các ông cũng tương tư, thất tình, cũng cô đơn đâu thua gì bọn đàn bà chúng mình, vì mình là một nửa làm đầy thế giới thế, làm vầng trăng khuyết lại tròn đầy…Thế là nàng thơ dẫn ra một loạt làm minh chứng, thật sảng khoái khi đọc câu thơ ta hình dung một gã đàn ông thất tình ngồi ở bến sông

Có nhà phê bình trẻ đã nhận định rằng: “Tình yêu là bến đỗ bình yên của phụ nữ. Bởi phụ nữ sinh ra là để yêu” (Nguyễn Văn Hòa – Mạch đời chảy mãi –tr.90). Tôi nhìn thấy các nụ cười tươi rói của các nàng đi qua trang thơ. Cài một bông cúc họa mi lên mái tóc lắng nghe: “Có phải em – thiên sứ của mùa đông/Chẳng cất tiếng mà sao nghe thánh thót/Chỉ gọi tên đã ngân nga từng giọt/Từng giọt thả vào ấm áp cả mùa đông”(Những nốt nhạc mùa đông – tr.93) Ôi ngọt ngào quá đỗi: “Em là câu kinh/xuyên qua đời tôi rửa sạch bụi trần/Lòng tôi hóa thành hạt mưa trong vắt” Nàng cảm thấy mình quan trọng nha: “Em chợt đến vội vàng như cơn gió/Thổi hồn tôi – chiếc lá nhỏ trên cành/Những yêu thương bừng nhen rồi ở lại/Cây trào dâng nhựa sống mong manh” và thương nhất là câu này: “Đừng vô tình làm cây đau thêm nữa/Để lá vàng thanh thản tự nhiên rơi”. Đôi lúc cho chàng cảm giác chờ đợi cũng là hạnh phúc: “Em có đến như là em đã hứa? Phía trời kia ai ngóng đợi ta về? (Vu vơ – tr.77): “Phía không em cứ bồi hồi trăn trở/Bằng lăng tím hoài/thương nhớ phía người đi”…Khi tiễn nàng đi lấy chồng: “Nhắc về người ấy sang sông

Mang theo cả mối tình không bến bờ

Anh ngồi nhặt những vần thơ

Đợi em đến để giải bùa kiếp sau”

(Bùa yêu – tr.13)

Đợi kiếp sau chắc hơi lâu. Mà kiếp sau chưa chắc gì gặp lại nên mang yếu tố mộng ảo phù du. À thì ra nàng hay chàng nỗi khắc khoải, hay nhớ nhung không kém nhau đâu. Rồi họ sẽ tìm gặp nhau thôi: “Phiến đêm giàn giụa hơi sương/Hồn ta chạm phải cô đơn một người” (Chạm- tr.49). Để cả hai tâm hồn cô đơn cùng nhìn về một hướng biết trân trọng nâng niu nắm lấy thời gian ngắn ngủi: “Chỉ còn lại một ngày/Như ngàn năm đã hẹn/Có một ngày/ Mây núi ở trong nhau” (Thơ tình của núi – tr.85). Có chàng hát du ca cho nàng nghe, cùng đón bình minh tới…để nhận sự ấm áp khi ta bắt gặp hình ảnh hai người nắm tay nhau đi qua cánh đồng băng giá hay một người đàn bà nhỏ xinh bên những mầm cây tình nhân: “Em gieo hạt đợi hoa nhắc anh về”. Yêu thế không biết! Không cần đợi đến kiếp sau. Kiếp này có nàng đến để giải bùa rồi.

    Tôi bước ra khỏi khu vườn thơ còn nuối tiếc vì chưa tìm ra chỗ cất bùa yêu và còn nhiều bài thơ mình chưa đọc hết, tôi dành để lại cho “một nửa mùa thu làm lấy”. Tờ lịch cuối của tháng tám rơi rồi. Mùa thu đang dần đến lên từng chiếc lá vàng rơi. Tập thơ “Nắng dắt mùa đi” của Hà Kim Quy, chị nói rất nhiều về mùa thu, về tình yêu bằng ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc, hình ảnh, trong sáng, tinh tế. Mỗi bài thơ là một chiếc lá thu mang linh hồn riêng rất kiêu hãnh, tự tin cũng rất dịu dàng. Tuy tập thơ đầu tay nhưng tôi tin khi đi hết khu vườn thơ của chị bạn yêu thơ cảm thấy ngọt và say.

“Em sợ một ngày nỗi nhớ ngủ quên

Ta chẳng nhớ nổi tên mình được nữa

Nỗi nhớ có bay đi mất

Còn hương tình yêu nào ở lại cùng em?

(Điều gì ở lại – tr.65)

Tôi tin rằng hương tình yêu trong “Nắng dắt mùa đi” của nhà thơ nữ Hà Kim Quy sẽ ở lại với bạn yêu thơ. Vì nhà thơ Xuân Diệu trong “Bài thơ tuổi nhỏ” đã nói với chúng ta: “Làm sao sống được mà không yêu/Không nhớ không thương một kẻ nào”.

2/9/2022

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm