TIN TỨC

Đọc ‘Bão’ – Ánh sáng nhân tâm giữa cơn bão thời cuộc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-12-05 23:33:39
mail facebook google pos stwis
1279 lượt xem

Tiểu thuyết "Bão" của PGS.TS, nhà văn Nguyễn Đức Hạnh được nhà văn Phan Đình Minh tiếp cận trên cả ba phương diện: nội dung xã hội, nghệ thuật tự sự và chiều sâu nhân văn. Bài viết đặt tác phẩm trong bối cảnh cuộc chiến giữa lương tri và quyền lực tha hóa – nơi chữ “Tâm” trở thành điểm tựa tinh thần của con người giữa bão táp thời cuộc. Văn chương TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết này.

PHAN ĐÌNH MINH

“Bão” là câu chuyện hiếm hoi trong Văn học đương đại Việt Nam mô tả trực diện về thế giới tội phạm, tham nhũng, sự tha hóa của quan chức và cuộc chiến nội tâm sinh tử của những người Công an liêm chính.

Trung tâm tiểu thuyết là Phạm Vụ, một cán bộ Công an trẻ, quyết liệt, giàu lý tưởng, mang trong mình hình bóng người cha đã hy sinh vì sự nghiệp An ninh chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội của ngành Công an. Anh đại diện cho lớp chiến sĩ mới, đối lập với những cái bóng quyền lực bị mục ruỗng, tha hóa trong thể chế.

PGS.TS, nhà văn Nguyễn Đức Hạnh và nhà văn Phan Đình Minh.

Tiểu thuyết mở ra bối cảnh một tỉnh Biên Cương, vùng đất vốn yên bình nhưng nhanh chóng trở thành chảo lửa khi các tập đoàn lợi ích cấu kết với quan chức và xã hội đen, thâu tóm đất đai, xây dựng dự án, rửa tiền, buôn bán ma túy và vô hiệu hóa những người dám chống lại bọn chúng.

Trung tâm của nhóm quyền lực đen là Bí thư Tỉnh ủy Trần Tách, xuất thân từ nghèo khó nhưng đầy thủ đoạn. Không có tài năng, ông ta mua bằng tiến sĩ kinh tế, dùng mưu mẹo, tiền bạc và bạo lực để leo lên đỉnh cao quyền lực. Cùng phe cánh với Trần Tách là Thượng tá Phạm Văn Thắng, Phó Giám đốc Công an tỉnh, chú ruột của Vụ, một người biến chất vì tiền và quyền lực; Chủ tịch tỉnh Nguyễn Duy Hưng, con người nhu nhược, để vợ điều hành đường dây nhận hối lộ qua những “hũ sành” kỳ dị; Tập đoàn HVG của My Loan, doanh nghiệp sân sau chuyên chi tiền để lấy dự án, rửa tiền và thao túng chính trường.

Bên dưới bộ máy quyền lực này là ba băng nhóm xã hội đen: Cường “Trọc”, Út “Sẹo”, Minh Phi, nguy hiểm nhất, tàn bạo, buôn bán ma túy xuyên quốc gia.

Bọn chúng được quan chức bảo kê, đổi lại đem về quyền lợi khổng lồ. Sự kết hợp giữa quan chức tha hóa - doanh nghiệp sân sau - xã hội đen, trở thành “bộ ba ma quỷ”, khiến tỉnh Biên Cương rơi vào loạn lạc.

Lúc này xuất hiện Phạm Vụ, người lính đứng trong tâm bão.

Anh là chiến sỹ Công an Nhân dân có lý tưởng trong trẻo, luôn tin vào sự thật, lẽ phải và vào lời dạy của người cha liệt sĩ:

“Danh dự còn quý hơn vàng”

Vụ cùng Giám đốc Công an tỉnh Nguyễn Hồng Kiên, một người chính trực bí mật lập Chuyên án “Bão tan”, nhằm đồng loạt triệt phá các đường dây tội phạm và lật mặt nhóm quan chức tham nhũng.

Một trong những thông điệp mạnh của “Bão” là cách đồng tiền bẩn phá nát đời sống người dân như thế nào. Các dự án do HVG triển khai khiến hàng trăm hộ dân bị thu hồi đất. Có người “trúng tiền” rồi sa ngã, như gia đình ông Quýnh, từ triệu phú đất trở thành đổ nát vì rượu chè, tranh chấp, tai nạn. Có người như ông Thiện lại biết làm ăn và đứng lên từ một số tiền nhỏ nhoi.

Gia đình Vụ cũng chịu áp lực: Hai người cháu nghiện ngập, trốn sang Campuchia, mẹ anh, bà Vân lo lắng khôn nguôi. Vợ anh, chị Thắm, trở thành điểm tựa thầm lặng giữa những hiểm nguy bủa vây. Các chiến sĩ công an dưới quyền Vụ sống trong cảnh bị đe dọa, gia đình họ luôn đối mặt với sự trả thù của xã hội đen.

Nhiều biến cố dồn dập xảy đến. Bọn người xấu đã dàn cảnh vu hãm Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh Văn Tuấn; Sát hại bác Xây, người cắt tóc hiền hậu nhưng là nguồn cung cấp tin quan trọng; Gài ma túy vào xe của Vụ; Cố ý tông xe vợ anh, đe dọa con anh, tuy vậy, Vụ vẫn không lùi bước.

Khi Bộ Công an phê duyệt chuyên án, đúng giờ G được ấn định, trước khi nổ súng, Vụ đến gặp Giáo sư Thuấn, người viết thuê luận án cho Trần Tách. Giáo sư trong nước mắt thừa nhận sự lụi tàn của hệ thống giáo dục địa phương và nỗi xấu hổ khi tiếp tay cho cái ác… Vụ tặng ông chữ “Tâm”, như một lời nhắc nhở về lương tri.

… Đêm rạng sáng, Minh Phi và đàn em cố thủ trong hang đá. Chúng lo sợ, kiệt sức và hoảng loạn. Minh Phi tìm cách cầu cứu đại ca Voòng từ bên kia biên giới, nhưng bị phản bội.

Trong giờ phút hiểm nghèo, Kiều Huệ liều mình cõng bé Thỏ trắng chạy thoát bằng đường ngách. Cô trao bé cho Vụ, nhưng ngay lúc ấy cô bị Minh Phi bắn gục…

Huệ ra đi trong vòng tay Vụ, như một bông hoa huệ trắng muốt, tinh khiết ngay cả khi bị bầm dập cảnh đời. Hình ảnh ấy là đoạn bi tráng nhất của tiểu thuyết.

Sau cuộc tấn công, toàn bộ đường dây tội phạm từ quan chức đến xã hội đen đều bị bắt. Trần Tách, Thắng, Hưng cúi đầu nhận tội. Không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Nhưng cái giá rất đắt: Bốn chiến sĩ Công an trẻ hy sinh. Kiều Huệ chết. Gia đình nhiều chiến sĩ gánh chịu thương đau. Phạm Vụ mang vết thương đạn vẫn chưa lấy ra. Đó là “cái giá của sự trong sạch”.

GIÁ TRỊ NỘI DUNG

 “Bão” như một truyện ký về bóng tối và ánh sáng trong lòng một vùng đất nhỏ, nhưng cũng là dự báo, phác họa về những vấn đề lớn lao hơn…

“Bão” mở ra một dự cảm về đất trời có thể nổi bão, lòng người còn dễ dậy sóng hơn. Tác phẩm dựng lại bối cảnh xã hội của một tỉnh miền núi Biên Cương, nơi vẻ ngoài yên bình che giấu ba tầng cấu kết: Quan chức tha hóa, doanh nghiệp sân sau và xã hội đen. Ba tầng ấy tạo thành thế chân kiềng nuôi nấng tham nhũng, gieo chết chóc và làm băng hoại đời sống của hàng vạn con người.

Ở tầng cao nhất là Trần Tách, một Bí thư Tỉnh ủy leo lên quyền lực bằng mọi thủ đoạn, bằng cấp bán mua, và mưu mô sắc lạnh. Con đường của ông ta là thứ “bảng vàng giả hiệu” nằm trên nền mục ruỗng. Dưới ông là Phạm Văn Thắng, Phó Giám đốc Công an tỉnh, chú ruột Phạm Vụ, người biết luật nhưng lại chọn đứng về phía bóng tối. Còn Chủ tịch Hưng nhu nhược, để vợ tổ chức mạng lưới nhận tiền qua những chiếc “hũ sành”, biến quyền lực thành túi chứa.

Ở tầng doanh nghiệp, My Loan - doanh nghiệp HVG, dùng tiền và sắc tạo sức mạnh trói giới quan chức như trói thừng thúc ké. Những dự án đền bù rẻ mạt khiến nông dân bị đẩy khỏi mảnh đất của mình, người giàu lên bất thường, ảo ảnh rồi tàn lụi, kẻ tỉnh táo thì tự khởi nghiệp trong chật vật nhỏ nhoi. Thứ có chỉ ra nghịch lý: Đất đai, nơi cha ông đổ mồ hôi giữ lại bị rút ruột bởi chính những kẻ có quyền.

Tầng thấp nhất là các băng xã hội đen: Cường Trọc, Út Sẹo, Minh Phi. Chúng vừa là tay sai bẩn, vừa là nguồn lợi “vặt” mà không hề vặt của giới quan chức. Bọn chúng buôn ma túy, đâm thuê chém mướn, ép dân… và mẫn cán thực hiện hết những gì “phận trên” không lộ mặt.

Trên nền xã hội phức tạp loang lổ ấy, nhân vật trung tâm Phạm Vụ xuất hiện như một vệt sáng. Anh không phải người hùng không tì vết. Có nỗi sợ, có giằng xé, có gia đình bị đe dọa... nhưng anh có phẩm chất không thể lai tạp: Liêm chính, thứ di sản duy nhất được truyền lại từ người cha liệt sĩ. Sự đối lập giữa Phạm Vụ và người chú ruột Phạm Thắng tạo nên tuyến xung đột cốt lõi của tác phẩm: Cái thiện ác, nồi da nấu thịt, cức vỡ ngay trong chính “gian nhà của mình”.

Tác phẩm đặt Vụ trong nhiều tầng bi kịch: Cái chết của bác Xây, sự trả thù vào vợ con, sự theo dõi của toàn bộ hệ thống quyền lực đen. Nhưng càng bị dồn ép, nội lực của anh càng vùng sáng. Sức mạnh của Phạm Vụ không nằm ở súng ống mà ở lòng tin vào tử tế, sự thật sáng trong, điều tưởng mong manh nhưng lại bền như đá rắn.

Đường dây tội phạm bị bóc gỡ không chỉ bằng nghiệp vụ mà còn bằng sự nhân quả, tính người. Người cung cấp thông tin quan trọng nhất đôi khi chỉ là một bác thợ cắt tóc, một cô gái bị đời ruồng rẫy như Kiều Huệ, hay một giáo sư già viết thuê luận án trong nỗi tủi nhục của lương tri. Mỗi số phận mang một lát cắt xã hội, nơi cái giả làm mòn cái thật, nơi người lương thiện nhiều khi chỉ biết thở xuội ra, bất hạnh.

Chữ “Tâm” bằng đồng đúc, Vụ trao cho giáo sư Thuấn là biểu tượng cô đặc của tiểu thuyết: Giữa hỗn độn và giả dối, chỉ chữ Tâm mới cứu được một đời người, một nền giáo dục, và xa hơn là một quốc gia.

Đỉnh điểm của nội dung là cuộc tổng tấn công. Tỉnh nhỏ rung lên. Đạn nổ, máu chảy, chiến sĩ ta hy sinh… Nhưng thứ làm người đọc nghẹn lại không phải tiếng súng vang rền mà là khoảnh khắc Kiều Huệ ra đi trên tay Vụ, sau khi cứu con trai anh bằng chính sinh mạng mình. Một kẻ từng bị bóng tối vùi lấp đã chọn đứng về phía ánh sáng. Cái chết của cô là sự gột rửa,… ra đi để chữa lành. Là câu trả lời cho câu hỏi xuyên suốt của tác phẩm:

Ánh sáng có thể cứu một người đã từng sa ngã hay không?

Câu trả lời: Là có.

Khi bão tan, những nhân vật tha hóa bị bắt. Họ sụp đổ như những ngôi nhà dựng trên triền cát, nhưng tác phẩm không dừng ở việc “trừng phạt cái ác”, nó đã bước xa hơn: Khơi lại niềm tin của người dân vào lẽ phải và công lý.

Vĩ thanh khép lại nơi nghĩa trang. Mộ của bốn chiến sĩ trẻ. Ngôi mộ Kiều Huệ và tiếng hát xẩm của nghệ nhân Trung vang lên báo hiệu mùa xuân trở lại. Con người có thể không còn, nhưng lòng tin thì ở lại. Đó là giá trị nội dung lớn nhất của Bão

GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT

“Bão” không chỉ là văn bản tố cáo cái xấu xa, nó còn là tiểu thuyết của nhịp điệu, cấu trúc chặt chẽ, của hình ảnh giàu tính điện ảnh và nhạc tính…

“Bão” trước hết là một tiểu thuyết kể về cái ác, nhưng ngay lập tức vượt khỏi giới hạn đó để trở thành một tác phẩm của nhịp điệu và nhiều tầng cấu trúc, nơi hiện thực gai góc hòa vào chất trữ tình và cả sắc thái điện ảnh nữa.

Tác phẩm mang giọng kể mạnh, thẳng, tiết chế đến mức có lúc sắc lạnh nhưng trong chính sự lạnh lùng ấy lại vang lên thứ âm thanh của nhiều nhịp trường đoạn. Nhiều trang tựa phóng sự điều tra, nhiều đoạn lại mềm đi thành tự sự và đôi lúc như không kìm được cảm xúc, văn bản khẽ nghiêng về chất trữ tình... Ba lớp nghệ thuật ấy đan cài như ba dòng chảy không phân lập, tạo lên hiệu ứng cảm xúc tiếp nhận của độc giả,… khởi bung từng trang viết.

Tính hiện thực trong “Bão” không biểu đạt bằng sự gào thét, cường điệu. Nhà văn đặt trước mắt người đọc những chi tiết chọn lọc, những sự kiện không tô đậm nhưng đủ chân thật để dẫn dắt từng chi tiết văn học một... Một bí thư tỉnh đi mua tấm bằng tiến sĩ từ ông giáo sư già đói chữ và đói uy tín; chiếc “hũ sành” kín đáo mà lại trở thành cánh cổng lưu thông tiền bẩn; trang trại với bầy chó béc-giê canh giữ kho xương hổ giả; những cuộc tiệc thác loạn âm thầm được quay lén để làm tư liệu chính trị; rồi một căn nhà bị gài mìn nhằm cảnh cáo người quá ngay thẳng... Tác giả chỉ đưa sự việc ra ánh sáng, không bình luận, không tô màu hay tự biện… Sự tĩnh lặng bằng giọng kể khiến cái ác tự dưng phơi bày trọng lượng của nó, và người đọc cứ “tự nhiên” đối diện sự thật ấy mà không cần lẩn tránh, suy ngẫm.

Bên dưới bút pháp hiện thực cao cường, hệ thống nhân vật trong “Bão” hiện ra với sự dày tầng hiếm thấy. Không ai hoàn toàn thiện, cũng chẳng ai hoàn toàn ác, họ rung động, chao đảo, sa ngã, chùng chiềng đứng dậy, đúng như những gì đời sống thật vẫn thường khắc họa. Vụ không phải vị thánh bọc trong hào quang chính nghĩa. Anh biết sợ, biết tuyệt vọng, biết có những khoảnh khắc muốn lắm buông tay. Thắng, kẻ đứng ở phía bóng tối cũng không phải tên ác quỷ từ lúc ban đầu. Gã từng có mặc cảm, từng có phút yếu mềm đủ để người đọc nhận ra một phần con người đã bị chính hắn treo lên nướng… Kiều Huệ, người đàn bà bị đời gán chữ “hư” lại mang trái tim đau đớn và khát vọng được nhìn nhận. Ngay cả Trần Tách, biểu tượng của sự tàn nhẫn, cũng có khoảnh khắc ngồi trước bàn thờ cha mẹ mà tự soi lại chính mình. Minh Phi, dẫu tàn độc vẫn sợ bị phản bội như đứa trẻ lạc lõng giữa thế cuộc hắn tạo ra… Những con người như thế đã làm cho “Bão” thoát khỏi cái bóng của tiểu thuyết “minh họa”, trở thành bản khắc họa chân thực về “bản chất người” trong vòng xoáy quyền lực.

Ngôn ngữ của tác phẩm có độ ngân như bản nhạc, vang lên vừa thô ráp vừa tinh tế. Tác giả hiếm khi dùng từ “bão”, nhưng cơn bão vẫn ập đến qua những hình ảnh dồn nén: Bầu trời nặng mây đen, tiếng gà mái gáy gở nơi thôn xóm, bát hương gia tiên nứt đôi như dấu hiệu của một dòng họ sắp gặp vận hạn, tro nhang bay ra mùi lạnh, nước mắt hòa cùng mưa, và cuối truyện là tiếng đàn nhị và giọng hát xẩm réo rắt ngân dài như tiếng thở buồn của đất làng. Hình ảnh hoa trẩu trắng là đường chỉ xuyên suốt, mỗi lần xuất hiện lại gợt lên nét thanh khiết trái ngược hoàn toàn với không gian nhiễm độc chung quanh nó, cũng giống như Vụ, người giữ được sự trong sạch ngay giữa vùng bão tố.

Cảnh hang đá, nơi Minh Phi cố thủ cùng Kiều Huệ và bé Thỏ trắng, được dựng bằng thứ ngôn ngữ của điện ảnh: Ánh đèn pin lia qua những thạch nhũ ẩm lạnh, tiếng nước rỏ xuống nền đá tối, ánh lửa lách tách phản chiếu vào đôi mắt trẻ thơ run rẩy nhưng vẫn cố tỏ ra can đảm.

Chỉ vài nét, cả một khung hình đã trở nên sống động.

Cấu trúc của “Bão” được tổ chức theo ba tầng: Quyền lực, bóng tối tội phạm, và đời sống dân gian. Ba tầng này không song song tồn tại mà liên tục xoắn vào nhau.

Một quyết định trong phòng họp có thể bắt nguồn từ một bất công nhỏ ở nơi xóm núi; một bất ổn trong đời sống dân nghèo có khi lại là hệ quả chỉ một cái gật đầu trong giới chức. Tác giả cho thấy sự thật đơn giản nhưng đau đớn: Cơn bão của tham vọng luôn manh nha từ can cớ rất là nhỏ bé. Những người nông dân lam lũ, những cô giáo vùng cao, những ông thợ cắt tóc lặng lẽ nuôi nghề, họ là nạn nhân của bão nhưng cũng là những người bằng chính sự tử tế và bền bỉ, góp các viên đá đầu tiên để đắp những bờ đê.

Các đối ứng nghệ thuật xuất hiện dày đặc nhưng không phô trương: Vụ và Thắng như hai mặt của cùng một gia đình; Kiều Huệ và My Loan là hai kiểu phụ nữ bị cuốn vào guồng quyền lực; Hoa trẩu và bão, mưa và máu, chữ Tâm và tội lỗi, tất cả soi chiếu lẫn nhau, tạo ra chiều sâu văn chương mà vẫn duy trì chất phóng sự của tác phẩm.

BÀI HỌC QUẢN TRỊ XÃ HỘI

 “Bão” là tiểu thuyết nhưng cũng là bản điều trần xã hội. Mỗi chương như một dự thảo cảnh báo về sự đứt gãy quản trị nhà nước nếu quyền lực không được kiểm soát.

Từ giá trị nghệ thuật, “Bão” mở rộng thành văn bản quản trị xã hội.

Mỗi chương như một chỉnh thể lập pháp, chỉ ra nguy cơ khi quyền lực không được kiểm soát.

Tấm bằng giả của Trần Tách không chỉ là sự gian dối cá nhân mà còn là biểu tượng cho cơ chế nhân sự luộm thuộm, nơi kẻ bất tài leo cao rồi kéo theo những “chùm” người giống hệt mình, khiến bộ máy phùng phình trượt dài vào suy thoái. Cùng lúc, tác phẩm phơi bày bao mảnh sân sau, tựa như gốc rễ của mọi đường dây lợi ích. HVG làm giàu bằng hối lộ, và cái giá xã hội phải trả không chỉ là tiền mà là môi trường bị tổn thương, đạo đức bị mòn xói cùng lòng tin bị khoét rỗng.

Sự cấu kết giữa quan chức và tội phạm hiện ra như hố đen nuốt trọn mọi giá trị an ninh. Luật pháp bị vô hiệu hóa, không tối thượng, bà con, người yếu thế mất niềm tin, và tất nhiên… một thứ quyền lực song song ra đời trong bóng tối!

“Bão” nhấn mạnh rằng nếu tội phạm được bảo kê, nó sẽ trở thành con thú không ai kiểm soát nổi. Vì thế, ngành Công an chỉ có thể giữ được sự trong sạch khi dám cắt bỏ những ung nhọt trong chính mình. “Nhập kho” Thắng là bước thử nghiệm và đồng thời là bằng chứng cho nguyên tắc ấy.

Tác phẩm cũng khẳng định một chân lý cũ nhưng luôn đúng:

Người dân là cột chống bão vững chắc nhất. Sức mạnh của an ninh không nằm ở vũ khí mà ở lòng tin.

Một xã hội minh bạch thông tin thì khó có chỗ cho sự thao túng.

Một quy trình nhân sự đúng đắn sẽ không để kẻ bất tài phá nát một vùng đất.

Một nền giáo dục nghiêm túc sẽ không sản sinh những nhà quản lý dốt nát và bấy bứa.

Và một hệ thống hành pháp mạnh, phản ứng nhanh với tham nhũng sẽ dập tắt được mọi cơn bão trước khi nó lớn.

Rốt cuộc, “Bão” dẫn người đọc trở về với những giá trị vững chắc là truyền thống và văn hóa, khi ta nghe và nhìn thấy ông lão hát xẩm cất lên lời ca réo rắt, đó là điểm tựa mà mọi đường cong quyền lực đều phải soi chiếu… Đó là chữ “Tâm”, Vụ gửi lại cho Giáo sư Thuấn.

Vì thế, “Bão” không chỉ kể một chuyên án, mà mở ra dự cảm về cơn bão đạo đức rộng lớn hơn, nơi bóng tối hằng rình rập.

Nhưng giữa những đám mây đen vần vũ ấy, luôn ấm sáng một niềm tin vững chắc. Ta có nhân dân.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm