TIN TỨC

Được trở về với mẹ | Trầm Hương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-03-14 10:53:19
mail facebook google pos stwis
2956 lượt xem

BÀI HƯỞNG ỨNG CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

TRẦM HƯƠNG

Tôi nhớ như in lời con nói trước lúc ra đi. “Mẹ yên tâm, tuy con còn nhỏ tuổi nhưng con không xốc nổi. Đã đi theo cách mạng thì không bao giờ quay gót, phản bội”.

Bà mẹ VNAH Huỳnh Thị Xem bên di ảnh liệt sĩ Đặng Văn Rêu. Mẹ nói:“Thằng Rêu là đứa con duy nhất, khi hy sinh còn để lại cho tôi bức ảnh!”

Mẹ Huỳnh Thị Xem, ở Xóm chùa, xã An Phú, huyện Củ Chi là nhân chứng của một thời phụ nữ sống trong tăm tối, tủi nhục dưới chế độ thực dân phong kiến. Sinh ra trong một gia đình nghèo, đông con, cô gái tên Xem sớm tháo vát, trở thành trụ cột chính, đỡ đần cho cha mẹ nuôi đàn em. Ở tuổi 84, ký ức thời thiếu nữ làm công nhân cạo mủ cao su vẫn nguyên vẹn trong lòng mẹ. Đời công nhân cạo mủ rất cơ cực. Thức dậy vào lúc 3 giờ sáng, cô gái đang tuổi ăn tuổi ngủ quàng vội chiếc khăn lên đầu, cầm lấy dao và thùng ra khỏi nhà. Sương khuya ướt lạnh, muỗi dày đặc, cô gái lầm lũi cạo mủ, cho đến trưa mới trở về nhà. Dòng nhựa trắng đổ vào sự phồn vinh của những chủ đồn điền, những ông chủ Tây. Đời công nhân cứ thế trôi đi trong đói nghèo, lặng lẽ giữa cánh rừng cao su…

Nhật đảo chánh Pháp. Rồi Cách mạng tháng Tám. Cô gái mới 17 tuổi năm ấy bắt đầu hiểu ra những điều từ lâu bị che phủ bởi rừng cao su dày bịt. Đó là sức trỗi dậy của một dân tộc đòi độc lập tự do. Làng xóm quê hương cô dường như được thổi vào luồng sinh khí mới. Ở An Phú và các xã lân cận, bà con kéo nhau về Sài Gòn, dự mít-tinh mừng độc lập. Những ngày ấy, ở làng bên có anh thanh niên tên Đặng Văn Bèo cậy mai mối cưới cô về làm vợ. Lúc đầu, cô không chịu lấy chồng vì không biết, không quen. Nhưng gia đình đã nhận trầu cau, với quan niệm “Áo mặc sao qua khỏi đầu”, “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, mẹ đành phải chấp nhận cuộc hôn nhân với anh Bèo. Tuy nhiên, sau thời gian sống chung, tình cảm dần nảy nở. Lần lượt, tám đứa con ra đời…

 Làn gió cách mạng tháng Tám thổi bùng lên lòng yêu nước tiềm ẩn trong mỗi con người. Pháp quay trở lại, tái chiếm Nam kỳ. Đôi vợ chồng trẻ cùng tham gia kháng chiến. Chồng mẹ gia nhập lực lượng dân quân. Mẹ cùng bà con Củ Chi đốn tre rào xã chiến đấu. Nhắc đến những năm tháng chống Pháp hào hùng, mẹ sôi nổi hẳn lên. Mẹ kể mạch lạc về các phong trào của Phụ nữ Cứu Quốc mà mẹ đã tham gia, nào “Hũ gạo nuôi quân”, canh gác báo tình hình địch, phong trào đời sống mới, sản xuất, đóng góp lương thực nuôi quân… Mẹ sôi nổi kể về phong trào bình dân học vụ. Mẹ chưa từng biết chữ. Nhờ mấy lớp học “bình dân” mà mẹ biết đọc, biết viết. Để minh chứng cho những lời mình nói, mẹ lấy bút, ghi nắn nói vào quyển sổ tay ghi chép của tôi chữ “Xem”. Mẹ nói: “Cũng là chữ ký của tôi đó!”. Bà mẹ trước mặt tôi, với vẻ mặt phúc hậu, tuổi cao, sức yếu nhưng quý báu biết bao, khi chính bản thân mẹ là nhân chứng sống động, vừa là người góp phần vào của hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Mẹ nhớ tên từng đứa con, với từng kỷ niệm yêu thương. Mẹ kể: “Ở quê, đặt tên con mộc mạc lắm. Chồng tôi tên Đặng… Vậy là tôi đặt tên các con: Đặng Văn Rong, Đặng văn Rêu, Phạm Văn Ba, Đặng Thị Thơ, Đặng Văn Lơ, Đặng Văn Nhanh, Đặng Văn Mơ, Đặng Văn Đắc, Đặng Thị Mộng”. Tôi thắc mắc hỏi mẹ: “Các con mẹ đều mang họ Đặng, sao một anh lại có tên “Phạm Văn Ba?”. Mẹ cười hồn hậu nói: “Đó là đứa cháu. Cha nó chết, lúc nó còn trong bụng mẹ. Sanh ra nó mới mấy tháng, mẹ nó lấy chồng khác. Tôi nuôi thằng Ba từ nhỏ. Không phải là con ruột nhưng nó thương tôi lắm!”. Ở Củ Chi, có rất nhiều những bà mẹ nghèo như mẹ Huỳnh Thị Xem nhưng tấm lòng rộng mở. Trong đói nghèo, cuộc sống gian khổ, khó khăn; mẹ vẫn sẵn lòng cưu mang, đùm bọc đứa trẻ mồ côi cha lẫn mẹ. Và mẹ đã được đền đáp bằng yêu thương…

 Hai người con của mẹ lên đường đi chiến đấu cùng một lượt. Đó là anh Đặng Văn Rong và anh Phạm Văn Ba. Dẫu nhiệt tình, ủng hộ các con thoát ly gia đình đi đánh Mỹ nhưng mẹ không tránh được sự trống vắng, hẫng hụt. Chấp nhận cho những đứa con trai đang tuổi lớn, là nguồn lao động chính của gia đình tham gia quân giải phóng cũng là một đóng góp to lớn cho cách mạng. Nhìn những đứa con trai cao lớn, khỏe đẹp; mẹ không khỏi chạnh lòng, nhớ những ngày gian khổ nuôi con. Mẹ chắt ra những giọt sữa nuôi con từ những con cá, cọng rau quê nghèo. Khi con ốm đau, mẹ là người thức suốt đêm canh con ngủ. Mắt mẹ rơm rớm khi khìn anh Phạm Văn Ba - đứa con nuôi mẹ cưu mang khi mới biết đi lẩm chẩm. Dầu không sinh ra anh nhưng tình mẫu tử tràn ngập, chan chứa yêu thương. Mẹ thương anh Ba, bênh vực đứa trẻ mồ côi, dành cho anh chiếc áo đẹp hơn, chén cơm đầy hơn cả những đứa con ruột thịt, với ý nghĩ giản dị của một bà mẹ Nam Bộ: “Bù đắp cho anh đứa nhỏ những thiệt thòi khi không có cha lẫn mẹ từ tấm bé”.

Như những bà mẹ Củ Chi đất thép thành đồng, mẹ Huỳnh Thị Xem không hề ngăn những đứa con, khi các anh bày tỏ ước nguyện đi chiến đấu. Tôi hỏi mẹ: “Phút chia tay, mẹ nói với các anh điều gì?!”. “Tôi nói: “Con ơi, làm cách mạng không dễ. Nếu con quyết chí ra đi, giải phóng hãy về. Đừng thấy người ta đi, xốc nổi đi theo, giữa chừng cực khổ, hiểm nguy không kham nổi, đào ngũ trở về là không được đâu?!”. Thằng Rong nói lời gan ruột: “Con ở lại, “Quốc gia” cũng bắt con đi quân dịch. Con đi theo cách mạng, giữ nước giữ làng. Sống thì được trở về với mẹ, chết thì được chết vì nước!”. Nghe con nói vậy, tôi biết nói gì thêm, nuốt lại nước mắt, xếp quần áo, võng, tấm ni lông vào chiếc bòng cho nó, rồi móc túi, lấy hết tiền, chia đôi cho thằng Rong với thằng Ba, mỗi đứa phân nửa!”.

Con đi, mẹ luôn dõi theo con. Lần ra đường dây giao liên, mẹ biết tin anh Rong được đưa vào đơn vị pháo binh. Mẹ vui trong lòng khi nghe đồng đội khen anh Rong bắn pháo giỏi. “Tôi  không lạ chuyện đó, vì thằng Rong trước khi đi bộ đội học toán rất giỏi. Mà không vui sao được, khi một lần tìm lên đơn vị thăm nó, cậu bộ đội không biết tôi là mẹ thằng Rong, nghe pháo bắn xuýt xoa: “Đơn vị mình có thằng Rong gan lắm, bắn pháo tài lắm, giặc chạy có cờ”.

Chiến tranh ngày càng ác liệt. Sau Mậu Thân, địch huy động mọi sức mạnh chiến tranh, nhằm đẩy lùi vùng bàn đạp quân giải phóng ra xa nội đô Sài Gòn. Vùng căn cứ Củ Chi bị đánh phá nặng nề. Anh Phạm Văn Ba công tác trong một binh công xưởng bị bom xăng Mỹ đốt cháy.  Hay tin dữ, mẹ lặn lội vào chiến khu Xa Nhỏ, Trung Hòa thăm con. Mẹ lặng người nhìn thân thể anh Ba bị biến dạng, nghe đau rát khắp cơ thể như chính mình bị đốt cháy. Mẹ khóc, xin đơn vị đưa anh Ba về chăm sóc. Anh Ba nói: “Con được cách mạng đưa đi an dưỡng, mẹ đừng lo. Lành vết thương, con sẽ tiếp tục đánh giặc”. Không phải là đứa con mẹ đứt ruột sinh ra nhưng anh Ba dành trọn tình yêu thương dành cho mẹ. Mẹ xót xa nhìn đứa con khỏe đẹp, lành lặn trước lúc lên đường đi chiến đấu giờ không còn hình hài nguyên vẹn. Anh cười tươi cho mẹ yên tâm. Thương con, mẹ không cười được, nước mắt cứ tuôn rơi…

Mẹ Huỳnh Thị Xem lau nước mắt: “Tôi đâu biết đó cũng là lần cuối cùng gặp thằng Ba. Trên đường đi an dưỡng về, thằng Ba hy sinh. Tôi không muốn tin là nó đã chết. Nhưng nó chết thiệt, chết mà không tìm được xác!”. Tiếp nối hai anh, Đặng Văn Rêu bày tỏ với mẹ nguyện vọng thoát ly vào căn cứ. Mẹ lặng đi. Nhưng rồi mẹ không thể ngăn ý chí con, dù biết rằng anh Rêu ra đi, mẹ sẽ rất khổ, rất cực. Từ ngày hai con lớn đi bộ đội, Anh Rêu là trụ cột lao động chính cho gia đình, đỡ đần mẹ những chuyện nặng nhọc, phụ nuôi đàn em 6 đứa còn nhỏ dại. Nhưng quê hương bị bom đạn Mỹ cày nát, lớp lớp thanh niên tòng quân, nhập ngũ; mẹ biết mình không thể ngăn bước chân con. "Thì cũng giống như lúc thằng Rong, thằng Ba đòi đi theo cách mạng, tôi lẳng lặng sắm quần áo, võng, mua cho nó chiếc đồng hồ để khi đi đường, nó còn biết giờ, biết mẹ ở quê nhà, mong từng giờ từng khắc được gặp lại con!”.

 Trong đàn con, anh Đặng Văn Rêu là đứa con trai có nhiều kỷ niệm gắn bó với mẹ. Mẹ nhớ: “Thằng Rêu sinh năm 1950, đẹp trai, tính tình gan lì, ít nói nhưng nó giàu tình cảm. Tôi rất hiểu bụng nó!”. Vì lẽ đó, năm 1967, khi nghe tin anh Rêu chiến đấu, sa vào tay giặc, bị đưa vào bót Trâm Vàng chiêu hàng, anh đã thể hiện khí phách người chiến sĩ đến hơi thở, giọt máu cuối cùng, thà chết, cương quyết không đầu hàng giặc, thì mẹ hiểu đó là lựa chọn của con. Anh Đặng Văn Rêu đã giữ đúng lời hứa với mẹ trước lúc ra đi. “Mẹ yên tâm, tuy con còn nhỏ tuổi nhưng con không xốc nổi. Đã đi theo cách mạng thì không bao giờ quay gót, phản bội”. Anh Đặng Văn Rêu bị địch giết ở bót Trâm Vàng, khi mới 17 tuổi. Kẻ thù vùi xác anh ở một nơi nào, cho đến giờ mẹ vẫn chưa tìm được hài cốt. Nhiều năm qua, lòng mẹ vẫn đau đáu niềm mong ước đưa hài cốt đứa con trai về nghĩa trang liệt sĩ quê nhà. Nhưng mơ ước ấy, cho đến giờ, đối với mẹ đã trở nên rất xa xôi. Không tìm được hài cốt con, mẹ có niềm an ủi: “Thằng Rêu là đứa con duy nhất, khi hy sinh còn để lại cho tôi bức ảnh!”. Như nhiều bà mẹ ở Củ Chi lúc ấy, mẹ phải đối mặt với sống chết, đói nghèo; không kịp nghĩ đến chuyện chụp hình xa xỉ.

Anh Rong không hề hay mẹ luôn dõi theo bước chân anh. Đêm đêm, nằm nghe tiếng pháo, mẹ giật mình tỉnh giấc. Mẹ đốt lên ngọn đèn, ngồi thao thức, bồn chồn, lo lắng, không biết đơn vị pháo của con giờ đặt ở nơi đâu?! Mẹ xòe bàn tay nhẩm tính: “Thằng Rong đi đã được ba năm rồi. Vậy mà chưa lần nào nó về thăm mẹ. Không biết vào pháo binh, nó lớn thêm không? Nó có gặp cô gái nào không?”. Mẹ mong mau hòa bình, thống nhất để anh con về quê cưới vợ, để mẹ có cháu ẵm bồng”. Đáp lời mẹ là tiếng bom đạn gầm rú, tiếng đại bác làm rung chuyển mặt đất. Con bận công tác, không về thăm mẹ được, thì mẹ lọ mọ, móc giao liên đi thăm con. Mẹ chắt chiu từng ngọn rau, con cá, con tôm. Có được ít đồng, mẹ dành dụm mua cho các con khi là bộ quần áo, chiếc đồng hồ, chiếc radio tặng cho con. Anh Rong cảm động nhận chiếc radio mới tinh của mẹ, vặn nghe tin tức, gương mặt sáng bừng vì mừng vui và cảm động. Anh nói với mẹ: “Mẹ đừng lo gì cho con. Khi nào thống nhất nước nhà, con sẽ về!”

 Ngày thống nhất đất nước, mẹ lặng buồn, vì cả ba con trai mẹ không trở về. Ba năm sau ngày anh Rong ra đi, năm 1969, mẹ hay tin anh hy sinh. Lặng đi một lúc, mẹ lau nước mắt, nghẹn ngào: “Thằng Rong hy sinh ở Phú Mỹ Hưng. Mãi đến ngày hòa bình, tôi mới đưa được hài cốt con về nghĩa trang liệt sĩ huyện Củ Chi. Hài cốt hai đứa kia thất lạc cho đến nay”. Tôi hỏi mẹ: “Các anh là trụ cột đi bộ đội hết rồi, mẹ làm gì để nuôi đàn con?”. Mẹ không trả lời ngay câu hỏi, mà kể về những ngày cùng chồng, dắt đàn con nhỏ trên chiếc xuồng mong manh, tản cư qua An Phú Đông, rồi qua Bình Phước. Vật lộn với sóng to gió lớn, sự sống gia đình mẹ tựa trên chiếc xuồng mong manh. Mẹ có nghề đóng đáy, lưới bắt cá kiếm sống. Vậy mà Mậu Thân năm 1968, mẹ sẵn sàng cho cách mạng mượn xuồng chở quân. Người mẹ Củ Chi năm ấy không chỉ dâng hiến cho Tổ quốc ba người con trai khỏe đẹp, chống chọi với bom đạn, tần tảo nuôi đàn con, mà còn dấn thân vào các cuộc đấu tranh. Ký ức những cuộc đấu tranh chính trị vẫn tươi nguyên trong lòng mẹ: “Khi đi đấu tranh, chị em cầm giỏ bàng, mía, nước dừa, chai xá xị như đi chợ. Lúc khát, tụi tôi lấy mía ăn, lấy xá xị uống. Lúc bị địch phát hiện, đàn áp; đội quân tóc dài lấy mía, chai xá xị chống lại. Chị em còn hát những bài hát đấu tranh!”.

Bà mẹ ở tuổi 84 cất giọng lanh lãnh, hát những bài ca tranh đấu năm xưa: “Dân quân miền Nam mau bồng súng ra sa trường…”. Hiển hiện trước mặt tôi là bà mẹ Củ Chi đất thép thành đồng, với cách kể chuyện dung dị, với nỗi đau khi nghe con hy sinh nuốt nước mắt vào trong…

Bà mẹ VNAH Huỳnh Thị Xem, sinh năm 1928, ấp Xóm Chùa, xã An Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, có chồng và ba con trai hy sinh.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm