TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo

Ký ức trần thuật trong tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-10-07 18:02:06
mail facebook google pos stwis
89 lượt xem

Tiểu thuyết "Trước bình minh" của Trần Thị Hảo mở ra một thế giới ký ức, nơi những biến động của lịch sử, chiến tranh và đời sống hậu chiến được soi chiếu qua số phận một con người. Đọc tác phẩm từ phương diện ký ức trần thuật, nhà văn Đức Ban nhận ra phía sau những nhớ – quên, hạnh phúc – đau đớn của nhân vật Hà An là hành trình đi tìm sự thấu hiểu về con người, cuộc đời và chính mình. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài viết này.

ĐỨC BAN

Trước bình minh (Nxb Hội Nhà văn, 2025) là một thế giới ký ức của tác giả, kể từ khi nhà văn còn là một cô bé lên năm tuổi. Và câu chuyện quá khứ, có đứt gãy, có xen kẽ nhưng gần như liền mạch với nhiều tâm trạng, nhiều cung bậc tình cảm, những nhớ, quên, băn khoăn, yêu thương, lo sợ, ngọt ngào, đau đớn từ các sự kiện xã hội, thời cuộc, từ gia đình, trường học, bè bạn thân, sơ và một tình yêu nồng nàn và cay đắng… tất cả nối kết thành tiểu thuyết Trước bình minh.

Tiểu thuyết Trước bình minh của Trần Thị Hảo.

Bắt đầu ở một xóm nhỏ trong thành phố Hà Tĩnh, vùng Bắc Trung bộ, nơi ấy tác giả, cái tôi Hà An đã trải qua những năm tháng tuyệt vời” trong một gia đình yên ấm ở một ngôi nhà xinh đẹp với một khu vườn nhỏ, không phải sau hàng rào cắt tỉa gọn gàng mà là một không gian ẩn mình, có một ao nước, ở giữa là nhưng tảng đá nhỏ như những ngọn núi bé xinh xinh, những hang động phủ đầy rêu xanh, bóng mát của một số loài cây như thông, đa, liễu. khoảng không gian yên tĩnh, bình yên ấy đột ngột bị phá vỡ bởi chiến tranh. “Chiến tranh… Đêm đó, tôi chìm vào giấc ngủ say, đắm mình trong một giấc mơ, tôi thấy mình đang chơi trò trốn tìm dưới ánh trăng với bạn bè trong sân hợp tác xã nông nghiệp. Có lúc tôi trốn sau một cột rơm lớn, có lúc tôi leo lên cây cổ thụ, vui mừng vì không bị phát hiện và cười thầm nghĩ mình đã thắng... Bỗng đột nhiên, tiếng còi báo động đánh thức tôi. Một chiếc máy bay trinh sát đang lượn quanh khu vực, tìm kiếm mục tiêu. Chỉ trong chớp mắt, bầu trời sáng rực lên như báo hiệu ngày tận thế.” Câu đầu tiên của dòng ký ức ấy, như dự báo cho một thời biến động của lịch sử, những bước ngoặt của thân phận con người và thiên nhiên.

Năm 1946, giặc Pháp đổ bộ, các cuộc công kích, pháo kích, các đội biệt kích nhay dù, các cơ sở dịch vụ, nhà máy, cơ quan đầu não sơ tán lên vùng rừng núi. Cuộc sống trở nên khó khăn. Sau chiến thắng Điện biên phủ, năm 1954, “Chúng tôi sống trong hòa bình... trong niềm hạnh phúc an nhiên” . Một chuỗi ký ức ngọt ngào bỗng bị đứt gãy. Chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ nổ ra. Cha đi xa, cô bé Hà An cùng mẹ sơ tán về nông thôn, một làng nhỏ bình yên, nghèo khó nhưng đầm ấm và vô cùng thi vị. “Chúng tôi thực sự sống giữa thiên nhiên; ban đêm, chúng tôi ngủ cùng tiếng kêu của dế; sáng sớm, chúng tôi thức dậy bởi tiếng gà gáy và cả tiếng của những loài chim. Trời chưa tảng sáng, tiếng chim vịt kêu sương khản giọng trôi trong không gian mơ hồ xa lắc, nhòa theo giấc ngủ mơ màng, hay tiếng chim sẻ ríu ran bên hiên nhà, Cảnh quan tác giả miêu tả tuyệt vời ấy bị bom đạn chiến tranh làm tan nát, mặt đất nhuộm má đỏ và run rẩy tiếng khóc. “Tôi không thể không khóc khi nhìn thấy những đứa trẻ bị cháy hoàn toàn: một cậu bé chín tuổi toàn thân bị bỏng, cháy đen, với khuôn mặt giống như đầu thỏ bị lột da, mắt to đen như hạt nhãn, nhưng vẫn sống, đầy sợ hãi và hoảng loạn, còn một bé khác khoảng bốn hay năm tuổi, cả ngực bị cháy đến tận cằm, như một chiếc yếm máu khổng lồ, khuôn mặt đông cứng...”.

Tiếp theo là thời hậu chiến gian nan, thời bao cấp bất công, đói khát những năm 60 - 80, những ngày tháng đầu đổi mới 90 thế kỷ XX. Trong gập ghềnh thời cuộc ấy, cô bé Hà An năm tuổi bị chấn động bởi bom đạn chiến tranh ngày nào trải qua những năm sơ tán về vùng quê, những năm trên ghế nhà trường xúm xít bè bạn; những năm trên giảng đường đại học thanh xuân, tươi tắn. Và những ngày tháng thao thức yêu thương, Ký ức Hà An nhàu nát nước mắt dưới áp lực của hệ tư tưởng lỗi thời, Tình yêu với người thầy người Pháp Xavier, một hạnh phúc tinh khôi vô cùng và cay đắng cũng vô cùng. Tôi tin Trần thị Hảo là người đàn bà từng trải, sâu sắc và tinh tế khi đưa vào mối tình của Hà An và Xavier bài hát mà ca từ như tiếng kêu thảng thốt về niềm tin yêu con người, trong đó ẩn chứa một điềm báo bất an:

“Hãy nắm tay nhau, ôm lấy nhau/ Trong sự buồn bã của ngày này/ Hãy nắm tay nhau ôm lấy nhau/ Một chuỗi tình yêu/ Bởi vì Thiên Chúa là Đấng nhìn thấy tất cả chúng ta cùng nhau?

 Và ai sẽ ban phước lành cho chúng ta/ Bởi vì Thiên Chúa là Đấng nhìn thấy tất cả chúng ta cùng nhau/ Chỉ là tạm biệt thôi các anh em/ Đó chỉ là tạm biệt/ Vâng chúng ta sẽ gặp lại nhau nhé, hỡi anh em”.

 Người cha và những người cùng thế hệ trung thành với đạo lý Nho giáo, coi những điều thiếu chân lý là nực cười, những điều dối trá là kỳ cục, đã can thiệp vào tình yêu “tinh khôi nhất” của hai người trẻ tuổi, giật khỏi họ khả năng lựa chọn, đẩy họ vào “những suy nghĩ đau đớn, Tôi cảm thấy mình như đang tàn tạ và chết dần, những cơn đập của trái tim khiến tôi có lúc tin rằng mình đã chạm đến phần cuối cuộc đời...”.

Người đọc ít nhiều không khỏi hụt hẫng trước mối tình say đắm, nồng nàn của Xavier và Hà An; một mối tình làm bừng sáng cả thế giới ký ức Hà An, làm rung động trái tim độc giả, khiến người ta tiếc nuối, cảm thông, và cả giận hờn. Trần Thị Hảo như muốn giải trình, muốn an yên cảm xúc người đọc đã cho Hà An tự thuyết phục mình; rằng là, “Việc vâng lời cha là một trong ba bổn phận của một người con gái theo đạo lý Nho giáo; rằng là, Việt Nam vừa trải qua chiến tranh, dưới sự ép buộc của cha, của dì tôi, của thầy giáo trưởng khoa, của những người xung quanh, tôi đã tin rằng đó là bổn phận của mình...”. Là tự nghĩ thế, nhưng tâm trạng thì rối bời, lòng thì nặng trĩu nỗi buồn chán, Hà An đứng lặng im trước mộ cha: “Nghĩa trang chìm trong một sự im lặng gần như tuyệt đối, một nghĩa trang buồn, nằm ở góc thành phố. Phía cổng đi vào được trồng nhiều những hàng cây đẹp đẽ, u tịch, ban tặng cho nơi đây một bóng râm vẻ trang nghiêm. Ngược lại với sự ồn ào của những con phố bên ngoài, nơi đây là sự yên lặng tuyệt đối của buổi chiều tà. Tôi không còn nghe thấy gì ngoài tiếng xào xạc của lá cây và tiếng gọi tuyệt vọng của màn đêm...

Kết thúc tiểu thuyết là tình huống Hà An đến phòng tổ chức lấy quyết định đi vào vùng kinh tế mới miền Tây Nam Việt Nam. Thế giới ký ức của Hà An đã khép lại. Không ai biết được chặng đường đời tiếp theo của nhân vật chính trong Trước bình minh vui, buồn, hạnh phúc, khổ đau… thế nào. Có điều, hơn 20 năm đã sống với những cảm giác, cảm xúc, trải nghiệm đã đủ cho Hà An một sự nhạy cảm đạo đức, trở thành nguồn tri thức để hiểu con người, cuộc đời, và hiểu mình. Trước cánh cửa mở vào thế giới ký ức mới, Hà An nghĩ về những đứa con của mình, như là một nhắn nhủ chân thành với thế hệ trẻ hôm nay: “Cuộc sống là của chúng, chúng phải chịu trách nhiệm về nó và mạnh dạn phát triển bản thân theo chiều hướng tốt đẹp, mạnh dạn hành động đúng, để có cuộc sống hạnh phúc, an yên và tốt đẹp. Bằng cách sống và hành động tự lập, tự do suy nghĩ, sáng tạo, chúng có thể phát triển tốt hơn, trưởng thành hơn, hòa nhập vào thế giới mà vẫn giữ vững được bản lĩnh của bản thân cũng như bản sắc dân tộc mình”. 

Cuối cùng tôi không thể không nói trong bài viết ngắn ngủi này. Đấy là tiểu thuyết Trước bình minh được triển khai trong một thế giới ký ức phong phú, nơi phẩm cách, số phận của con người được tôn vinh trong những biến cố của lịch sử, nơi thấm đẫm tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người được diễn đạt bằng một ngôn ngữ tinh tế, giàu cảm xúc, một chuỗi các chi tiết đời sống nông thôn, thành thị chân thực, sống động với lời văn da diết, một thế mạnh của dòng văn ký ức trần thuật.

 Đ.B

Nguồn: Website Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Tĩnh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con khiếu rất linh
Nguyễn Linh Khiếu đã làm cho chính sử, một thứ đại lịch sử/đại tự sự, vỡ ra thành nhiều lịch sử, nhiều tiểu tự sự. Như dòng sông Hồng được tiếp nước từ các chi lưu lại chia nước cho các phân lưu để tạo thành một mạng lưới thủy văn. Mỗi dòng sông con đều bắt đầu câu chuyện của riêng nó. Một lịch sử đời thường với những cảm quan phồn sinh sâu sắc, đồng thời là một tư duy phản biện lịch sử...
Xem thêm
Người sống với văn chương cùng thời
PGS-TS Hồ Thế Hà đọc Thi pháp truyện ngắn hiện đại của Bùi Việt Thắng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2020
Xem thêm
Đời vẫn xanh, tình vẫn xanh và thơ…
Bài đăng tạp chí Sông Hương, tháng 9/2026
Xem thêm
Đi qua “nham thạch”, đón mùi “lụa hương”
Có những bài thơ, vừa đọc qua, đã cảm thấy độ nóng bỏng như lửa, nhưng ngẫm kỹ, lại thấy bên trong ấy, chứa đầy một thế giới rất mềm mại, dịu êm. Cũng có những bài thơ chỉ thoảng qua như một mùi hương, tưởng nhẹ tênh mà lại đủ sức níu lấy cả một miền ký ức.
Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm