- Lý luận - Phê bình
- Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
Thơ Trương Trọng Nghĩa từ góc nhìn phê bình sinh thái
PGS.TS HỒ THẾ HÀ
Tổng lược về sinh thái và phê bình sinh thái
Thuật ngữ sinh thái học chính thức ra đời vào năm 1869 bởi nhà sinh vật học người Đức Ernst Haecker. Trải qua hàng trăm năm phát triển, với rất nhiều định nghĩa nhưng chung nhất, sinh thái học là ngành khoa học nghiên cứu về tất cả các quan hệ giữa sinh vật và môi trường và các điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của chúng.
Khi mới xuất hiện, sinh thái học mới chỉ giới hạn trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và phát triển, mở rộng dần ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Sinh thái học còn bao hàm toàn bộ khoa học sinh mệnh trên trái đất. Trước vấn đề sinh thái toàn cầu hiện nay, sinh thái học được hiểu là thái độ sống và hành động bảo vệ môi trường của con người. Nghiên cứu và tìm hiểu mối quan hệ giữa con người và tự nhiên đã không còn giới hạn ở lĩnh vực sinh thái học của khoa học tự nhiên mà đã tiến vào nhiều lĩnh vực khoa học khác, trong đó, có khoa học xã hội và nhân văn. Và văn học đã gặt hái nhiều thành tựu hơn cả, xét ở hai quá trình: sáng tạo và tiếp nhận/ phê bình.
Ý thức sâu sắc về sinh thái hình thành ở nửa cuối thế kỷ XX, được hiểu là sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên, về vị trí, vai trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và về trách nhiệm, nghĩa vụ của con người trong việc điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ đó, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của xã hội và sự đồng tiến hóa giữa xã hội và tự nhiên.
Ý thức sinh thái hiện đại khẳng định nhân loại không phải là chủ nhân của tự nhiên, ngược lại tự nhiên cũng không phải là nô lệ hoặc đối tượng tiêu dùng của nhân loại. Giữa tự nhiên và nhân loại là mối quan hệ phát triển hài hòa, cộng sinh cùng có lợi. Khi nói đến ý thức sinh thái là muốn nhấn mạnh đến việc nhận biết những ảnh hưởng về hoạt động của nhân loại đối với tự nhiên.
Sinh thái bao gồm cả sinh thái tự nhiên và sinh thái xã hội. Sinh thái tự nhiên là mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên. Còn sinh thái xã hội lại nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội.
Khái niệm sinh thái không chỉ dùng để chỉ các đối tượng sinh vật và môi trường tự nhiên, mà chủ yếu nhấn mạnh đến quan hệ của các đối tượng ấy trong chỉnh thể sinh thái. Ở lĩnh vực khoa học tự nhiên, sinh thái chỉ trạng thái sinh tồn của tất cả sinh vật cho đến mối quan hệ mật thiết giữa chúng hoặc giữa chúng và môi trường. Quan hệ có tính chất hai chiều, tác động qua lại, phụ thuộc vào nhau giữa động thực vật và con người. Tự nhiên mang đến cho con người một môi sinh trong lành, đảm bảo. Nếu con người can thiệp quá mức vào tự nhiên sẽ dẫn đến những nguy cơ sinh thái tiêu cực. Vì vậy, con người cần có những tác động tích cực để hệ sinh thái phát triển một cách hoàn chỉnh và bền vững.
Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu các mối quan hệ có hệ thống giữa xã hội loài người và môi trường thiên nhiên. Trước đây, trong các nghiên cứu sinh thái học, con người thường chỉ đứng ngoài như một siêu yếu tố để quan sát và nhận định các quá trình tự nhiên. Ngày nay, có thể nói, không có một hệ sinh thái nào trên bề mặt trái đất lại không có sự tác động của con người.
Con người, thực tế đã trở thành hạt nhân trung tâm của các nghiên cứu sinh thái học. Xã hội loài người được đặc trưng bằng sự tiến bộ vượt bậc và con người trở thành nhân tố vĩ đại nhất trong mối quan hệ với thiên nhiên. Con người có khả năng quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên, tuy nhiên cũng làm suy thoái nhiều hệ sinh thái trên bề mặt trái đất.
Mô hình hiện đại về sinh thái nhân văn là dựa trên nguyên tắc quan hệ có hệ thống giữa xã hội loài người (hệ xã hội) và môi trường thiên nhiên (hệ sinh thái), làm thành hệ thống sinh thái nhân văn. Mục đích của nghiên cứu sinh thái nhân văn là tìm hiểu và nhận biết các đặc điểm và các mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống này với nhau và sự hình thành những hình thái đặc trưng trong hệ thống xã hội và hệ sinh thái.
Một trong những phạm trù của sinh thái học nhân văn là sinh thái xã hội. Thuật ngữ sinh thái xã hội/ social ecology chính là hệ sinh thái mà con người mang tính cộng đồng được đặc trưng bằng cấu trúc xã hội. Nhờ có cấu trúc xã hội cũng như quá trình phát triển của nó mà nhân loại mới có được những tiến bộ như ngày nay.
Từ hệ thống lý thuyết về sinh thái học như trên, trong lĩnh vực văn học, các nhà văn, nhà thơ đã vận dụng những nội hàm căn bản của nó để sáng tạo nên những tác phẩm mang cảm quan sinh thái đa dạng với nhiều mối quan hệ: quan hệ bản chất, quan hệ tương tác và quan hệ điều bình giữa con người và thiên nhiên thông qua thế giới nhân vật với từng môi trường thiên nhiên - xã hội cụ thể. Từ thành tựu của sáng tạo văn học, các nhà lý luận và phê bình văn học trừu xuất thành hệ lý thuyết của phê bình sinh thái nhằm giải mã tác phẩm một cách hiệu quả, tạo thành sự tiếp nhận đồng sáng tạo ở từng không gian văn học.
Vậy phê bình sinh thái là gì? Và đâu là những nội dung căn bản của nó?
Phê bình sinh thái (ecocriticism) được hiểu một cách đơn giản như Cheryll Glotfelty, người khởi xướng phê bình sinh thái ở Mỹ vào những năm 90 của thế kỷ XX định nghĩa: “Phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” [1, tr.13]. Phê bình sinh thái mang đến phương pháp tiếp cận trái đất là trung tâm để nghiên cứu văn học. Đây được xem là một trong những hướng mới mẻ của phê bình văn học hiện đại ở thế giới và Việt Nam.
Hướng về chủ đề môi trường nên phê bình sinh thái có những nét đặc thù riêng. Vấn đề làm nên tư tưởng đặc thù của phê bình sinh thái là “mối quan hệ giữa ‘văn hóa’ và ‘tự nhiên’ trong các tác phẩm văn học” [1, tr.8].
Phê bình sinh thái xuất hiện như một phản ứng trước sự tàn phá môi trường, quá trình đô thị hóa và sự mất cân bằng sinh thái đe dọa sự tồn vong của trái đất. Nói cách khác, sự xuất hiện của phê bình sinh thái không chỉ cảnh tỉnh thái độ ứng xử của con người với tự nhiên mà còn mở ra cách tiếp cận mới trong nghiên cứu văn học, nhất là trong sự biến đổi dữ dội của thiên nhiên và xã hội thời hiện đại.
Như vậy, sứ mệnh của phê bình sinh thái là nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, khoa học, phương thức sống và phương thức sản xuất, mô hình phát triển xã hội của con người đã ảnh hưởng như thế nào đến hiện tượng xấu đi của môi trường tự nhiên, đã dẫn đến nguy cơ sinh thái.
Từ đây có thể thấy, phê bình sinh thái là một khuynh hướng mang đậm tinh thần phê phán văn hóa, nó hướng đến cải cách văn hóa tư tưởng, thúc đẩy cách mạng về phương thức sống, phương thức sản xuất, mô hình phát triển, xây dựng ý thức sinh thái. Còn trong nghiên cứu văn chương, phê bình sinh thái là hướng tiếp cận các tác phẩm văn chương bằng các tri thức liên ngành, như xã hội học, văn hóa học, khoa học kỹ thuật nhằm tác động đến nhận thức của con người về sự tương tác của chính mình và tự nhiên, đến hành vi đạo đức của con người với phần còn lại của thế giới tự nhiên.
Sự ra đời chính thức của phê bình sinh thái vào đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX không phải là một cuộc cách mạng đột ngột, nhưng sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của nó trong những thập niên sau đó cho đến nay khẳng định tầm quan trọng của việc để tâm đến mối quan hệ giữa thế giới con người và thế giới phi-nhân trong các diễn ngôn văn hóa.
Cùng với các mối quan tâm về tự nhiên, phê bình sinh thái trở thành một giải pháp khôi phục ý nghĩa và tầm quan trọng của tự nhiên với con người cũng như khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong việc định hình và thay đổi các quan niệm về tự nhiên.
Trong văn chương, mối quan hệ của con người và thế giới phi-nhân tất nhiên được nhìn nhận trước hết từ văn bản tác phẩm. Phê bình sinh thái với tư cách là một kiểu tiếp cận văn chương mới, một khuynh hướng phê bình văn học ra đời trong bối cảnh giới học thuật phản ứng mạnh mẽ trước nguy cơ môi sinh bị hủy hoại do chính con người. Nhiệm vụ trọng tâm của phê bình sinh thái là qua văn học thể hiện thái độ về văn hóa ứng xử của con người đối với tự nhiên.
Phê bình sinh thái ra đời như một phản ứng tích cực trước tình trạng môi trường toàn cầu đang ngày một xấu đi. Phê bình sinh thái khai thác lợi thế của việc thông qua phê bình văn học nghệ thuật để tìm ra căn nguyên sâu xa của nguy cơ sinh thái ẩn tàng trong “mô thức văn hóa nhân loại”, từ đó tiến tới điều chỉnh quan niệm về quan hệ giữa con người và tự nhiên, xây dựng một phương thức sống đề cao chỉnh thể sinh thái.
Phê bình sinh thái xuất hiện vào thời điểm mà nhân loại đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ tổn thương sinh thái. Đặt ra những vấn đề trực diện của khủng hoảng môi sinh, từ đó cảnh tỉnh con người nhìn lại phương thức sống, vị trí của mình trong sinh quyển, xem xét lại văn minh văn hóa để đề xuất, đánh giá lại thái độ của con người với tự nhiên và nhận biết, đề phòng những thảm họa mà tự nhiên mang lại cho con người. Từ đó, có ý thức điều bình, nhằm đem lại viễn cảnh tốt đẹp cho thiên nhiên/ môi sinh và con người. Những quan hệ này được các nhà sáng tác văn học đặt ra và phê bình sinh thái phải giải mã, làm sáng tỏ để định hướng thẩm mỹ, định hướng ý thức sinh thái cho người đọc. Đây là một hướng nghiên cứu được vận dụng có hiệu quả ở Việt Nam trong nhiều thập niên, đặc biệt từ đầu thế kỷ XX đến nay. Trong bài viết ngắn này, chúng tôi muốn từ phê bình sinh thái để nghiên cứu trường hợp (case study) thơ của Trương Trọng Nghĩa - một tác giả trẻ Nam Bộ thể hiện đậm đặc cảm quan sinh thái xã hội và nhân văn trong sáng tác.
Cảm quan sinh thái trong thơ Trương Trọng Nghĩa
Tiếp nhận thơ Trương Trọng Nghĩa từ tác phẩm Những mảnh ghép không logic, Nxb Văn Nghệ ấn hành năm 2006. Khi đó, tôi đã thấy ở nhà thơ trẻ này một tâm hồn phóng khoáng, tin yêu và giàu tính hoài niệm mang cảm quan sinh thái nhân văn sâu nặng. Giờ đây, đọc tập thơ mới Bay lên từ cánh đồng (2019), tôi càng phát hiện ra một vấn đề có tính bản thể của “tâm lý học sáng tạo” và “cơ chế tự vệ” của “cái tôi trữ tình” mà mỗi nhà thơ, nhất là những nhà thơ có ý thức lập ngôn thường lặp đi lặp lại như những ám ảnh vô thức. Đó là cảm thức hoài niệm và tinh thần sinh thái, đạo đức sinh thái đậm đặc trong thơ Trương Trọng Nghĩa.
.jpg)
Ngay từ thi tập Những mảnh ghép không logic, Nghĩa đã có những câu thơ mang cảm quan hoài niệm dành cho trái tim mình: “Anh về đứng giữa tháng giêng và hát/ Như gã điên thỉnh thoảng tự ru mình/ Chỉ có em và tuổi thơ trẻ mãi/ Cùng tháng giêng trong ký ức/ Riêng anh” (Tháng Giêng). Sau đó là cảm quan hoài niệm sinh thái mang tính đời tư - thế sự: “Những buổi chiều thiếu không gian/ Hồn tôi mộng du trên nóc những tầng cao ốc/ Trong tôi còn lại một góc bình yên/ Giữa phố xá ồn ào” (Những buổi chiều không ý tưởng). Và cuối cùng là một thức nhận sinh thái thiên nhiên: “Ngửa mặt gặp vầng trăng cũ/ Giật mình.../ Trước giọt sương tan” (Ký ức). Tôi xem đây như là chìa khóa nghệ thuật (artistic key) để mở lối vào thơ Trương Trọng Nghĩa.
Đọc toàn bộ thơ Trương Trọng Nghĩa, tôi bắt gặp hình ảnh đất đai, cánh đồng, dòng sông và bầu trời quê hương - nơi anh sinh ra và lớn lên với tần suất đậm đặc. Bài thơ Tuổi xuân cánh đồng có thể xem là phẩm tính kết tinh cho cảm quan sinh thái trong thơ anh :
Mẹ tôi gửi tuổi xuân cho bao mùa mưa nắng trên đồng
Cánh đồng trả cho chúng tôi những bát cơm thơm dẻo
Cha tôi gửi bao giọt mồ hôi nhọc nhằn, vất vả
Cánh đồng qua từng mùa gieo gặt vẫn mượt mà xanh
Trên cánh đồng và đất đai quê kiểng ấy, những người thân ruột thịt của anh hiện lên với biết bao gian truân, vất vả để làm nên màu xanh sự sống. Mẹ cha anh đã: “Trải qua bao tháng, bao năm/ Lúa trên đồng vẫn xanh mà tóc cha đã bạc/ Dáng mẹ gầy gò đếm từng mùa giáp hạt/ Lam lũ đôi tay nhăn nheo một đời bám đất, dính phèn”. Còn ông và cha anh đã trở thành những thế hệ “lão nông tri điền” biết từng buồn vui và nết đất ruộng đồng; sống với đất và chết lại về với đất: “Ông cha tôi những lão nông tri điền/ Quen mùi ruộng đồng, am tường chuyện nông gia thời vụ/ Bao đời cấy cày trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn/ Rồi lặng lẽ ngày trở về với đất/ Đất ôm trọn vào lòng che chở, bao dung”. Để bao thế hệ tuổi thơ như anh lớn lên được tắm mình trong màu xanh nghĩa tình của quê hương, xứ sở:
Đời người bao năm đong đếm thành tuổi cánh đồng
Qua hết mùa mạ non vẫn một màu xanh bát ngát
Chúng tôi lớn lên từ cánh đồng bao la tình yêu của mẹ
Đó chính là thế giới thiên nhiên chở che và nuôi dưỡng sự sống của mỗi phận người. Trương Trọng Nghĩa đã tắm gội trong không - thời gian sự sống như thế. Giờ đây, môi trường ấy không còn vẹn nguyên trong trực quan sinh động mà đã trở thành không - thời gian hoài niệm của tác giả. Bảo làm sao không tiếc nuối, xót xa? Tất cả “những tình cảnh điển hình” ấy, trở thành những cổ mẫu (archétypes) nằm sâu trong vô thức của anh, chập chờn, mộng ảo. Giờ đây, chúng bỗng bừng thức trong những giấc mơ đêm và xôn xao trong tâm lý và ý hướng sáng tạo của Nghĩa bằng “Giấc ngủ mê in dấu hình hài”. Ký ức bóng mùa xưa đã trôi vào dĩ vãng, giờ bỗng ùa về chật cả tuổi thơ:
Đi qua tuổi thơ
Bàn chân còn bám đầy vết phèn nâu đỏ
Tôi - gã cà cuống còn nợ thân cây lúa
Đau đáu giấc mơ đồng bằng
Thấp thoáng bóng mùa trôi...
(Ngày về)
Theo tôi, mỗi nhà thơ đích thực, có thân phận và số phận của riêng mình khi bị ám ảnh bởi những hình tượng đặc biệt nào đó từ trong hiện thực cuộc sống. Chúng đã thành ám ảnh hữu thức và vô thức, có cả vô thức tập thể mà mình không hay biết, nhưng đến một ngưỡng nào đó, chúng lại thành thi giới lung linh, huyền ảo, trở thành bản mệnh người và bản mệnh thơ, cuối cùng, kết tinh thành phong cách tác giả.
Là nhà thơ gắn bó với đồng quê, giờ đây, khi dịch chuyển môi sinh, không còn hiện hữu trong không gian hiện thực ấy nữa, Trương Trọng Nghĩa lại liền chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi một thế giới hiện thực khác (the other realistic world). Hiện thực ấy luôn thay đổi bất an, gắn với những âu lo hiện sinh đời người, nên anh không thể không bị tác động và tổn thương: “Đã có ít nhiều mất mát/ Đã có ít nhiều tổn thương” (Mảnh vỡ), làm thành vết sẹo trong tâm hồn có sức lay động và day dứt để trở thành ám ảnh trong tâm lý sáng tạo của nhà thơ.
Vậy nên, từ hình tượng mẫu gốc như tôi vừa đề cập bên trên, Trương Trọng Nghĩa đã để ngòi bút của mình gọi về những ký ức làng quê và đồng hiện chúng trong hiện tại để được thức nhận và thực chứng những quan hệ hiện sinh của chính mình và anh gọi đó là “con đường dắt tôi đi về phía nỗi nhớ” (Ngày về). Không có nỗi nhớ ấy, anh sẽ trở thành người có tội và mắc nợ, trước hết, với từng suy nghĩ và cảm giác bé nhỏ của anh:
Ra đi tôi nợ cánh đồng lời tạ lỗi
Khi hạt cơm thơm dẻo còn dính ở khóe môi
Chén canh rau tập tàng còn ngọt ngào đầu lưỡi
Mùi bùn đất còn nghe ngai ngái
Khói đốt đồng chiều hôm ấy còn cay
(Bay lên từ cánh đồng)
Sau đó, là mắc nợ với quê hương, nếu một ngày bất chợt anh thấy tâm hồn mình nặng trĩu “mỏi mệt giữa chốn thị thành”. Khi đó, anh sẽ trở thành người buông xuôi theo tiếng gọi tìm về của hồn quê yêu dấu: “Ta cứ mặc kệ chuyện đời/ Về lặn hụp bên khoảng sông mênh mông ấu thơ tắm táp/ Nơi góc vườn có những nụ trâm ổi lặng lẽ nở chờ ta”. Anh tha hồ lang thang trong những không gian hoài niệm tuổi thơ:
Về nghe tiếng lũ chim gì đó hót sau nhà
Con ong bầu náu mình nơi cột nhà nghe lời ru cánh võng
Đêm có tiếng ếch nhái gọi trăng bên con mương nhỏ
Và ta là chú dế trũi lang thang...
(Một ngày)
Cái nhìn hiện thực mang tính hoài niệm và trực cảm trong thơ Trương Trọng Nghĩa, lúc đầu xuất phát từ những quan hệ thiêng liêng, gần gũi theo tinh thần sinh thái học thiên nhiên. Chúng hiện lên thành hình ảnh, ngôn từ mang tính trực quan sinh động. Ở đó, Nghĩa thấy được giữa con người và thiên nhiên trong sự tác động tự nhiên vốn có của nó dưới ánh sáng “nhân loại trung tâm luận”, mượn/ coi thiên nhiên là sinh thái chủ đạo để thể hiện nỗi lòng mình bằng cái nhìn gần gũi, thân thiện, gắn kết, bao dung với nơi “chôn nhau cắt rốn” của anh. Nhưng càng về sau, khi kết tinh thành “cái nhìn nghệ thuật”, theo cách nói của Bakhtin, thì Trương Trọng Nghĩa đã thấy được mối quan hệ cộng hưởng, tương tác giữa thiên nhiên và con người ở tầm nhận thức mới, có tính hiện đại và hậu hiện đại như chúng vốn có. Khi ấy, hiện thực sinh thái được phản ánh trong thơ anh trở thành hiện thực sinh thái văn hóa - tinh thần; từ đó, giúp Nghĩa hình thành nên những diễn ngôn về thế sự và quê hương sâu sắc, có chiều sâu văn hóa và tinh thần đạo đức sinh thái hiện đại hơn trước đó, dù có khi đó là kết quả của vô thức sáng tạo:
Giật mình từng bầy sẻ nâu bay vút lên
Hương lúa nồng nàn chiều quê hát lời rơm rạ
Đất rì rầm những dòng diệp lục đêm ngày hối hả
Cho hạt nảy mầm, cây ươm nụ sinh sôi
Về bên cánh đồng chạm khoảng trời mênh mông
Nhớ mùi khói và giấc mơ chập chờn cổ tích
Tuổi thơ như cánh diều đã khuất xa mờ mịt
Những ngày xa xưa đành gửi lại trong thơ
(Bên cánh đồng lớn)
Từ đó, những lây lan cảm xúc diễn ra, mặc cho ký ức gọi ký ức, những chập chùng ảnh tượng đứt nối hiện về trong hiện tại để anh tìm lại “giấc mơ bị đánh mất”, có thế, anh mới được thỏa mãn mong ước của mình, dù chỉ là trong tâm lý, có khi là ảo giác thiên di:
Bằng cách nào đó tôi đã vẽ rất nhiều khối lập phương
Trên những cánh hoa tulip vừa được cắm
Đêm qua hình như có cơn mưa ngang qua thành phố
Cơn khát tôi uống cạn bầu trời...
Và tôi đã hát bằng lời của loài thiên di.
(Giấc mơ bị đánh mất)
Nghĩa là trong vô thức, anh có thể bị phân thân thành nhiều “cái tôi khác”, chúng cộng hưởng và đối lập nhau, va đập, xoay tròn như đứng trước mặt kính vạn hoa. Những mảnh vỡ tiềm thức đồng hiện:
Soi mình trong mảnh vỡ chiếc gương
Tôi chạm mặt những cái tôi rất khác
Cái tôi trần tục, cái tôi thiên thần,
cái tôi không phải là tôi...
Trân trối nhìn nhau như kẻ thù.
(Mảnh vỡ)
Những giấc mơ không bình yên hiện về chập chờn, mê tỉnh. Và như một “cơn ác mộng”, một thoáng thôi miên, anh tự thú: “Tôi thấy hồn mình đang rời khỏi xác/ Và tự tôi phủ định chính tôi” (Cơn ác mộng). Tiếp theo là một bừng thức trong mê: “Nửa đêm/ Ai mang khu vườn đi mất/ Chỉ còn những cánh bướm chập chờn rợn ngợp giấc mơ tôi” (Cánh bướm vườn xưa). Để sau đó là một trạng huống chập chờn, mộng mị khác thiên di mệt lả trong anh :
Trong bảng lảng khói sương, trong mịt mùng mây phủ
Tôi tìm bóng mình giữa thành phố của những người lạ xa
Đêm nguyện cầu thấy tôi một mình ngồi khóc
Tỉnh dậy mồ hôi đẫm ướt đầm đìa trên ngực áo
Và tôi thấy tôi đang quỳ...
(Cơn ác mộng)
Nếu phê bình sinh thái (ecocriticism) được Cheryll Glotfelty định nghĩa một cách ngắn gọn “đó là phương pháp phê bình nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường sống”, thì thơ Trương Trọng Nghĩa đã thể hiện mối quan hệ này một cách cụ thể, mà ở đó anh là chủ thể ngôi thứ nhất đang hiện hữu mình trong từng quan hệ với cảnh và người của quê hương - chủ thể nhân hóa ngôi thứ hai - giờ đã là ký ức mù xa, nhưng không bao giờ xao nhãng trong tâm hồn dễ tổn thương và xao động của anh: “Đàn trâu cuối cùng đã ra đi/ Đêm qua gió bấc về, cánh đồng oằn mình/ Bỗng nhớ tiếng “nghé ọ” còn đâu đó trong ký ức/ Chấp chới cánh diều vi vút trong những cơn mơ” (Bên đồng chiều). Đô thị hóa nông thôn diễn ra với tốc độ chóng mặt đã làm thay đổi môi sinh, tác giả thấy đau lòng trước tình trạng:“Không một ai tiếc thương cho đàn cà cuống đã không về nữa/ Con cua đồng tự xây cho mình nấm mộ/ Nỉ non bài ca của chú dế nhỏ độc hành”. Đạo đức sinh thái qua từng ký ức tâm trạng xót xa của Nghĩa hiện lên: “Trên mảnh đất hương hỏa ông tôi/ Cỏ mọc xanh khuất lấp con đường cũ”, đến nỗi anh không nén được xúc động bằng giọt nước mắt hoài niệm bi ai: “khóc cho tháng ngày ấu thơ không còn nữa”. Những câu hỏi trần tình không cần câu trả lời thay cho lời từ biệt bóng mùa qua luôn xuất hiện trong thơ Nghĩa:
Bè bạn bỏ quê kiếm sống hết rồi
Xóm nhỏ ngày xưa giờ cũng thành phố chợ
Bên cánh đồng con sáo già ngơ ngẩn
Đàn trâu bỏ đi đâu rồi, trâu ơi!
(Bên đồng chiều)
Anh sợ một ngày không xa, phương Nam mất đi môi sinh yên bình thuở trước để lại trong con người hôm nay nỗi nhớ quay quắt cội nguồn. Câu hỏi “Một phương Nam nghĩa tình, hào phóng về đâu?” hiện lên day dứt:
Mai này, phương Nam còn chăng hai mùa mưa nắng?
Mẹ hát ru con ngọt ngào những khúc ca dao
Đêm đêm tiếng vạc sành nỉ non nhớ người đi mở cõi thuở nào
Bước chân tiền nhân qua đây còn lắng đọng bao câu chuyện kể
Ngọt nước dừa xiêm, ngọt tiếng ca vọng cổ…
Tiếng nhịp song loan gõ vào thẳm sâu nỗi nhớ miệt vườn
(Đỉnh triều lên)
Cảm xúc trôi dạt và lênh đênh hiện lên trong tâm hồn không bình lặng của anh để thành những câu hỏi ám ảnh về sự xô chảy, trôi dạt, mất mát: “Sao mênh mông thế sông ơi!/ Từ dạo người mang tiếng đờn kìm bỏ đi biền biệt/ Bỏ mùa hoa lục bình tím biếc/ Bỏ trái bần mình ên ôm nỗi chát chua / Bỏ gã bìm bịp đêm đêm khản giọng gọi mùa nước lớn/ Câu vọng cổ lưng chừng, bỏ rơi nhịp song loan”. Vậy là cảm thức tìm về lại thôi thúc anh hoài niệm những ngày xưa thân ái để yên bình tâm thế:
Tôi về nơi ngã ba sông tìm câu hát cũ
“Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu…”
Từ dạo người đi những mùa trăng rụng vỡ trên sóng nước
Nhánh lục bình cũng dạt trôi bỏ quên lời hẹn ước
Chiều sông Tiền lộng gió
Tiếng đàn kìm lênh đênh phía đôi bờ bãi lao xao
(Tiếng đàn kìm nơi ngã ba sông)
Quê nhà giờ đây mẹ không còn nữa, lời ca dao xưa chỉ còn trong ký ức rưng rưng. Anh đành gửi chút mong manh vào kỷ niệm bằng những câu thơ buồn như những cuộc chia ly: “Gởi lại cho mùa khoảng trời thơ bé/ Gởi lại cho đêm nỉ non tiếng dế độc hành/ Gởi lại cho đời mái tóc xanh thời con gái/ Để câu thơ buồn như một cuộc chia ly” (Là chút mong manh).
Trong quan hệ phức hợp của đời sống hiện đại, những kinh nghiệm quan hệ mới sẽ xuất hiện trong thơ, giúp con người thức nhận lại cả quá khứ và hiện tại. Điều này được Thông diễn học hiện đại gọi là sự vẫy gọi của văn bản, làm cho người tiếp nhận hiểu sâu sắc hơn giá trị của thi phẩm. Trương Trọng Nghĩa là người trải nghiệm quan hệ sinh thái quê hương và nâng chúng lên thành cảm quan sinh thái nhân văn, đạo đức cao đẹp. Anh đã bổ sung vào thi giới của mình hiện thực mới nhưng cũng trên cái nền đồng hiện nuối tiếc những ám ảnh mẫu gốc (obsessions of archétypes) nặng sâu. Những quan sát trực quan của anh về xã hội đô thị hiện đại, giúp anh có cơ hội nhìn thấu thị ký ức làng quê của mình, từ góc nhìn tham chiếu tương đồng và đối lập, nhằm vực dậy niềm tin cho những viễn cảnh điều bình sinh thái tốt đẹp rồi sẽ đến cho cố hương anh. Và cũng chỉ có thơ mới giúp Nghĩa hoàn thành trọng trách ấy với tâm niệm “Vội vàng thơ anh viết đề tặng ngày xưa” (Qua sông Tiền chợt nhớ).
Theo các nhà hình thức luận Nga, thơ được xem là thể loại thể hiện sự “bạo động có tổ chức đối với những lời nói thường” một cách thi pháp hấp dẫn nhất. Thơ Trương Trọng Nghĩa, từ góc nhìn sinh thái, sự bạo động ở đây được nhà thơ tổ chức bằng những câu thơ mang cảm quan hoài niệm nhân văn nhức nhối tình đời, tình người. Cuối cùng, ngay cả trong tình yêu, anh cũng phải dựa vào thiên nhiên để xoa dịu lòng mình trước muôn trùng ngọn gió:
Anh băng núi tìm em chỉ thấy cánh rừng sương phủ
Chiều xuống nghe hoang vu tiếng gọi muôn trùng gió
Đá bạc đầu vì lời hứa rêu phong
Em ở đâu giữa trăm năm những huyền thoại xanh màu
Hay dỗi hờn trốn trong cô liêu miền nhan sắc
Nên cơn mưa đi qua vội vàng vẫn còn thơm mùi tóc
Anh đi tìm hết chín ngàn tám trăm mười ba bậc đá
Chỉ gặp nỗi cô đơn của cánh rừng già
Và vi vu lời gió thiết tha...
(Mưa qua miền tóc thơm)
Anh mượn mưa và khúc đồng dao thời thơ dại để hóa giải nỗi buồn thông qua mối tình xưa cũ: “Mưa nhẹ nhàng rơi trên tóc em, trên bờ vai em/ mưa như người bạn cũ/ mưa nhắc em khúc đồng dao thời thơ ấu/ mưa khúc khích.../ tiếng em cười.../ gọi mùa về trên những ngón tay ngoan” (Khúc đồng dao mưa). Ở đó, anh thấy được: “Mong manh dáng em lá cỏ/ Lời yêu xa ngái mấy mùa” (Khẽ chạm cơn mưa).
Nhận xét về thơ Trương Trọng Nghĩa, nhà phê bình Võ Tấn Cường đã tinh tế nhận ra chất hoài vãng trong từng cảm xúc của anh: “Ký ức của tác giả hướng về sự tiếc nuối cái đẹp nguyên sơ, chân chất của làng quê đã phôi pha theo thời gian, theo sự biến đổi của xã hội. Ký ức của tác giả quay về với kỷ niệm tuổi thơ mang vẻ đẹp lung linh và thi vị... Cái nhìn và cảm hứng của tác giả mở rộng và hướng về những mối quan hệ với thiên nhiên, nghệ thuật, tình yêu, cuộc sống” [3,tr.8]. Tôi hoàn toàn thống nhất với nhận định này khi đi tìm chất thơ và giọng điệu thơ Trương Trọng Nghĩa. Ngậm ngùi, nuối tiếc là giọng điệu chủ âm trong thơ Trương Trọng Nghĩa khi anh về lại quê nhà, cảnh cũ, người xưa giờ thay hình đổi dạng:
Tìm về cố hương, chỉ thấy rừng cao su, đồng mía, rẫy điều…
Tìm về cố hương, chỉ thấy khói bốc cao trên ống khói bao nhà máy
Những cây tràm lẻ loi ngả nghiêng trong chiều loang nắng
Rì rầm tiếng máy như xé toang đồng cỏ bình yên
(Đàn sếu không về)
Khi ấy, anh phải nhờ vào quá khứ để tìm lại những ngày xưa thân ái. Có gì yên bình và hạnh phúc hơn khi cái mất đi lại được tìm thấy trong ký ức vẹn nguyên, trong nỗi nhớ đồng lại hiện lên hồn quê, chân quê và tình quê của chính người thơ: “Ngồi nhặt vệt thời gian trên tóc mẹ, nghe tháng ngày bình yên”.
Cơ chế của tâm lý tự vệ khi bị đánh mất điều gì đó chính là thái độ phủ định nó để được bình yên, để không bị đe dọa, để được tìm lại chính mình giàu có, tin yêu. Có thế, Nghĩa mới thấy yên bình tâm thế, như cách để anh tạ lỗi với cánh đồng, tạ lỗi với quê hương:
Ngày trở về tôi như đứa trẻ lần đầu đi xa
Rụt rè với đôi bàn chân đất
Những ngày bước thấp, bước cao trên mặt ruộng nứt nẻ chỉ còn trơ rạ
Nhớ mùi khói đốt đồng và vị ngọt cọng cỏ gà xưa.
(Ngày về)
Đó là hành trình ra đi và cũng là hành trình trở về bằng hiện thực và tâm linh của hồn thơ Trương Trọng Nghĩa.
Vĩ thanh mở
Hành trình sáng tạo tuy chưa dài và còn nhiều dự cảm, nhưng Trương Trọng Nghĩa đã tự khẳng định tâm thế và tâm cảm của mình để hình thành chất thơ và thi pháp cá nhân. Thơ anh nặng sâu tình người, tình quê hương, xứ sở. Và trong quá trình đô thị hóa của xã hội Việt Nam thời hiện đại, nó giúp nhà thơ và giúp người đọc tìm về nguồn cội để được sống lại trong không - thời gian sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn trong sáng, thanh bình cho mỗi phận người và mỗi kinh nghiệm quan hệ người. Nó đánh thức “con người nhà quê” (Nguyễn Bính) luôn ẩn núp trong mỗi một chúng ta. Có thể nói cảm quan sinh thái trong thơ Trương Trọng Nghĩa đã giúp người đọc thức nhận được mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên là sâu nặng như thế nào, nó luôn đánh thức trong mỗi chủ thể hiện sinh những gì đồng nghĩa với tình yêu và cuộc sống, những gì đồng nghĩa với sự bảo vệ môi sinh và ý thức về bản chất của môi sinh để điều bình sinh thái, mở ra những viễn cảnh tốt đẹp cho tương lai giữa con người và thiên nhiên, giữa con người và xã hội./.
H . T . H