- Lý luận - Phê bình
- Văn hóa Việt trong tâm thức những người con xa xứ qua tuyển thơ “Về cùng nước Việt của ta”
Văn hóa Việt trong tâm thức những người con xa xứ qua tuyển thơ “Về cùng nước Việt của ta”
Ngày 7/11/2026, tại Đại sứ quán Việt Nam ở Liên bang Nga, tuyển thơ “Về cùng nước Việt của ta” của 10 tác giả thuộc Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga sẽ chính thức ra mắt. Gồm 154 bài thơ mang nhiều cung bậc cảm xúc của những người Việt xa xứ, tập thơ gợi lên những ký ức, nghĩa tình và suy tư về quê hương, cội nguồn. Qua bài viết dưới đây, nhà nghiên cứu Cao Thị Hồng khám phá chiều sâu văn hóa Việt được gửi gắm trong những trang thơ ấy.

CAO THỊ HỒNG
1. Nhìn từ chiều sâu nhân bản của văn hóa, Albert Camus từng viết: “Không có văn hóa và sự tự do tương đối mà văn hóa hàm chứa, xã hội, dù hoàn hảo, cũng chỉ là một khu rừng” (Albert Camus, The Artist and His Time, 1953). Nhận định trên nhấn mạnh văn hóa không chỉ làm phong phú đời sống, mà còn góp phần gìn giữ chiều kích nhân bản trong các quan hệ xã hội. Với những người sống xa nơi “chôn nhau cắt rốn”, văn hóa quê hương vì thế không chỉ là điều để nhớ, mà còn là một điểm tựa tinh thần, thấm vào cách họ cảm nhận cuộc sống và ứng xử với con người.
Trong hành trang của những người Việt sống xa quê hương, có những điều không dễ phai mờ theo năm tháng hay khoảng cách không gian, đó là âm vang của tiếng mẹ đẻ, dáng hình cha mẹ, một mùi hương quen, phong tục ngày Tết, những nghĩa tình bền chặt... Chúng lắng sâu trong ký ức, để rồi đôi khi chỉ một thanh âm hay một cảnh vật bất chợt cũng đủ đánh thức cả bầu trời kỷ niệm. Tuyển thơ Về cùng nước Việt của ta (Nxb. Văn học, Hà Nội, 2026), gồm 154 bài thơ của mười tác giả (Hà Lê, Ngô Thanh Hoàn, Nguyễn Huy Hoàng, Ngô Mạnh Hùng, Nguyễn Quốc Hùng, Ma Chương Khoa, Nguyễn Tuấn Mạnh, Lê Tự Minh, Bùi Công Sự, Trịnh Thu Thanh) thuộc Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga, gợi mở chiều sâu của tâm thức văn hóa Việt: những lớp ký ức, tình cảm, niềm tin và giá trị văn hóa được kết đọng trong thế giới tinh thần của những người con nước Việt đã trải nghiệm sống, học tập và mưu sinh xa Tổ quốc.
2. Nhìn tổng thể, tuyển tập Về cùng nước Việt của ta hội tụ nhiều mạch cảm hứng: tình yêu quê hương, gia đình, tuổi trẻ, tình bạn, ký ức chiến tranh; những khó nhọc và ân tình trên đất Nga; những suy tư trước sự đổi thay của quê nhà, trước thời gian và số phận con người... Xuyên suốt những mạch cảm hứng ấy là sự hiện diện bền bỉ của văn hóa Việt: không chỉ ở cảnh sắc, phong tục, mà còn trong cách nghĩ, cách cảm, quan niệm về nghĩa tình, cội nguồn và trách nhiệm với cộng đồng. Nhan đề tuyển thơ, mượn từ bài Về cùng nước Việt của ta của Nguyễn Huy Hoàng, vì thế gợi nhiều tầng ý nghĩa: trở về không chỉ là tìm lại một miền đất, mà còn là nhận ra những giá trị đã âm thầm nuôi dưỡng mình, từ nếp sống thường ngày đến cách ứng xử với con người. Chính trong khoảng cách, mất mát và những khác biệt của môi trường sống, các giá trị ấy càng trở nên rõ nét; “Về cùng nước Việt” cũng là hành trình nhìn lại những điều đã góp phần làm nên chính con người mình.
2.1. Quê hương trong ký ức: cảnh sắc, hương vị và tiếng Việt
Một trong những biểu hiện dễ nhận thấy nhất của tâm thức văn hóa Việt trong Về cùng nước Việt của ta là quê hương luôn hiện diện trong những hình ảnh bình dị, thân thuộc. “Văn hóa là điều thường nhật” (Raymond Williams, Culture Is Ordinary, 1958) – cách nhìn ấy giúp ta hiểu vì sao những chi tiết tưởng như rất nhỏ trong thơ – giàn bầu, bữa cơm, tiếng gọi quê nhà… – lại có thể mang sức nặng của những giá trị văn hóa bền chặt. Văn hóa không ở ngoài đời sống, mà được con người cảm nhận và gìn giữ ngay trong những sinh hoạt quen thuộc. Trong những thi phẩm Về cùng nước Việt của ta, Dẫu xa muôn dặm, vẫn tôi vua Hùng của Nguyễn Huy Hoàng; Quê hương tôi của Ma Chương Khoa; Gửi một dòng sông của Ngô Thanh Hoàn; Quê hương, Vườn bưởi của Ngô Mạnh Hùng; Việt Nam quê hương tôi, Sóng Hương Giang của Lê Tự Minh; Nhịp cầu La Tiến của Nguyễn Tuấn Mạnh; Sáng mãi trời Hà Nội của Nguyễn Quốc Hùng; Hà Nội – mùa sấu chín của Trịnh Thu Thanh… mỗi bài gọi về một không gian riêng. Dẫu khác nhau về địa danh, dòng sông, lũy tre, vườn cây, các bài thơ vẫn gặp nhau ở một tình cảm: con người mang quê hương theo mình ngay cả khi đã đi rất xa.
Trong bài thơ lấy làm nhan đề tuyển tập, Nguyễn Huy Hoàng nhiều lần nhắc lại lời gọi “Về cùng nước Việt của ta”. Điệp ngữ ấy tạo âm hưởng tha thiết, như một lời gọi quê hương và cũng là lời tự nhắc nhớ. Giàn bầu bí, hương bưởi, bữa ăn với “rau dưa, gạo mới, tương cà”, những câu ca dao, tục ngữ hiện lên cùng nhịp lục bát thân thuộc. Nước Việt được gợi ra không bằng một ý niệm lớn lao, xa cách mà bằng những gì từng nuôi dưỡng thể chất và tâm hồn con người. Đặc biệt, những lời ăn tiếng nói dân gian như “Tắt đèn, tối lửa có nhau / Con ngựa đau, cả máng tàu bỏ ăn!” (Về cùng nước Việt của ta – Nguyễn Huy Hoàng, tr. 110) không chỉ đánh thức ký ức mà còn nhắc về một nếp ứng xử: trong khó khăn, con người biết nương tựa, sẻ chia với nhau. Ở đây, quê hương không chỉ là nơi để nhớ mà còn là một hệ giá trị văn hóa, tinh thần để hướng về.
Nếu Nguyễn Huy Hoàng tìm về những nét văn hóa gần gũi với nhiều thế hệ người Việt, Ma Chương Khoa lại nhớ quê từ một không gian cụ thể: “Quê hương tôi không có sông xanh biếc / Nhưng có suối phủ đầy miết luỹ tre” (Quê hương tôi – Ma Chương Khoa, tr. 195). Cấu trúc “không có… nhưng có…” cất lên như một lời tâm tình tự nhiên: quê mình không nhất thiết phải giống những miền đất đẹp trong thi ca mới trở nên đáng yêu. Suối, đồi chè, đồi cọ và lũy tre đem đến diện mạo riêng của một miền quê Thái Nguyên. Điều đáng chú ý là tâm thức hướng về cội nguồn không xóa nhòa sự khác biệt vùng miền; trái lại, chính những cảnh vật có địa chỉ và những kỷ niệm cụ thể làm nên chiều sâu của tình yêu đất nước.
Ngô Thanh Hoàn gợi dậy ký ức từ mùi rơm mùa gặt: “Rơm thơm mùa gặt níu bàn chân / Bờ đê lối ngõ xưa còn đấy” (Gửi một dòng sông – Ngô Thanh Hoàn, tr. 101). Chữ “níu” khiến hương rơm như có một bàn tay vô hình giữ người xa quê lại. Quê hương hiện về bằng khứu giác, bằng sự tiếp xúc gần gũi của con người với đất đai, mùa màng. Trong Vườn bưởi, Ngô Mạnh Hùng nhớ bóng hình người xưa qua hương hoa: “Anh về tìm em mùa bông bưởi / Ngạt ngào thơm vườn trước vườn sau” (Vườn bưởi – Ngô Mạnh Hùng, tr. 148). Hương bưởi vừa là mùi hương của làng quê vừa gợi kỷ niệm một tình yêu thời tuổi trẻ. Hương thơm trải từ vườn trước đến vườn sau khiến không gian quê nhà như rộng thêm trong ký ức, mà vẫn gần gũi, thân thương. Những lớp ký ức riêng tư ấy khiến nước Việt không còn là một hình ảnh chung chung; nó được cảm nhận cụ thể bằng những rung động riêng của từng người viết.
Đặc biệt, có khi quê hương trở lại không phải giữa cảnh vật Việt Nam mà ngay trong khoảnh khắc gặp gỡ nơi đất khách. Hà Lê viết: “Tiếng Việt cất lên, chiều thôi xa vắng, / Trà nguội dần, câu chuyện hóa lời ru.” (Chiều Bishkek – Hà Lê, tr. 31). Hai câu thơ gợi một chuyển động tinh tế trong cảm xúc: tiếng Việt cất lên cũng là lúc sự xa vắng dịu xuống, nhường chỗ cho hơi ấm của cuộc trò chuyện; âm hưởng “lời ru” khiến cuộc gặp hiện tại chạm vào miền ký ức tuổi thơ, gợi bóng dáng mẹ và mái nhà thân thuộc. Giữa Bishkek, tiếng Việt gợi dậy những ký ức văn hóa chung, khiến những người xa xứ nhận ra sự gần gũi ngay giữa một không gian khác biệt. Quê hương vì thế không chỉ là một nơi chốn địa lý; nó còn sống trong ngôn ngữ mẹ đẻ mà con người mang theo.
Những dòng sông, hương bưởi, mùi rơm, tiếng Việt, nhịp lục bát… không chỉ là chất liệu gợi nhớ mà còn là những dấu hiệu văn hóa đã thấm sâu vào cảm giác và đời sống tinh thần của người xa xứ. Từ ký ức riêng của mỗi tác giả, một nước Việt gần gũi mà đa dạng dần hiện lên; những nét văn hóa quê nhà đã thành một phần máu thịt trong tâm hồn. Điều còn lại sau những hình ảnh gợi nhớ không chỉ là vẻ đẹp của cảnh vật, mà là cảm giác được trở về qua tiếng nói, hương vị và nhịp điệu thân quen.
2.2. Nếp nhà và nghĩa tình: những giá trị văn hóa bền sâu
Triết gia Simone Weil từng viết: “Được bén rễ có lẽ là nhu cầu quan trọng nhất, đồng thời ít được nhận biết nhất của tâm hồn con người” (Simone Weil, L’Enracinement, 1949). Với người sống xa quê, “bén rễ” không nhất thiết chỉ là ở lại nơi chôn nhau cắt rốn. Đó còn là việc giữ được mối liên hệ sống động với gia đình, cộng đồng, với những ký ức và giá trị cội nguồn đã nuôi dưỡng mình. Nhiều bài thơ trong tuyển tập đã chạm tới chính nhu cầu tinh thần sâu kín ấy.
Quê hương trong tâm thức người con xa xứ không chỉ được nhận ra qua cảnh vật; sâu bền hơn là qua những quan hệ đã làm nên đời sống của mỗi người. Những bài Mùa hương trong đất, Trong mùa hoa gạo, Mẹ của Hà Lê; Kính tặng cha, Về giỗ cha, Lại một cái Tết con xa quê, Đón mẹ sang Nga của Nguyễn Tuấn Mạnh; Con lại mơ về cha, Đưa mẹ về miền yên nghỉ của Lê Tự Minh; Gửi hai con của Ma Chương Khoa; Gửi con… của Trịnh Thu Thanh… cho thấy cha mẹ, con cái và mái nhà không phải một mảng đề tài tách rời quê hương. Chính trong tình thân, những cách cảm, cách sống và giá trị văn hóa đầu tiên được hình thành, gìn giữ và trao truyền.
Trong Mùa hương trong đất, Hà Lê viết: “Mẹ hong nắng vào mùa cơm mới, / Cha gài chiều lên vạt áo nâu.” (Mùa hương trong đất – Hà Lê, tr. 18). Hai động từ “hong” và “gài” khiến nắng, chiều như có thể được chạm vào, gìn giữ trong những cử chỉ thân quen của cha mẹ. Hương cơm mới gợi bàn tay mẹ chăm chút bữa ăn; vạt áo nâu lưu bóng cha cùng năm tháng tảo tần. Chỉ vài nét chấm phá, nếp nhà hiện lên ấm áp, có hương vị mùa màng, có sắc áo và hơi ấm người thân. Ở bài Trong mùa hoa gạo, hình ảnh mẹ tiếp tục được gợi lên qua một liên tưởng giàu sức biểu cảm: “Mẹ ngồi vá nắng bên song cửa, / Mũi chỉ se hồng một khoảng sang.” (Trong mùa hoa gạo – Hà Lê, tr. 50). Cách kết hợp “vá nắng” đưa công việc khâu vá bình dị vào một không gian thơ mộng: những mũi kim của mẹ như đan vào vệt nắng bên cửa, làm sáng ấm cả góc nhà. Từ cử chỉ ấy, người đọc có thể cảm nhận sự chắt chiu, vun vén của mẹ, một đời âm thầm chăm lo cho tổ ấm. Qua những hình ảnh vừa thân thuộc vừa mới lạ, nhớ cha mẹ cũng là nhớ những điều bình dị làm nên nếp nhà. Chính từ đó, tình yêu gia đình trở thành một mạch nguồn nuôi dưỡng tâm thức văn hóa Việt.
Với Lê Tự Minh, ký ức về cha mẹ thấm đẫm nỗi day dứt trước những mất mát không thể bù đắp. Người cha trở về trong giấc mơ qua hình ảnh “Bàn tay gầy nắng sạm” (Con lại mơ về cha - Lê Tự Minh, tr. 293). Bàn tay ấy mang dấu vết của năm tháng nhọc nhằn, gợi cả một đời cha lam lũ. Còn trong bài Đưa mẹ về miền yên nghỉ, nỗi đau lắng vào cảnh nhà: “Con đưa mẹ đi vắng cả hiên nhà, / Nơi những chiều mẹ vẫn ngồi, vẫn đợi.” (Đưa mẹ về miền yên nghỉ – Lê Tự Minh, tr. 289). Mẹ ra đi, hiên nhà vẫn đó mà trở nên trống vắng. Chữ “cả” khiến sự thiếu vắng như lan khắp không gian quen thuộc; điệp từ “vẫn” trong “vẫn ngồi, vẫn đợi” gợi dáng mẹ bền bỉ chờ con qua bao buổi chiều. Nay dáng ngồi ấy chỉ còn trong ký ức, càng thân thuộc càng khiến lòng người con quặn thắt. Nỗi đau được gợi lên từ một bàn tay, một hiên nhà, một dáng chờ, vì thế lặng lẽ mà thấm sâu. Qua những hình ảnh bình dị ấy, tình riêng của người con chạm đến đạo hiếu và nghĩa tình gia đình trong tâm thức người Việt: nhớ cha mẹ cũng là nhớ mái nhà đã chở che mình, day dứt trước những yêu thương chưa kịp đáp đền.
Nếp nhà còn hiện diện trong ngày giỗ, ngày Tết, trong niềm mong sum họp và nỗi buồn lỡ hẹn. Nguyễn Tuấn Mạnh viết: “Mỗi năm có được một lần. / Con về thăm mẹ tảo tần chốn quê” (Về giỗ cha – Nguyễn Tuấn Mạnh, tr. 235). Cụm từ “có được một lần” vừa gợi sự ít ỏi của những ngày gần mẹ, vừa cho thấy người con trân quý dịp trở về. Ngày giỗ cha cũng là ngày được thăm mẹ; lòng tưởng nhớ người đã khuất gắn với tình thương dành cho người còn đang tảo tần nơi quê nhà. Trong bài Lại một cái Tết con xa quê, niềm mong đoàn tụ trở thành nỗi buồn lỡ hẹn: “Lại một cái Tết con xa quê! / Lại một mùa xuân con chẳng về” (Lại một cái Tết con xa quê – Nguyễn Tuấn Mạnh, tr. 236). Điệp từ “lại” ở đầu hai câu thơ khiến nỗi buồn như chồng thêm qua từng năm tháng. Xuân về, vòng tuần hoàn của đất trời vẫn tiếp diễn, còn cuộc sum họp gia đình vẫn chưa thành. Trong tâm thức người xa xứ, ngày giỗ, ngày Tết vốn là dịp sum họp, nên cũng là những mốc thời gian khơi sâu nỗi nhớ khi không thể trở về, nhắc con người về tình thân và bổn phận. Nếp nhà được gìn giữ cả trong những lần trở về lẫn nỗi day dứt khi chưa thể về, bởi ở đâu, người con vẫn hướng lòng mình về với mẹ cha, tiên tổ.
Bên cạnh tình thân còn có tình yêu, tình bạn, nghĩa đồng đội và lòng thủy chung với những người đã cùng đi qua một thời tuổi trẻ. Mạch cảm xúc ấy hiện diện trong Lời tỏ tình trên sân ga của Ngô Thanh Hoàn, Vườn bưởi của Ngô Mạnh Hùng, Về với bạn, Đồng đội tôi của Lê Tự Minh, Gomel hoài niệm, Lữ đoàn 147 thân yêu của Bùi Công Sự, Về thăm bạn của Trịnh Thu Thanh. Trong Về với bạn, Lê Tự Minh viết: “Xa lâu rồi nay được về với bạn, / Bao ngọt ngào trong tiếng gọi mày tao.” (Về với bạn – Lê Tự Minh, tr. 275). Cái “ngọt ngào” nằm ngay trong lối xưng hô suồng sã, thân tình. Tiếng “mày tao” kéo những người bạn trở lại sự gần gũi của ngày xưa, khiến bao năm xa cách như ngắn lại. Bên bạn cũ, con người được sống tự nhiên, như gặp lại một phần tuổi trẻ của chính mình. Trịnh Thu Thanh cũng diễn tả niềm mong ấy bằng lời thơ giản dị: “Ta đặt vé về thăm bạn / Nhặt về ký ức thanh xuân” (Về thăm bạn – Trịnh Thu Thanh, tr. 328). Từ việc “đặt vé” cụ thể, đời thường, câu thơ mở sang một hành trình trong tâm tưởng. Cách nói “nhặt về” gợi những kỷ niệm được nâng niu tìm lại qua cuộc gặp, như gom từng mảnh thân thương của một thời đã xa. Trở về với bạn cũng là trở về với những năm tháng đã góp phần làm nên đời mình.
Ở bình diện rộng hơn, tình nghĩa trở thành lời nhắc về đạo lý sống. Nguyễn Huy Hoàng viết: “Dạy rằng, chớ phụ tổ tiên / Đừng vì gấm vóc mà quên nghĩa người.” (Dẫu xa muôn dặm, vẫn tôi vua Hùng – Nguyễn Huy Hoàng, tr. 109). Hai lời răn “chớ phụ”, “đừng quên” đặt con người trước bổn phận gìn giữ cội nguồn và tình nghĩa. Hình ảnh “gấm vóc” gợi sự giàu sang, đủ đầy; trong tương quan với “nghĩa người”, nó nhắc rằng thành đạt đến đâu cũng cần nhớ những ân tình đã nâng đỡ đời mình. Lời thơ bộc trực, mang giọng nhắn nhủ, cho thấy điều người xa xứ muốn giữ gìn còn là cách sống được vun đắp từ gia đình, quê hương. Hiếu nghĩa, lòng biết ơn và sự thủy chung vốn là những giá trị chung của nhân loại. Sắc thái văn hóa Việt trong các thi phẩm này nằm ở cách những giá trị ấy được gửi gắm qua lời ru, ngày giỗ, bữa cơm, tiếng gọi mẹ cha và lối xưng hô thân tình giữa bạn bè. Chính những biểu hiện gần gũi ấy khiến tình nghĩa có hình hài, có hơi ấm của một đời sống văn hóa cụ thể.
Từ nỗi nhớ mẹ cha đến nghĩa tình bè bạn, tâm thức văn hóa Việt hiện lên trong những gắn bó giữa người với người. Gia đình nuôi dưỡng những tình cảm đầu đời; tình yêu, tình bạn và nghĩa đồng đội bồi đắp lòng tin, sự thủy chung qua năm tháng. Những gắn bó thiêng liêng ấy làm nên chiều sâu của nỗi nhớ quê hương, bởi mỗi nơi chốn thân thương đều lưu bóng dáng những người mình yêu quý. Vì thế, khái niệm“về nước Việt” trong tuyển thơ còn là sự trở về với những con người đã nuôi dưỡng tâm hồn, với những ân tình âm thầm nâng đỡ mình trên bước đường xa xứ. Những giá trị ấy không chỉ được giữ trong hồi ức mà còn tiếp tục trao truyền qua các thế hệ người Việt sống xa đất nước.
2.3. Từ hoài niệm đến suy tư: những đổi thay, mất mát và trách nhiệm
Nếu chỉ được nhìn qua những ký ức êm đềm, nước Việt trong tâm tưởng người xa xứ dễ trở thành một miền quê được lý tưởng hóa. Nhưng ở nhiều bài thơ trong tuyển tập, nỗi nhớ còn đi cùng những day dứt trước dấu vết chiến tranh, những cảnh đời và sự đổi thay của quê nhà. Mạch suy tư ấy hiện diện trong Chuyện của người phụ nữ cùng làng của Nguyễn Huy Hoàng; Thế là muộn, Nửa sau cuộc chiến tranh của Ngô Thanh Hoàn; Về quê của Ma Chương Khoa; Nhịp cầu La Tiến của Nguyễn Tuấn Mạnh; Khi người lính trở về, Em ở đâu, ơi người con gái năm xưa của Lê Tự Minh; Sáng mãi trời Hà Nội của Nguyễn Quốc Hùng; Hà Nội – mùa sấu chín của Trịnh Thu Thanh... Qua những thi phẩm này, trở về còn là gặp lại quê hương trong khoảng cách giữa ký ức và hiện tại, giữa điều hằng mong đợi và những gì đang diễn ra trước mắt. Tình yêu quê hương vì thế có thêm chiều sâu của sự thấu hiểu, của nỗi đau trước mất mát và niềm trăn trở về cuộc sống con người. Từ nỗi nhớ và niềm thương, một cách nhìn có trách nhiệm cũng dần hiện ra: trở về không chỉ để tìm lại điều thân thuộc, mà còn để lắng nghe và sẻ chia với những vui buồn, dâu bể của quê nhà.
Trong Thế là muộn, Ngô Thanh Hoàn để cảm thức lỡ làng lắng vào cảnh vật: “Thế là muộn ngày trở về bến cũ / Nơi dòng sông đánh mất thuở ban đầu / Con thuyền xưa gục chèo trên bãi cạn / Vạt dâu mềm, hoa muống trắng còn đâu.” (Thế là muộn – Ngô Thanh Hoàn, tr. 70–71). Lời thốt “thế là muộn” mở đầu đoạn thơ mang nỗi ngậm ngùi của người trở về khi những gì thân thuộc đã không còn nguyên vẹn. Dòng sông vẫn đó mà đã “đánh mất thuở ban đầu”, như quê hương không còn giữ được dáng vẻ trong ký ức. Đặc biệt, hình ảnh con thuyền “gục chèo” trên bãi cạn gợi một dáng nằm mỏi mệt, khiến cảnh vật cũng như mang tâm trạng con người. Vạt dâu, hoa muống trở lại trong câu hỏi “còn đâu”, càng làm rõ khoảng cách giữa niềm mong gặp lại và thực tại trước mắt. Nỗi tiếc nuối vì thế không chỉ dành cho cảnh vật, mà còn hướng vào một phần đời của người đi xa: trở về được bến cũ mà không thể tìm lại nguyên vẹn tuổi trẻ của mình.
Từ những suy tư về đời sống, người con xa xứ nhìn lại chính mình trong mối ân tình với quê hương. Nguyễn Huy Hoàng viết: “Con mang nợ với đường làng, ngõ xóm / Nơi cho con chập chững bước ban đầu” (Với mẹ – Nguyễn Huy Hoàng, tr. 143). Chữ “nợ” khiến những nơi chốn bình dị mang ý nghĩa ân tình. Đường làng, ngõ xóm từng đón bước chân thơ dại, chứng kiến người con khôn lớn, để rồi dù đi xa đến đâu vẫn gợi niềm biết ơn và mong muốn đáp đền. Với Hà Lê, những năm tháng xa nhà cũng dẫn đến một sự thấu hiểu: “Con đi mãi giữa nghìn trùng phố xá, / Đến quay về mới thấu hết yêu thương.” (Mẹ – Hà Lê, tr. 49). Nhịp thơ chuyển từ “đi mãi” sang “quay về”, từ khoảng cách “nghìn trùng” đến sự gần gũi của tình mẹ. Câu thơ gợi suy tư về một nhận thức đến sau nhiều trải nghiệm: càng đi xa, người con càng thấm thía những yêu thương đã âm thầm nuôi dưỡng mình. Hai đoạn thơ gặp nhau ở lòng biết ơn, đồng thời mở ra một chiều sâu trong tâm thức người xa xứ: hướng về quê hương cũng là tự nhìn lại cách mình đã sống với cội nguồn, với những ân tình đã nhận mà đôi khi chưa kịp đáp đền.
Từ hình ảnh con thuyền mắc cạn, hai chiếc cầu cũ – mới đến những phận người nơi làng quê, từ vết thương chiến tranh đến tình người giữa dịch bệnh, tuyển thơ cho thấy chiều sâu của tâm thức văn hóa Việt trong sự gắn bó với đời sống quê nhà. Nỗi nhớ và niềm tự hào hòa cùng niềm vui trước những đổi thay, nỗi đau trước mất mát và sự trăn trở về những cảnh đời còn nhiều nhọc nhằn. Qua đó, những người con xa xứ bộc lộ tình yêu quê hương tha thiết, giàu suy tư và mong muốn sẻ chia. Hướng về cội nguồn cũng là ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình với con người và cuộc sống trên mảnh đất đã sinh thành, nuôi dưỡng mình.
3. Qua 154 bài thơ của mười tác giả, Về cùng nước Việt của ta gợi mở một đời sống tinh thần phong phú, với nhiều cung bậc cảm xúc của những người Việt xa xứ. Ở đó, tâm thức văn hóa Việt hiện diện qua tiếng mẹ đẻ, cảnh sắc và hương vị quê nhà; qua tình cha mẹ, nghĩa bạn bè, nếp nhà và phong tục dân tộc; cả trong những suy tư trước mất mát, đổi thay và mong muốn trao truyền các giá trị cội nguồn cho thế hệ sau.
Dẫu chất lượng nghệ thuật của các thi phẩm trong tuyển tập chưa thật đồng đều. Bên cạnh những câu thơ có liên tưởng mới mẻ, giàu sức gợi, một số bài, đoạn thơ vẫn thiên về kể chuyện, ghi chép hoặc trực tiếp giãi bày những bài học sống. Tuy nhiên, điều đáng trân trọng là mười tác giả đã giúp bạn đọc hiểu thêm những trải nghiệm khác nhau về cuộc sống xa quê. Người tha thiết với hồi ức gia đình; người nặng lòng trước biến đổi làng quê và vết thương chiến tranh; người suy tư về cuộc mưu sinh; người trăn trở tìm cách nối con cháu với cội nguồn... Sự gặp gỡ giữa những giọng điệu ấy góp phần phác họa chân dung tinh thần nhiều chiều của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Qua đó, có thể nhận ra một ý nghĩa sâu xa của hành trình “về cùng nước Việt”: khoảng cách không gian và độ lùi thời gian giúp con người hiểu sâu hơn giá trị của những điều từng gần gũi đến mức tưởng như bình thường. Tình yêu nước Việt sâu đậm song hành với sự gắn bó cùng nước Nga và những vùng đất đã cưu mang mình; những tình cảm ấy không loại trừ nhau mà làm phong phú thêm đời sống tâm hồn người xa xứ.
Về cùng nước Việt của ta vì thế không chỉ lưu giữ ký ức, tình cảm và những suy tư của người con sống xa quê hương. Từ những câu chuyện riêng, tuyển thơ gợi lên sức bền của văn hóa trong đời sống: một lời ru còn được cất lên, một ân tình còn được ghi nhớ, một nỗi đau quê nhà còn khiến lòng người day dứt đều có thể nối dài mối gắn bó với cội nguồn. Ở chiều sâu ấy, văn hóa vừa là di sản được gìn giữ, vừa là nguồn lực tinh thần giúp con người hiểu mình, sống có nghĩa tình và rộng lòng, bao dung hơn với thế giới nhiều biến động hôm nay.