TIN TỨC
  • Truyện
  • Một ngày không xảy ra chuyện gì. Truyện ngắn của Wayne Karlin

Một ngày không xảy ra chuyện gì. Truyện ngắn của Wayne Karlin

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-09 20:35:52
mail facebook google pos stwis
857 lượt xem

Dịp kỷ niệm 50 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam, năm 2025, nhà văn Wayne Karlin ở tuổi tám mươi đã viết truyện rất ngắn “Một ngày không xảy ra chuyện gì”, đăng trên báo Washington Spectator với lời giãi bày: “Quãng thời gian tồi tệ nhất mà tôi phục vụ trong lực lượng lính thủy đánh bộ là thời tham chiến ở Việt Nam. Và thời gian đẹp đẽ nhất cũng chính là khi tôi tiếp tục kết nối với đất nước Việt Nam (kể từ sau chiến tranh)”.

Một ngày không xảy ra chuyện gì

Chúng tôi đi trên chiếc xe tải loại sáu tấn từ Kỳ Hà đến An Tân để tìm mua soda hoặc bia hoặc là để chịch choẹt. Một dãy hàng quán nhỏ mái lá, có những cái quán dựng tường ngăn bằng những lon bia đập dẹt ra lấy từ đống rác của lính Mỹ. Quán xá chạy thành hàng, dọc theo con đường đất đầy hố bom mìn, lơ lửng trên đó một đám bụi đỏ lưu cữu. Tôi đang đứng cùng mấy đồng đội lính thủy đánh bộ dưới bóng râm thưa thớt của một cây cau khẳng khiu, mua những chai soda nhem nhuốc trong giỏ của mấy cô bán hàng. Tôi trêu đùa con nhỏ chỉ mới tám tuổi, chắc là thế, gương mặt lem nhem bụi đất và nụ cười xinh. Con nhỏ muốn luyện tiếng Anh với tôi và tôi sửa phát âm cho nó: Không, phải nói là má mầy, không phải là mớ mầy. Một chiếc xe amtrack – cái tên mà lính thủy đánh bộ dùng để gọi loại xe bánh xích lội nước nặng ba mươi hai tấn, quân đội gọi là xe bọc thép chở lính – sầm sầm dừng lại ngay bên cạnh. Con nhỏ chạy tới nâng chiếc giỏ lên cao quá đầu trông như dâng đồ tế lễ cho những vị thần chiến tranh. Một gã lính rám nắng, trang phục lính và đội mũ sắt, mồ hôi chảy ròng ròng làm làn da bôi đầy bột đỏ mịn trở nên lỗ chỗ nhem nhuốc. Gã cúi xuống giật lấy chai nước từ tay con nhỏ, đập nắp chai vào mép thành xe, nốc cạn chai coca sủi bọt. Một trăm đồng, con nhỏ hét lên the thé. Một trăm đồng. Số tiền gã phải trả. Gã chằm chằm nhìn con nhỏ. Một trăm, con nhỏ hét lên. Gã ném cái chai vào nó, tức khắc và thật mạnh. Con nhỏ né sang bên và cái chai bay vèo qua đầu. Nó chống chân cho vững, quắc mắt nhìn lại gã. Chiếc áo nó mặc rách rưới chỉ còn có một cái cúc. Lồng ngực rướn lên. Một trăm đồng, nó khăng khăng đòi. Thôi đi đi, tôi nghĩ. Đi khỏi chỗ này đi, nhóc à. Chiếc xe lội nước lỗ chỗ vết đạn, méo mó, bánh xe đóng đầy bùn đất. Đám đàn ông trên xe chằm chằm ngó ra hoặc là với vẻ thờ ơ hoặc là ánh mắt hằm hằm điên dại. Gã lính thủy đánh bộ rút ra khẩu súng ngắn .45, lại vươn người qua thành xe, chĩa súng vào trán con nhỏ. Tôi không nhúc nhích. Một cảnh tượng: cô bé, tám hoặc chín tuổi hoặc có thể lớn hơn, chiếc xe lội nước, ba mươi hai tấn, gã lính thủy đánh bộ, khẩu colt .45. Đi đi, đồ chó da màu, gã quát. Má mầy, con nhỏ phát âm rõ ràng. Một trăm đồng. Gã lên đạn. Con nhỏ không nhúc nhích. Một trăm đồng, nó hét vào mặt gã. Đi đi, mau, gã nói, và dí súng lại gần nữa. Khẩu M-14 của tôi đung đưa, nòng chúc về phía trước nên có thể nâng súng lên ngay lập tức, và tôi dịch ngón tay về phía cò súng. Tôi nhớ cảm giác ướt át trơn nhẫy của cò súng qua làn da ngón tay. Tôi cũng cảm thấy ngón tay của gã nọ đang ép vào cò súng khi mà, hoặc là bởi vì, ngón tay tôi cũng đang ép vào cò súng của mình. Đôi tay con nhỏ bóp chặt vào chiếc giỏ, mắt không rời gã lính nọ. Tôi hiểu con nhỏ thà chết chứ không bỏ đi. Tôi hiểu lũ chúng tôi sẽ thua trong cuộc chiến này. Điều đó dễ nhận thấy như thể ai đó đã nói vào tai tôi. Chúng ta sẽ thua trận. Vớ vẩn thiệt, một giọng nói mệt mỏi đặc sệt thổ âm miền Nam Mỹ vang lên từ trên xe, và một chú lính gầy gò vươn người ra ngoài ném xuống đất tờ giấy bạc một trăm đồng. Tờ giấy bạc lất phất cạnh chân con nhỏ. Nó không nhìn xuống tờ giấy bạc. Gã lính kia lắc đầu ghê tởm, khịt mũi, rút khẩu súng về. Con nhỏ vẫn đứng yên tại chỗ. Lát sau, nó cúi xuống nhặt tiền. Tôi quay đi, trở lại với đám bạn.

Đó là một ngày vô sự.

Tìm và diệt

Đang dở thức dở ngủ thì bàn chân bị chích nhói như kim châm, y bèn đá mạnh. Chân chạm vào vật gì âm ấm và lông lá. Y bật ngồi dậy, giấc ngủ tan biến nhanh như nước rút. “Cứt”, Joshua chửi và cố ngủ lại.

Y ở trong một lán trại thuộc căn cứ không quân Ngũ Hành Sơn cùng mười người khác, Dưới mái lán treo một tấm dù và trong phòng trải rơm, có liếp ngăn và các giá gỗ. Tất cả đều là tự làm lấy.

Cho tới tháng trước, lán được che bằng vải bạt và hầu như nóng không chịu nổi. Mái tôn mới đã làm cho trong phòng mát hơn rất nhiều. “Nhưng bây giờ ở đây lại có chuột”, Joshua bảo Rodriguez.

“Đúng thế”, Rodriguez nói, “mà hình như mưa nhiều hơn kể từ khi lũ da trắng chúng mày phát minh ra cái thứ mái tôn này”.

“Chuột nữa”, Sam lắc đầu nói. Gã đang nằm trên giường đọc một cuốn  sách bìa mềm. “Lạy chúa tôi, cả chuột nữa”.

“Sợ gì chuột”, Torenelli bảo.

Rốt cuộc thì tất cả đều sợ.

Ít nhất là mỗi đêm một lần có kẻ choàng dậy khi cảm thấy có một vật nho nhỏ nong nóng trên giường. Lũ chuột thường thích tấn công vào bàn chân hơn cả – vào hai miếng thịt trần phơi lộ trong đêm. Có kẻ như Sam không thể nào ngủ tiếp sau khi cảm thấy có chuột. Gã đã bắt đầu thiếp đi, nhưng rồi trong đầu xuất hiện hình ảnh con vật đang gặm mũi và mắt Sam, đang chạy ngang nền nhà với một miếng thịt mặt của gã đung đưa ở mõm nó. Hình ảnh ấy làm Sam tỉnh dậy. Thế là Sam chuyển sang ngủ trong tình thế nằm co để che của quý, giống như một người đang chuẩn bị chiến đấu.

Ban đêm thường xuyên có tiếng rúc rích. Tiếng động xộc vào đầu đám người và họ nằm lắng nghe, cảm thấy mồ hôi ở lưng thấm ướt tấm võng bạt. Cả bọn thường thấy những dấu chân nhỏ lỗ chỗ của lũ chuột khi chúng chạy trên tấm vải dù treo trên đầu. Đám người ném bất cứ vật gì vào những dấu chân ấy nhưng lũ chuột chạy quá nhanh.

Thực sự là phải tới khi Torenelli bị giết thì việc giết chuột mới trở thành điều ám ảnh. Đêm trước đó, y quật mạnh vào tiếng chạy rào rào ở tấm lụa phía trên đầu rồi dùng súng bắn thủng mấy lỗ trên mái lán. Y sẽ bị lôi ra tòa án binh nếu như ngày hôm sau không lĩnh trọn một băng đạn xé toang ngực trong một trận đánh.

Lũ chuột trở thành những viên đạn mà đám lính bay phải tránh. Họ bắt đầu gọi chúng là Việt cộng.

Đêm đến họ nằm chờ. Khi ai đó cảm thấy hoặc nghe thấy tiếng chuột, anh ta sẽ hét lên “Cộng”, và Perez bật đèn. Họ điên cuồng lao theo con vật, lật tung giường võng, lục lọi túi đồ. Đúng là một cảnh tượng tức cười về lũ cớm Keystone, chỉ trừ nỗi căm tức và sợ hãi trong mắt đám lính thủy đánh bộ.

Trong buổi xem phim hàng tuần họ không còn cười nữa trước cảnh những con chuột nhỏ trong phim hoạt hình. Họ chằm chằm nhìn lũ chuột bằng cặp mắt mất ngủ và thù địch, rồi nhìn những ai đang cười như thể đó là một lũ ngốc.

Có lần Perez gần như đã tóm được một con chuột. Anh ta rượt theo nó với một cái xiên nhặt được ở Khe Sanh. Cười như điên, anh dồn con chuột vào góc và cố dùng cái xiên để đâm, một trò chơi trận giả tay đôi. Con vật đột ngột chồm đứng trên hai chân sau, thu cặp môi như cao su mỏng lại để lộ những chiếc răng nhọn dữ dằn. Mắt nó lồi ra với vẻ căm thù cuồng dại. Perez sững lại, ngừng đâm trong một giây. Con chuột lập tức nhảy biến vào cái hốc vô hình nào đó.

Vào cái ngày mà cuộc săn tìm rốt cuộc đã thành công, họ giết được mười một con chuột.

Chuyện xảy ra ngay sau khi Perez và Billings bị hất khỏi không trung trong khi tiếp viện bổ sung cho đồi 55. Một băng đạn súng trường cắm vào sườn trực thăng một lỗ thủng lớn, nhưng họ đã đậu được xuống đất mà không ai bị sây sát.

Đêm ấy tất cả ngồi vòng quanh, nói cả núi chuyện về việc đưa chiếc trực thăng bị trúng đạn xuống chỗ đậu. Vẻ sùng mộ, Perez cảm ơn cái băng đạn đã không làm nổ bình ga. “Mẹ nó, cám ơn nó đã không nổ”, anh ta cầu nguyện, “mẹ cha nó”. Toàn bộ điều đó chỉ có nghĩa là anh và người giữ súng trên trực thăng, Billings, có rất ít thời gian để lẩm bẩm. Anh ta đang lắc lắc đầu thì tất cả nghe một tiếng ré lên, cắt ngang lời cầu nguyện. “Cộng”, Perez kêu, mặt đanh lại.

Một cái bóng nâu mượt lao ngang phòng, và cả bọn hò hét lao theo. Họ ngạc nhiêu vì hầu như ngay lập tức tóm được con chuột. Nó đứng trên hai chân sau trong một cái góc không thể nào trốn thoát. Và rít lên the thé.

Sam là người đầu tiên biết vì sao con chuột lại bị tóm bắt dễ dàng như thế. Anh ta nghe một tiếng động nhẹ ở góc lán đối diện và đi tới xem sao. Billings nhìn thấy bèn đi theo. “Mẹ kiếp”, anh ta kêu lên cuồng nhiệt và đắc thắng, “Nó mới đẻ. Nó đang muốn xua bọn ta đi”.

Có mười con tất cả, hồng hồng và chưa mở mắt, những cẳng chân mò mẫm bám lấy nhau.

Billings lấy một đoạn dây đồng dài rồi quỳ xuống đâm xuyên qua cái cổ họng nhỏ đang phập phồng của mỗi con chuột. Tiếng rên nho nhỏ của chúng tắt dần khi sợi dây xé rách da thịt, cho tới lúc chỉ còn nghe tiếng rít của con chuột mẹ.

Billings reo lên, khua khua cái xâu chuột con đang chết trước mắt con chuột mẹ. Rồi y xách chúng ra ngoài, ném cả đống vẫn còn co giật vào cái thùng nước to ngay bên ngoài cửa lán. Gương mặt y bừng lên và căng thẳng.

Donner, gã trai to con trầm lặng vùng Kansas, quật gậy vào con chuột mẹ. Nó vẫn tiếp tục rít lên the thé, mắt hướng về phía thùng nước ở bên ngoài. Perez chộp lấy một cái túi vải bạt rồi chụp xuống con chuột hoảng loạn. Những người còn lại đứng xem xung quanh. Anh ta nhấc chiếc túi lên, mang ra thùng nước bên ngoài, nắm lấy đáy túi giũ cho con chuột mẹ rơi xuống nước. Lũ chuột con lủng lẳng trên hai đầu dây căng bên mép thùng, rồi những cái xác nổi trên mặt nước, ngay bên cạnh con chuột mẹ. Nó vẫn còn sống, còn đang bơi như điên dại.

Perez bắt đầu dùng một thanh gỗ dúi đầu nó xuống. Anh ta giữ cho nó chìm mỗi lúc một lâu hơn, nhưng mỗi lần nhấc lên thì nó vẫn sống và vẫn vật lộn với cái chết. Anh ta chửi thề.

Donner vào trong lán, lấy ra một cái bình thuốc khử mùi. Đợi tới khi Perez để cho đầu con chuột nổi lên trên mặt nước, anh ta bèn phun thuốc qua chiếc bật lửa đang cháy. Một luồng lửa phụt ra – một khẩu súng phun lửa nhỏ. Lông trên đầu con chuột bắt đầu cháy, để lại một lớp da hồng lạ lùng nhanh chóng chuyển sang màu đen, rồi quăn queo như tờ giấy bị đốt cháy. Cặp mắt nó như hai cái hạt màu đen long lanh biến thành hai con mắt nhỏ mù lòa, rồi sau đó thành than. Hầu như cả bọn có thể nhìn thấy máu con chuột sôi lên. Nó vẫn còn sống.

Perez và Donner xem ra bắt đầu hoảng sợ. “Chết đi, đồ khốn kiếp”, Perez chửi trong hơi thở. Những người còn lại yên lặng nhìn. Cả Perez và Donner đều toát mồ hôi. Họ dìm con chuột lâu không thể tưởng tượng được, nhưng nó cứ tiếp tục nổi lên, cái mặt bị cháy nổi lên bên cạnh đàn con đã chết. Mồm nó há ra rồi ngậm lại, hút đầy buồng phổi cả bầu không khí và lửa.

Sau một hồi lâu nó chết.

Perez và Donner đứng đó một lát nhìn cái xác lềnh bềnh nhè nhẹ. Mồm hai đứa há hốc, trông chúng hao gầy và kiệt sức. Những đứa khác lặng lẽ rút vào trong lán.

Cuộc bầu cử

Đã từng có chó trong đội trực thăng ở Ngũ Hành Sơn. Vẫn thường có cả một đàn lảng vảng xung quanh căn cứ. Chúng lẻn vào từ quốc lộ và từ những mái lều dọc bên đường như những ổ rơm bẩn thỉu. Chó ở Việt Nam da bọc xương và đói khát nhưng cặp mắt và cách cư xử thì như bất cứ một giống chó nào. Chúng sẽ nhìn trách móc nếu không được anh cho ăn, sẽ đái vào lán của anh hoặc trại của đại tá, sẽ làm tất cả những gì khiến cho chó trở nên hấp dẫn đối với người Mỹ.

Mấy con trở nên đặc biệt. Thì nuôi.

Đội trực thăng có ba con. Một của đơn vị phụ trách động cơ, một của thợ cơ khí và một của đơn vị lính chiến cơ động. Mỗi con chó có một người chăm, nhưng chó thì của tất cả. Tung tăng xung quanh bãi bay. Nhìn ngó những tổ lái đi hoạt động về. Hòa nhập với lối sống của con người. Bị chửi rủi. Bị bẹo tai và đá đít. Bạn biết đấy, chó với người Mỹ mà.

Cả thảy có ba con chó, vậy là:

Đơn vị cơ khí: một con chó vàng lông mượt tên là Grease.

Đơn vị lính chiến: con Herbert, đốm đen đốm trắng với ba cái răng.

Đơn vị động cơ: một con chó to kềnh lạ lùng, thuộc giống lai boxer và setter, tên là Kỳ. Nó có thói quen đánh rắm trong hàng quân.

Có con cho phép người ngoài vỗ nhẹ vào đầu. Còn tất cả đều nhận thức ăn của bất cứ ai và hoàn toàn có ý thức chủ quyền đối với khu vực của riêng mình. Điều đó làm chúng nhiều lần bị đá đít và gây ra nhiều cuộc cắn lộn.

Lệnh đưa tới:

Nơi gửi:

Nơi nhận:

Nội dung: Ở đây quá nhiều chó mà tôi có nhiệm vụ phải làm một số việc. Nói cho cùng thì tôi là chỉ huy căn cứ này, căn cứ thật thiếu vệ sinh, và dù sao đi nữa chúng ta tới đây là để đánh để giết. Các bạn sẽ thực thi công vụ tốt hơn nếu mỗi đội trực thăng chỉ có một con chó.

Số còn lại phải đem bắn.

Chào thân ái.

America.

Vậy là họ phải bắn đi hai con chó.

Viên chỉ huy quyết định tổ chức bầu cử. “Trước tiên chúng ta hãy xếp hàng và làm việc đó một cách dân chủ”.

“Toàn đơn vị, tập h-ợ-p!”

Con Kỳ đánh rắm. Anh chàng Torenelli cũng vậy.

Những người chăm nuôi ôm chó trong tay. Lũ chó quằn quại cố nhảy xuống tấm vải bay nhưng bị giữ chặt. Chúng đang được một dịp thú vị.

Nền dân chủ khởi động. Viên chỉ huy đang ngồi ký bằng khen không quân trong trại chỉ huy, vì vậy viên hạ sĩ đọc lệnh. Một buổi lễ đầy ấn tượng.

Nếu được nhìn toàn bộ buổi lễ từ trên không, như trung úy Deleon đang nhìn vào chính lúc ấy từ trực thăng, thì sẽ thấy buổi lễ thực sự đầy ấn tượng. Căn cứ ở bên dưới giống như một đốt ngón tay bằng sắt của nắm đấm Hoa Kỳ, những hàng quân ngay ngắn viền theo dải cát ướt.

Nhìn kìa. Đầu tiên là đại dương (thực ra là biển Đông), màu xanh ngọc lam lấp lánh, ở giữa điểm xuyết những khoảng xanh lá cây thẫm. Bên cạnh biển và tương phản đến giật mình là một cồn cát lớn, trắng mờ nằm giữa hai dãy núi (một là Ngũ Hành Sơn, bên kia và núi Sơn Trà). Giữa dải cát, một khu trại gồm những dãy lán và nhà mái tôn, những ô vuông rào sắt lớn làm cho con đường và những đường băng bí mật mất hút vào trong cát. Chính giữa tất cả lẽ ra là trung tâm của một quần thể công nghiệp - quân sự, thì thực sự chỉ là nhà ăn tập thể.

Ở cái ô vuông sắt lớn nhất là hàng dãy trực thăng màu xanh dàn rộng. UH3D, CH46, UH1E. Còn ở khoảng giữa những chiếc trực thăng và một dãy lán trại, trung úy Deleon nhìn thấy một đội hình người đang đứng, rất hợp với khung cảnh chung. Những hàng người màu xanh lá cây đang tập trung, những anh chàng ngon trai và sạch sẽ tạo nên một trật tự quanh mình. Ba người trong số họ đang ôm chó. Một con trong số đó vẫn đang đánh rắm.

Mỗi người giữ chó phải diễn thuyết chút ít về con chó của mình. Vậy là, từng người một, họ ôm chó, đứng ra trước hàng quân đang nhìn chòng chọc để mọi người quyết định.

“Ờ”, họ lúng túng nói, “đây là một con chó khôn”.

“Đây là một con chó khôn”.

“Đây là một con chó khôn”.

Lũ chó nhìn đám người và chống chọi để thoát ra, sủa vui vẻ, muốn được chạy chơi quanh những cặp chân rắn chắc màu xanh giống như một cánh rừng. Thế rồi có người bảo họ nên đưa lũ chó đi nơi khác trong khi diễn ra cuộc bầu cử.

Được thôi.

Kỳ thắng cử. Ngay cả khi có một số người không bỏ phiếu.

Họ mang hai con kia ra đằng sau khu lán trại của bãi bay rồi găm mấy viên đạn vào đầu chúng. Sau đó họ quẳng chúng ra đống rác và hỏa thiêu.

Hồ Anh Thái dịch/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm