TIN TỨC

Nén hương cho một người cô độc - Tùy bút Nguyễn Hồng Lam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-28 22:30:01
mail facebook google pos stwis
481 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.

 

Đại tá, nhà văn Nguyễn Quốc Trung


Huyền thoại Daghestan, thi hào Rasul Gamzatovich Gamzatov có mấy câu mà tôi rất thích:

“Ai là người lắm lời hơn cả?
Cô gái già không có người yêu.
Ai là người nói nhiều hơn cả?
Nhà văn vô danh, luống tuổi, viết nhiều”…

Đại tá, nhà văn Nguyễn Quốc Trung không vô danh. Ông, chính xác là tác phẩm của ông, rất nổi tiếng, mà ông thì không hẳn. Nhưng ông không hề biết mà cũng không cần biết. Bạn bè, độc giả thương quý ông, cả trong đời sống lẫn trong trang viết đều rất đông. Nhưng ông không quảng giao và luôn rất kiệm ngôn.

Tác phẩm của nhà văn suốt đời áo lính ấy, tôi đọc gần hết. Đến trước năm 2000, ông vẫn viết rất nhanh. Và viết nhiều. Toàn những cuốn tiểu thuyết, truyện, ký dày dặn: Thời chúng mình yêu nhau (1989), Biên giới (1982), Người đàn bà hồn nhiên (1996), Cú điện thoại lúc quá nửa đêm, Đứa con người lái đò (1992), Bên rừng thốt nốt (1984), Người đàn bà khóc mướn (1990), Tháng chạp của đời người, Đêm trừ tịch (1998)...

Năm 1974, mới 18 tuổi, ông đã rời quê vào quân ngũ, thuộc Sư đoàn 341 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam. Hòa bình chưa lâu, chiến tranh lại kéo ông sang đất bạn Campuchia, chiến đấu và cầm bút, sau đó về học khóa III Trường viết văn Nguyễn Du, rồi quay lại chiến trường K trong vai trò phóng viên báo Quân đoàn 4. Và cuối cùng, ông trụ lại rất lâu ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Phải thừa nhận, ông viết rất sâu về chiến tranh, nhất là với cuộc chiến biên giới Tây Nam. Khác với những nhà văn áo lính khác, chiến tranh trong tác phẩm của ông thường hiện ra trong những góc riêng, góc khuất dịu sâu đau đớn. Đó là tiếng thét câm lặng vọt ra từ lồng ngực hơn là đùng đoàng bom rơi đạn nổ. Ông viết về mảnh đất nào, viết về cái gì người ta cũng đọc ra tác giả là người xứ Nghệ. Ông viết về lửa khói chiến tranh dưới tán thốt nốt đất bạn Campuchia mà người đọc như tôi vẫn cứ hình dung ra chái bếp lợp lá cọ tỏa khói dưới những nhánh cọ bên vùng trung du Hương Sơn, Hà Tĩnh quê ông...

Tôi ấn tượng nhất với ông là cuốn "Người đàn bà khóc mướn" (1990), cuốn đầu tiên của ông mà tôi đọc. Đọc đi, đọc lại, ám ảnh. Nó riêng quá, độc đáo quá, dịu dàng, giằng xé và đau đớn đến nghẹt thở. Nó hình thành nên một cốt cách văn chương không giống ai. Phải là một con người đau đáu với quê hương, với ám thị tuổi thơ, với hắt hiu phận người vừa trung du, vừa chiêm trũng của thập niên 60 -70 thế kỷ trước mới có thể vắt tuổi mình mà viết ra được thế... Tôi đọc khi mới học năm thứ hai đại học. Và nhớ đến tận giờ. Cũng vì những trang viết đầy ám thị đó mà tôi phải tìm đọc cho bằng hết tác phẩm của ông.

Cùng một khoảng thời gian, Việt Nam có mấy tác phẩm văn chương tự hiện đầy tài hoa mà tôi không quên được. Đó là "Nỗi buồn chiến tranh" (Bảo Ninh), "Hồi ức làng Che" (Nguyễn Đức Thọ), "Bước qua lời nguyền" (Tạ Duy Anh) và "Người đàn bà khóc mướn" (Nguyễn Quốc Trung). Họ viết không hề giống bất kỳ cuốn nào, tác giả nào trước đó. Họ viết cho chính họ. Họ viết không mưu cầu, chỉ tuôn trào những đau đớn và ẩn ức từ trái tim vỡ vụn...

Đó là điều mà khi chập chững cầm bút tôi nhận ra, ám ảnh, dù không cắt nghĩa được.

Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.

Xa lạ với chữ tranh đua, hiển nhiên ông không mưu cầu thành bại. Tâm hồn mẫn cảm của một người cầm bút chỉ chất đầy những đau buồn mất mát của kiếp người. Cả trong chất liệu sáng tạo lẫn đời sống, ông, chính ông đã tự hóa một thực tại folklore trôi lạc giữa dòng văn chương đương đại. Nhà văn chỉ viết cho chính mình. Viết chỉ để viết, để giải tỏa, chữ nghĩa bật ra, vỡ tung từ tận tâm can.

Trang viết giàu ma mị, ám thị, cứ thế tuôn trào. Bạn bè, người đọc nghĩ về ông, đau đớn cùng ông với bao nhiêu thương quý. Nhưng ngoài trang viết, cơ hồ ông cũng chẳng biết mình có ai là bạn. Đến và đi, sống và viết, ông lặng lẽ. Tự chính nhà văn đã thừa đủ thành nguyên mẫu và chất liệu cho một cuốn tiểu thuyết về thân phận con người hay một cuộc chiến dai dẳng giữa thời bình nhưng ông không hề biết. Lòng ông chất đầy phế tích. Hồi ức cũ luôn đau đớn dằn vặt nhưng dù có muốn, ông cũng không thể một lần quay trở lại.

Sau này, tôi tham gia làm tờ Văn hóa văn nghệ Công an từ khi nó chưa ra đời (từ tháng 11 - 1995). Nhà văn Nguyễn Quốc Trung là một trong những cộng tác viên đầu tiên. Ông hay ghé tòa soạn. Chỉ nói chuyện bài vở, trang viết, tuyệt không luận bàn thêm điều gì khác, chẳng chơi, chẳng chuyện trò cà kê dê ngỗng. Ông đến bất ngờ, lặng lẽ, rồi ra về cũng lặng lẽ, bất ngờ. Gặp ở nơi khác, ông vẫn thế. Ông chưa bao giờ cười đùa, không mấy khi để ai nghe tiếng. Ông như cái bóng đổ dài dưới ánh đèn nhà bao người khác.

Mãi sau này tôi mới hiểu. Từ 1989, nhà văn nặng lòng với quê hương Nguyễn Quốc Trung chỉ sống ở Sài Gòn, một mình, không gia đình. Đời ông vận vào số ly hương và cô độc. Tuy nhiên, ông vẫn chăm bẵm, lo lắng cho hai con gái mình đến nơi đến chốn, thành đạt. Tác phẩm của ông cũng là những hồi ức cô độc, gần như thoát ly hẳn với thời sự và để tài của những cái chung.

Điều duy nhất tôi biết về ông là sự cần mẫn, kỹ lưỡng đến kinh ngạc với trang viết. Thỉnh thoảng đang hồi thời sự nóng bỏng của vụ việc gì đó, tôi lại thấy ông đến tận nơi tìm. Có khi ông xin kết luận điều tra hay cáo trạng vụ án nào đó, lúc lại nhờ tìm giúp hình ảnh. Tôi lạ, anh có viết báo vụ việc đâu, cần những thứ đó làm gì? Ông bảo: "Ừ, anh không viết báo. Anh cần biết cho chắc chắn. Bây giờ chưa viết, mai mốt viết sợ không tìm được. Không sống thật với thực tại, mai sau chẳng có gì đáng để gọi là quá khứ…".

Quả đúng thế, ông chỉ cẩn trọng chứ chẳng chạy đua, chẳng đeo bám thời sự bao giờ. Ông sống bằng ký ức, viết bằng nỗi u hoài và tiếc nuối. Ông không mưu cầu điều gì, hình như mối quan tâm của ông không phải là tương lai. Ông chỉ chuẩn bị từ hiện tại để tương lại giàu thêm quá khứ. Tất nhiên, cũng chỉ để giàu thêm cho trang viết. Với đời riêng,nhà văn Nguyễn Quốc Trung chẳng trù liệu, vun quén chút gì. Và vì thế, trong mắt không ít người, ông có phần lập dị. Chỉ khi bàn vào ngưỡng văn chương, ông mới thật là ông. Vẫn nhẹ nhàng, ngắn gọn, không ồn ào, nhưng quyết liệt và không hề khoan nhượng.

Đời ông, như tôi biết, không hề đua chen, biệt bóng cả cơn giận lẫn nụ cười, già hơn tuổi. Sang thế kỷ XXI, ông viết ít hơn. Là ít với chính ông, nhưng vẫn sung sức chán so với bạn văn cùng thời cùng tuổi. Tác phẩm của ông vẫn đều đặn trình làng, với “Trong tiết thanh minh”, “Đêm trừ tịch”, “Người đến từ nước Mỹ”, “Cô gái tính nhảy cầu Rạch Miễu”. Gần đây nhất, trước đại dịch, ông còn cho ra mắt tiểu thuyết “Dòng sông bên chùa” (2019).

Phong cách và hình dung về ông thì vẫn thế. Hai mươi năm trước, ông gầy gò, khắc khổ, không cau có nhưng mặt vẫn đăm chiêu. Hai mươi năm sau vẫn đăm chiêu khắc khổ y như cũ. Mà không già đi. Mà người như ông, văn chương đau đớn riêng như ông, già thêm vào đâu được nữa?

Cùng ở Sài Gòn, nhưng tôi chỉ biết ông vướng Covid, phải nhập viện qua chia sẻ của nhà văn Nguyễn Quang Thiều trên trang cá nhân vào ngày 31-8. Dịch dã, chẳng ai thăm ai được. Vài ngày trước, nhà báo Nguyễn Thiêm, con trai nhà văn Nguyễn Khắc Trường, một người yêu quý nhà văn Nguyễn Quốc Trung như em ruột có điện thoại hỏi thăm. Ông bảo: “Chú khỏe hơn rồi, sắp ra viện”. Thế rồi, bữa nay mùng 10-9, bỗng nghe ông về cõi tiêu diêu. Nhà văn khắc khổ ra đi trong cô độc. (Sau Covid, tro cốt Đại tá Nhà văn Nguyễn Quốc Trung, được vợ con rước về hương khói tại gia đình, sau đó được an táng tại Hương Sơn, Hà Tỉnh. Gần nửa thế kỷ làm thân lữ thứ, cuối cùng ông cũng an lành nằm lại với đất quê).

Anh đi thanh thản, anh Trung nhé. Rồi mấy tài hoa cũng đã lặng lẽ đi xong một kiếp con người. Chỉ thương anh, ngày về cát bụi không gia đình mà cũng không nốt cả "Những người đàn bà khóc mướn". Chỉ một thôi cũng không. Kiếp lai sinh không khói hương và tiếng khóc, ắt hẳn cũng là một kiểu gọi tên khác của nỗi buồn...



TP Hồ Chí Minh, ngày 10-9-2021.

N.H.L 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm