TIN TỨC

Nhà thơ Nguyễn Văn Song và sự kiến tạo thi giới trong “Mẹ và sen”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-03-19 22:12:46
mail facebook google pos stwis
6883 lượt xem

Thầy giáo, nhà thơ Nguyễn Văn Song đến với thơ có thể nói là khá muộn so với tuổi .  Nhưng đã trở thành một tác gia có tiếng trên văn đàn với những giải thưởng cao quý của các cuộc thi lớn. Và rất quen với bạn yêu thơ khi thường xuyên xuất hiện trên các trang báo và tạp chí từ trung ương đến địa phương.

Anh là người điềm đạm, nghiêm cẩn và không thích phô trương. Nên khi tôi có ý định xin phép anh liệt kê giải thưởng “khoe” với bạn đọc niềm tự hào của người cầm bút, anh đã từ chối. Dù đoán trước được điều này nhưng tôi vẫn cảm thấy hụt hẫng. Anh bảo với tôi anh  muốn  để người đọc thẩm định chất lượng tập thơ một cách tự nhiên nhất. Vì anh không theo đuổi thi nghiệp, mà chỉ viết để giải tỏa cảm xúc của mình, đơn giản vậy thôi. Có lẽ đó là lý do đầu năm 2022 anh quyết định in cùng lúc hai tập thơ là ” Đi từ phía cổng làng” và ”Mẹ và Sen” như một lời tri ân gửi đến người mẹ yêu dấu (cũng là độc giả đầu tiên của thơ anh) đã qua đời vào tháng 7 năm 2020, đồng thời cũng là một món quà nhỏ gửi đến những người bạn văn chương cùng độc giả của mình.

Nhà thơ Nguyễn Văn Song

Khi biết ý định này của anh tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì ba năm anh  cầm bút thì hai năm tôi đã được chiêm cảm những thi phẩm rất hay của anh nên tôi vẫn luôn mong anh ra tập thơ đầu tay. nên khi nghe tên tập ”Đi từ phía cổng làng” thì tôi đã rất hài lòng. Nhưng khi biết tập sau anh chỉ chọn những bài về mẹ và sen để in thì tôi thật sự lo. Bởi không nói thì có lẽ ai cũng biết là thời nay lục bát không còn được ưa chuộng như xưa nữa, thậm chí một số bạn thơ của tôi còn không muốn viết lục bát. Họ chê là cũ và mòn, nhạc điệu du dương dễ gây buồn ngủ… Nên việc in một tập thơ lục bát cũng khiến rất nhiều tác giả đau đầu và không muốn mạo hiểm. Đa phần họ chỉ xuất bản nhiều thể thơ với nhau để tránh nhàm chán cho người đọc. Những tập lục bát đã xuất bản mà tôi được biết đều ngồn ngộn thi ảnh, đa tứ, đa sắc lắm biểu trưng, mà đôi khi đọc lại còn thấy thiếu một điều gì đó, nữa là một tập thơ hơn chín mươi phần trăm là lục bát, lại  chỉ có mẹ và sen, chỉ viết về sen và mẹ? Nghĩ vậy nhưng tôi không dám nói ra, bởi so với anh tôi chỉ là một kẻ non nớt, mới cầm bút tập làm thơ nên sợ mang tiếng  dạy tiều phu cầm rìu.

Tuy băn khoăn nhưng tôi vẫn tin vào sự lựa chọn của anh và hy vọng mình sai. Sau một thời gian chờ đợi thì tôi cũng nhận được hai thi phẩm anh gửi tặng. Tôi không băn khoăn gì về tập ”Đi từ phía cổng làng’’ bởi tập này thi ảnh khá nhiều, mà thi ngữ của anh thì luôn tròn sáng như trăng rằm,  nên tập này sẽ ổn. Vì vậy tôi đọc ”Mẹ và Sen ” trước. Thật may, tôi đã đoán sai. Tuy địa hạt trong thi giới  này chỉ có mẹ và sen, nhưng bằng tài năng và bản lĩnh của mình, nhà thơ Nguyễn Văn Song đã biến hóa ra rất nhiều thi tứ . Rồi thăng hoa và tỏa rộng  hai thi ảnh ấy thành những cảnh trí và biểu trưng khác nhau, khiến cho thế giới trong thơ anh cũng đa tầng rộn ảnh chẳng kém những tác phẩm khác. Anh sử dụng thủ pháp đồng hiện ẩn ngữ |(trong sen là mẹ, trong mẹ là sen, trong cả hai là làng, là mọi người, là cuộc sống) nên đã tránh được sự đơn điệu cho tập thơ. Mặt khác, khi cầm bút, anh luôn là người tận hiến và tu dưỡng ý thức nghiêm cẩn , rèn luyện cho thi cốt thi cách được viên mãn. Nên mỗi con chữ là một sự cân nhắc, mỗi bài thơ đều là kết quả của sự miệt mài lao động trong đam mê nên đạt được giá trị thẩm mỹ cao.

Mở đầu tập thơ , thật ngạc nhiên là không phải bài về mẹ, cũng chẳng phải bài về sen mà lại là bài viết về làng. Cứ tưởng như phi logic nhưng lại rất hợp lý. Bởi cả mẹ và sen đều ở trong làng, từ làng mà có. Và ngược lại, trong mẹ và sen là ẩn tàng một phần vía hồn làng. Đây là bài thơ duy nhất viết về làng mà tôi nghĩ là  sự sắp đặt tế vi của tác giả. Bởi vì sau đó làng đã tỏa bóng mình sang bóng của mẹ và sen, vô hình mà hiện hữu trong toàn tập rồi, nên không cần nhắc đến nữa, mà người đọc vẫn thụ cảm được những mạch chảy của làng. Đó là một ngôi làng như bao ngôi làng khác, có hồ sen, có triền đê và tiếng ếch cốm đêm mưa . Cũng  rơm rạ ngập đường, nhưng vẫn mang nét riêng vì nó là nơi nhà thơ ” giấc trưa trốn mẹ ra đồng/ bao năm rồi vẫn phải lòng mùi hương”, ”đêm đông giá buốt ngập trời / ổ rơm thơm thảo quyện hơi mẹ nằm” . Điều này không thể có ở nơi nào khác ngoài cố hương của thi sỹ. Để rồi; “đời tôi bao chuyến đò ngang/ Vẫn đau đáu một cõi làng nơi xa/ chiều nay trở lại quê nhà/ bao nhiêu sợi tóc chợt òa mây bay” (Làng). Chẳng cần tinh ý lắm, chúng ta đã thấy hiện sinh trong làng rõ nét hình ảnh của mẹ và sen. Nếu không có hai hình ảnh này níu giữ, đồng hóa với làng, thì dễ gì khi đi xa lòng anh ” vẫn đau đáu một cõi làng nơi xa”?

Nhớ làng để hữu hình ảnh mẹ:

”Mẹ xé mình, vặn vỡ thoát thai con

Cả trời đất cuồng quay , cả thiên hà tao tác

Bỏ quên mạng mình giữa đôi bờ sống thác

Rạng rỡ ngắm con, mặt trời nhỏ tươi hồng”

Người mẹ lúc này đâu chỉ là của một mình thi nhân, đâu chỉ ở riêng một mảnh làng bé nhỏ nữa, mà đã thoát bay khỏi cái tư hữu, trở thành biểu tượng chung của người mẹ  nông thôn Việt Nam. VÌ khi có con người đàn bà nào cũng trở nên vĩ đại:

‘’Đôi tay mẹ đủ mười đốm chai tròn

Mười khối đá trước bão giông nắng lửa

Bàn chân trần ngược xuôi sấp ngửa

Chạy cơn mưa rào vấp tóe máu đồng xa”

(Mẹ)

Nhưng con còn bé sao hiểu được nỗi cô đơn và sự kiệt lực, đức hy sinh của mẹ;

‘’Mùa đông lội xuống đồng làng

Mẹ gầy sương đổ bóng càng thêm xiêu

Cá rô rét cóng kho niêu

Con đâu biết mẹ mấy chiều tái tê”

(Mùa đông của mẹ)

”Mẹ ngồi sàng nhũng đêm dài

Sẩy từng câu hát thức ngoài thềm sương

Đàn cò gánh gạo canh trường

Mẹ ta đổ bóng trên tường mòn đêm”’

(Đàn cò của Mẹ)

Đọc xong những dòng thơ này mấy ai không xoắn lòng luyến nhớ đến mẹ mình? Dường như tác giả đang kéo giãn niềm thương trong từng máu tim, cốt tuỷ bản thân vào thơ để người đọc quán chiếu lại tâm thức mình, mà cùng anh ngậm ngùi hoài nhớ về mẹ. Từ đó đã thụ cảm và đồng hòa được với những nỗi đau của người mẹ khác. Ví như nỗi đau của người mẹ mù:

”À ơi! Đời mẹ là đêm

Dò đi một bước tủi thêm kiếp tàn

Khát tìm trong cõi nhân gian

Một tia nắng ấm hong tan mưa dầm”

(Lời ru của người mẹ mù)

Và sự cô đơn của người đàn bà đơn thân:

’’Đi trong đêm

Tay tự nắm tay mình thủ thỉ

-Chẳng còn xa

Trò chuyện với bóng đổ dài

Đường hun hút gió”

(Đơn thân)

Hay sự ẩn ức tuyệt vọng của người mẹ già trong cơn sốt đất của những đứa con

“Nhà cao tầng mọc ngút trời

Mẹ ngồi bốn phía tường vôi thẫn thờ

Năm phần đổi chủ lặng tờ

Khoảng sân mẹ đứng phạc phờ bão giông

 

Trông con cả một đời ròng

Mẹ chờ rời khỏi đất không phần mình”

Cứ tưởng người mẹ mù này đã khổ lắm rồi, nhưng vẫn còn một người đàn bà sáng mắt khổ hơn . Vì con bà ấy ‘’Nghiệt oan một chyến đi đường/ Con thành đứa trẻ bất thường , ngây thơ… Không đi đứng, chẳng ngồi bò/ Thể như cây cỏ dần khô lá cành’’

Nên:

‘’Bây giờ con tuổi bốn mươi

Mẹ gần tám chục nghẹn lời ru xưa

Lời ru ít nắng nhiều mưa

Thiếu mây thiếu gió mà thừa bão giông’’

Tôi có cảm giác khi viết những dòng này trái tim tác giả cũng bi thiết, tê điếng cùng nhân vật. Những con chữ như run lên  làm người đọc cũng rưng rức theo.

Rõ ràng hình người mẹ ngay từ đầu và đến bây giờ không phải là một thi ảnh hẹp nông nghĩa nữa . Mà càng ngày càng được mở rộng hơn. Mẹ là mẹ của anh, mẹ là mẹ của người khác.  Và bây giờ thì mẹ đã vượt thoát thế giới thơ sang thế giới thực với những câu chuyện trái ngang trầm thống thường nhật. Thi giới đang được mở rộng, dẫu vẫn không xuất hiện thêm một biểu trưng hay một khách thể mới nào.

nhưng dù thế nào đi nữa thì mẹ cũng trở về với bản nguyên của mình, là bùn nuôi sen;

lặng thầm gạn lọc tanh hôi

chắt chiu nồng đượm dâng lời ngát hương

sen hồng phả gió muôn phương

hết mùa thân xác lại nương về bùn”

(Bùn)

Tài hoa thay, khi nhà thơ còn khai mở thêm cho thi ảnh mẹ của mình một tầng nghia mới nữa:

”Có một đẵn lưng cong

Mỗi sống đốt đo cả nghìn năm tuổi

Mà gánh bắc gánh nam đi suốt dọc dài …

Tấm lưng gầy vết cứa loét quanh năm

….

Chiều nay thêm một lần vặn đốt

Để sau siêu bão lại dịu hiền dáng mẹ ngàn năm’

(Tấm lưng mẹ)

Bài này anh viết khi miền trung đang phải chịu những cơn siêu lụt, đi đâu cũng găp cảnh’’những ai ở nhà khăn tang trắng chít chồng thêm trắng”. Và thi ảnh mẹ ở đây đã được linh hóa, trở thành đất nước. Tấm lưng xước trầy chịt chằng vết thương chính là miền trung thân yêu, gánh hai đầu nam bắc.

Chúng ta đã thấy, bằng sự điêu luyện trong việc thi triển ngôn từ kết hợp với các biện pháp tu từ nghệ thuật , nhà thơ Nguyễn Văn Song đã xây dựng và triển đạt được hình tượng người mẹ diện đa tầng đa nghĩa, mang đầy tính triết mỹ. Đồng thời đã gợi mở

được mạch nguồn yêu thương và khơi dẫn cho thi giới của mình đa âm đa sắc đa sự . chiếu hiện vào lòng người đọc những âm ba thi cảm khó quên. Và nối tiếp lưu lộ cảm dưỡng này , thi ảnh sen cũng được thi nhân khai thác triển đạt không kém phần ấn tượng.

Đầu tiên , sen là chính sen với :

‘’Cánh thơm xòe ngón ngọc ngà

Nhụy vàng gom nắng đậm đà hương trinh

Lá buông phiến lụa dệt xanh

Sắc hương cho vẹn ân tình sợi tơ’’

(Tơ sen)

Ngay từ những câu tưởng như chỉ đơn thuần miêu tả vẻ đẹp khiết tinh của sen , chúng ta đã thấy hiển hiện chút gì đó của mẹ. Khi sen gom nắng dệt ‘’sắc hương cho vẹn ân tình sợi tơ’’ , chu đáo và công tâm như cách người mẹ lo cho bầy con bé dại của mình. Đến bài ” Một lá sen qua đời ‘’ thì mẹ và sen đã là một bản thể đồng hiện:

‘’Vắt cạn thân thảo mộc

Dâng đến tàn xương khô

Sáng nay trong mưa buốt

Chiếc  lá gục bên hồ

Tôi ngồi bên hồ vắng

Giữa mây chiều mồ côi’’

Ngoài ra, sen còn là tình yêu đơn phương trầm lặng thanh quý của người thơ muốn tận hiến tất cả cho người mình yêu. Nhưng vì một nguyên nhân nào đó mà anh chưa ngỏ , để rồi ‘’ càng đượm càng nhanh chạm kiếp tàn’’:

‘’Ta khóc sen tàn hay khóc em

Tình thơ một nụ khép lòng im

Hay ta ngồi khóc ta ngây dại“

Nỡ để sen khô lặng lẽ chìm’’

(Uống rượu cùng sen)

Đồng thời cũng là hóa thân của người yêu thi nhân:

“Gót sen em một ngẩn ngơ

Ngó sen em một dại khờ tinh khôi

Tơ sen em bỏ ngang trời

Níu tôi suốt cả một đời vương mang

 

Niềm sen gieo cõi nhân gian

Tinh khôi giữa những đa đoan nổi chìm

Tôi ngồi đây với lặng im

Lắng nghe sen rỏ vào tim giọt trầm “

(Giọt sen|)

Mỗi một bộ phận của sen là một sắc thái biểu cảm khác nhau, nhưng đều là hình ảnh của người yêu nhân vật “tôi”. Cả hai khổ thơ đều  là sen, tràn đầy sen, chật kín sen. Nhưng không vì vậy mà gây cảm giác nhàm chán. Đây chính là tài dụng ngôn của tác giả.

Mặt khác, sen còn là hiện thân của một số phận mệnh bạc, hưởng dương ngắn ngủi, trượt chân gửi xác bên hồ nước :

‘’Đêm qua một bông sen trắng

Say trăng lịm thiếp trong hồ

Hồn thoát bay đi với gió

Bỏ từng xác cánh bơ vơ

Hồ thu bập bềnh cánh sáng

Trắng loang cay khói sương mờ

Trăng lên rùng mình inbóng

Một người tóc đợi phơ phơ’’

(Sen trắng)

Không chỉ vậy, sen còn là sức mạnh nội tại tâm linh của mỗi cá nhân, là nơi con người tìm về khi nhiễu tâm loạn tưởng, mệt đau mà thiền định , bình ổn hồn trí, để vượt thoát ‘’rũ buồn trôi về xa lắc’’ và ‘’chỉ còn hương ngát mênh mang:

‘’Còn bao nhiêu niềm phiền muộn

Sen phong kín giữa gương vàng

Để khi em choàng tỉnh giấc

Chỉ còn hương ngát mênh mang’’

(Giấc sen)

Thật bất ngờ và thú vị khi đọc những dòng như:

‘’Có gì nhắn nhủ sen ơi

Màu hoa hay sắc máu người chưa khô

Hay hồn oan khuất ngày xưa

Thành sen nhị sắc bây giờ ngát hương?

Ngắm sen lòng dạ bồi hồi

Thấy trong nhị sắc nụ cười Ức Trai’’

(Sen nhị sắc)

Đúng là sự lo lắng ban đầu cho ”Mẹ và Sen’’ của tôi đã là quá dư thừa rồi. Tôi quên mất anh là người rất kỹ tính và viết chậm. Mỗi bài thơ từ khi ý tưởng thành hình đến khi được hoàn tất anh phải mất cả tuần, có khi cả tháng, thậm chí có bài cả năm hun đúc, hàm dưỡng tứ tư từ trong lòng bởi  anh ghét sự cẩu thả chín ép.  Nên khi hứng đến thì thơ thăng hoa rất tự nhiên, mạnh mẽ, lời tinh ý sáng. Thành ra trên con đường lục bát dễ viết khó hay, không chắc tay sẽ thành vè, xưa nay đã in dấu chân của bao vị tiền nhân nổi tiếng, đã vang khá nhiều tên tuổi cùng thời đại, mà nhà thơ Nguyễn Văn Song vẫn tạo được nét riêng của mình, là vì thế. Tôi lại nhớ đến những tranh cãi cũ mới trên diễn đàn văn chương mà mình được xem, vô tình nghe và tình cờ biết qua bạn bè. Rất nhiều tác giả trẻ không hiểu được khái niệm thế nào là thơ cũ. Họ cho rằng thơ cũ là lục bát và quay đi, lao đầu vào trường phái mà họ tin rằng mới nhất thời đại. Đó là viết thơ tân hình thức. Nhưng họ lại không biết tìm mới thi ảnh, lạ hóa nội dung. Thế là họ chứng tỏ mình mới bằng cách bẻ què chữ , chặt  gãy câu, cưỡng ép ngữ… nhiều khi chính họ cũng chẳng biết mình đang hướng đến cái  gì, càng khó diễn nghĩa chữ mình viết ra.

Bàn về trường phái này, nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm từng viết: “Về nội dung, thơ theo khuynh hướng tân hình thức không có gì mới, không có gì đặc biệt, nếu không nói là cũ, dễ dãi, nhàm chán.. Họ tạo ra cái mới, tạo ra cái lạ, thu hút người đọc bằng cách bẻ què câu thơ, bẻ gãy câu thơ để không giống ai. Đáng lẽ bảy chữ, tám chữ câu thơ trọn vẹn ý, họ viết năm chữ, sáu chữ một dòng trên còn bẻ hai chữ, ba chữ xuống dòng dưới. Nó vừa vô nghĩa, vừa ngây ngô, vừa cẩu thả. Cách làm này không hề làm tăng giá trị thẩm mỹ, giá trị nội dung của thơ. Trái lại, nó hoàn toàn lộ diện một kiểu thơ nhạt nhẽo, mang tính giải trí là chính. Nó chứng minh sự bất lực của tư duy sáng tạo. Các cây bút theo xu hướng này đang trốn mình khỏi sự truy lùng gắt gao của sự đòi hỏi tài năng đích thực, tìm tòi đích thực, mang lại giá trị mỹ học đich thực đối với thi pháp học đương đại. Và thực tế, dù được một số người cổ súy, đến nay, khuynh hướng thơ Tân hình thức biểu hiện hụt hơi, thiếu sức sống, đang tự chết…’’

Vậy thì thể thơ mới hay cũ đâu phải là vấn đề to lớn của thi ca. Và tôi nhận ra, sở dĩ lục bát thời nay ít được đón nhận hơn không phải vì nó cũ, mà vì nhiều cây bút cứ đi theo lối mòn, không có sự tế vi tinh nhạy, hàm dưỡng ngôn từ, sáng tạo thi ảnh và vượt qua cái bóng của mình. Nên tác phẩm chưa làm hài lòng độc giả. Hãy đọc ’’ Mẹ  và Sen” để thấy được sự dụng công, tài hoa và bản lĩnh của tác giả. Tuy rằng chỉ có hai hình tượng, nhưng đã xối trộn ôm trùm lạ hóa và linh hóa, mở rộng thi giới. Điều đó khiến không gian ấy của anh không kém địa hạt chữ rộng thi tứ nhiều thi ảnh của các tác giả khác. Mỗi bài thơ là mẹ và sen lại hóa thân vào những vai trò và vị trí khác nhau, bổ khuyết và làm đầy thi giới mới nghe cứ tưởng rất đơn điệu này. Từ người mẹ ‘’vặn vỡ thoát thai con‘’ trong gia đình, mà dẫn gợi ra bao nhiêu nỗi niềm đàn bà, cũng là những câu chuyện cuộc đời, đã neo được vào lòng độc giả sự đồng cảm, luyến nhớ. Mỗi bộ phận, mỗi màu sắc  của sen là một ý nghĩa khác nhau, làm người đọc đi từ bất ngờ này sang ngạc nhiên khác. Biết đâu sau khi đọc xong ’’Mẹ và Sen’’ của nhà thơ Nguyễn Văn Song, độc giả mỗi khi đi qua đầm sen, nhìn lá sen họ liền nghĩ đến mẹ:

“Cánh buồm căng ngực bão

Nâng từng búp non tơ

Chở che muôn cánh trắng

Như lòng mẹ vô bờ”

(Một lá sen qua đời)

Và trông thấy sen trắng, lại nhớ về những linh hồn thân hữu đã ra đi? Khi sen khô lại hồi tưởng đến mối tình dang dở, còn sen vàng mang khuôn mặt người xưa. Hoặc thoảng gặp bông sen nhị sắc ‘’nửa bông trắng muốt như ngà/ nửa bông ứa đỏ như là máu loang’’ lại nhớ đến nỗi oan thấu trời của ngài Ức Trai thì sao? Điều đó thật thú vị, và dễ xảy ra lắm chứ!

VŨ TUYẾT NHUNG

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm