TIN TỨC

Người giữ hồn nem Thủ Đức

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-01 21:11:56
mail facebook google pos stwis
4946 lượt xem

TRẦM HƯƠNG

Cuối năm 2005, từ Mỹ, bà Jeanne Anna Villarial (thường được gọi là Jeannette, tên thân mật là Nết) về Việt Nam với ước nguyện cuối đời: đưa hài cốt người mình yêu thương trở về nơi bà chọn lựa sẽ là chốn yên nghĩ vĩnh hằng của chính bà. Bà cười buồn nói “Tôi chỉ có quê mà không có nước”. “Thưa bà, tại sao?”. Bà cười buồn: “Cho đến bây giờ tôi cũng không biết mình là người nước nào nữa. Tôi là người Việt lai Philippine nhưng mang quốc tịch Pháp, rồi sau đó là Mỹ. Tôi xin hồi hương nhưng Nhà nước Việt Nam không chấp nhận vì tôi không hề có được giấy khai sinh ở Việt Nam dù mở mắt ra, rôi đã nhìn thấy ngọn dừa, ao rau muống. Nhưng rõ ràng tôi có một miền quê. Bà ngoại tôi là người khai sinh ra thương hiệu “nem Thủ Đức”. Tôi ngỡ ngàng hỏi lại: “Tức là bà tổ làm nem?”. Bà Jeannette nói: “Tôi không rõ chữ “Tổ” cô nói theo nghĩa gì, tôi chỉ biết qua chuyện kể của bà ngoại, nhờ ông gác nhíp ga xe lửa mà bà ngoại tôi đã sáng chế ra món nem, làm nên thương hiệu nem Thiên Lợi Thành. Hồi đó, người Sài Gòn tới Thủ Đức là đến Thiên Lợi Thành ăn nem. Tôi bị cuốn vào câu chuyện kể về cuộc đời kỳ lạ của một người chỉ có quê mà không có “Tổ quốc”. Rồi suốt 10 năm ròng rã, câu chuyện cuộc đời Jeannette được viết ra. Năm 2016, tiểu thuyết "Trong cơn lốc xoáy" được trao gải A cuộc thi viết đề tài chiến tranh cách mạng và kháng chiến (giai đoạn 1930 -1975) do Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật trao tặng 2015, Giải thưởng Hội Nhà văn 2016, giải thưởng văn học nghệ thuật Năm năm lần thứ 2 mà Jeannette là nguyên mẫu nhân vật chính, xuyến suốt, là chứng nhân, xâu chuỗi những sự kiện lịch sử đất nước gần trọn một thế kỷ. Dấu ấn Thủ Đức nơi Jeannette mở mắt chào đời in đậm trong ký ức bà...
 

Jeannette sinh năm 1927, tại Thủ Đức. Ảnh thời thiếu nữ

Con gái bà bán nem trở thành tiểu thư cành vàng lá ngọc

Mẹ bà người Việt. Cha bà người Philippine. Cha mẹ lấy nhau không có hôn thú. Bà được sinh ra nhưng không có giấy khai sinh. Mới 7 ngày tuổi, cô bé Jeannette được vợ chồng người cô ruột đưa về Nông-pênh nuôi dưỡng. Cha nuôi Jeannette là một quan chức cao cấp người Pháp phụ trách xuất nhập khẩu Đông Dương. Năm lên bảy, Jeannette được ông ta nhận làm con nuôi. Bà đã trải qua một thời thơ ấu trong nhung lụa. Bà kể: “Tôi vô tư lớn lên trong vòng tay bảo bọc của cha mẹ nuôi mà không hay rằng đất nước đang nung nấu khát vọng độc lập tự do. Cứ đến ngày Trung thu, ngày tết dương lịch, tôi mặc áo đầm trắng, xách giõ kết hoa đựng đầy tiền lẻ ném vào những đứa trẻ nhà nghèo. Nhìn những đứa trẻ chạy theo luợm tiền, giành giật, đánh nhau đến sứt đầu mẻ trán tôi cười lên nắc nẻ. Bảy tuổi, tôi được mẹ nuôi đưa về thăm quê ở Thủ Đức. Chừng ấy, tôi mới biết mình có mẹ ruột, có người anh ghẻ lở hom hem tên Louis, có người chị gái cũng mang tên Tây như tôi. Tôi mới biết bà ngoại mình là người làm nên hiệu nem Thiên Lợi Thành nổi tiếng...”. Nhưng tuổi thơ nhung lụa của Net sớm kết thúc, khi người cha nuôi đột ngột nhận được lá thư của gia đình từ Pháp. Đó là lá thư buộc ông về nhận tài sản khi người cha quá cố. Cha nuôi đi rồi, mẹ nuôi linh cảm ông sẽ không bao giờ quay về, bèn bán dãy phố ở Tân Định lên Đà Lạt mua đất xây  biệt thự cho thuê, lấy tiền sinh sống. Vì hận người chồng đầu tiên bội bạc, mẹ nuôi cũng không làm hôn thú với cha nuôi. Jeannette bị từ chối nhận vào trường “Bà Phước Con Chim”- một trường học danh tiếng ở Đà Lạt. Học một trường Tây ít danh giá hơn nhưng kỹ luật vô cùng khắt khe, cứng nhắc, vốn  bản tính tinh nghịch, táo bạo, Net bị đuổi học. Người mẹ nuôi đột ngột qua đời, Jeannette về sống với cha mẹ ruột nhưng cô thấy mình cô đơn, lạc lõng vì nhận ra sự nhẫn tâm ngay từ chính những người thân trong gia đình mình. Cô mất phương hướng, chông chênh...

Năm 2006, Jeannette từ Mỹ  thăm  bà Sáu Khỏe thợ lạng da cho hiệu nem Thủ Đức.

Trong cơn lốc xoáy

Năm 1943, Nhật đảo chính Pháp. Tình hình Sài Gòn vô cùng hỗn loạn. Các giáo phái, băng đảng mọc lên như nấm dại sau mưa. Đang là một nữ sinh nội trú trọ học ở Sài Gòn, nhận được hung tin cả gia đình bị quân Bình Xuyên bắt giữ, Jeannette về thăm nhà ở Thủ Đức. Vừa bước vào cửa, một “thủ lĩnh” Bình Xuyên nắm tay cô kéo đi. Jeannette hiểu ra mọi việc. Vì muốn chiếm đoạt cô mà vị “thủ lĩnh” này bắt cả gia đình để cô phải lộ mặt. May mắn thay, đi cùng cô lúc đó là Tô Đức Chiêu- một người Đại Hàn làm mật thám cho Nhật đứng ra nhận Jeannette và vợ, yêu cầu anh ta phải trả tự do cho cô. Cũng nhờ Tô Đức Chiêu, cả gia đình Jeannette được thả. Nhưng cũng từ đó, Jeannette phải cắn răng làm vợ một người mình không hề yêu thương. Cô gái mới 18 tuổi quá thơ ngây, không hay mình thoát khoải một ổ nhện này lại rơi vào hang hùm khác. Tô Đức Chiêu vốn là một sĩ quan Nhật, có mối quan hệ thân thiết với những tổ chức thân Nhật của người Việt. Jeannette không hay rằng trong số người thường xuyên đến nhà cô có một thanh niên cao lớn, đẹp trai là người của tổ chức cách mạng đóng vai thầy giáo dạy kèm cho một nữ thủ lĩnh thân Nhật. Trong vai trò thuộc hạ tin cậy của vị nữ thủ lĩnh ấy, Vạn nắm được tin tức, tình hình hoạt động của Tô Đức Chiêu, cung cấp cho cách mạng. Khi Nhật hoàng đầu hàng vì 2 quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Nagasaki và Hirosima, Tô Đức Chiêu bị Pháp bắt vào tù, giữa lúc Jeannette vào bệnh viện sinh đứa con đầu lòng. Con chết, Jeannette buồn tủi, mỏi mòn trông chồng vào thăm. Cô vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy “cậu Sáu Vạn”- người thường hay liên hệ với Tô Đức Chiêu xuất hiện, an ủi cô, cho hay chồng cô đã bị bắt. Sự an ủi, chăm sóc của ông Vạn đã làm sống dậy những giá trị tốt đẹp, sôi nổi của Jeannette. Họ yêu nhau nồng nàn, mãnh liệt đến mức có lúc quên đi hoàn cảnh của mỗi người. Đó là những năm tháng ngắn ngủi, đẹp nhất của đời họ. Cho đến lúc ấ, Jeannette mới biết “cậu Sáu” là Việt Minh, là “những tên khủng bố, cuồng tín” mà người cha nuôi người Pháp của cô thường lên án, nguyền rũa với tất cả lòng căm ghét. Nhưng sự xả thân, sự dũng cảm, sự hy sinh quên mình của “cậu Sáu” đã làm tan biến mọi ý nghĩ áp đặt từng hằn sâu trong Jeannette. Qua “cậu Sáu” mà Jeannette biết được sự cao cả của lý tưởng cách mạng, nhờ “cậu Sáu” nắm tay bước đi mà Jeannette dám dấn thân vào những công việc nguy hiểm. Một dân Tây với tên gọi Jeanne Anna Villarial lại là tổ viên phụ trách Pháp vận tại Gia Định và giác ngộ quân đội Lê Dương mang vũ khí về cho cách mạng trong những ngày đầu kháng chiến. Đó cũng là những năm tháng đầy ắp kỷ niệm trong trái tim Jeannette. Khi tìm gặp tôi để kể về cuộc đời mình, ở tuổi 80 mà gương mặt bà vẫn rạng ngời hạnh phúc nhớ đến một kỷ niệm theo suốt đời bà, bất chấp cát bụi thời gian: “Tôi binh vận được mấy tên lính Tây để mua súng đạn từ thành Ô-ma. Tôi và ông Vạn đứng bên ngoài hứng, bên trong tụi lính liệng súng, đạn ra. Vừa lúc đó có chiếc xe chở sĩ quan rọi đèn sáng lóa tiến tới chúng tôi. Tôi run bắn người, nghĩ sắp chết tới nơi. Bọn chỉ huy mà bắt được chúng tôi mua vũ khí cho Việt Minh thì chỉ có con đường chết. Thật không ngờ, ông Vạn nhanh trí ôm lấy tôi hôn thắm thiết. Mấy thằng Tây sĩ quan thấy vậy vỗ tay cổ động, reo cười ầm ĩ: “Ô la la, Việt Nam hôn nhau tụi bây ơi, quả là chuyện lạ!”. Chiếc xe lao đi, chúng tôi chìm vào bóng tối, thoát chết mà cứ ngỡ ngàng, thầm hỏi sao ông Vạn nhanh trí như vậy?”. Nhưng những tháng ngày hạnh phúc của bà và ông Vạn chỉ là khoảnh khắc trong kiếp người dằng dặc những biến động, bi kịch, khổ đau. Năm 1947, ông Vạn bị Pháp bắt, bị đày ra Côn Đảo. Không có ông Vạn bên cạnh, Jeannette cô đơn cùng cực, gia đình ghẻ lạnh vì một dân Tây mà đi làm Việt Minh, theo họ là hành vi bôi nhọ danh dự gia đình. Nhưng tính mạng ông Vạn là điều làm Jeannette lo lắng hơn tất cả. Cô  chạy vạy khắp nơi, tìm luật sư, tìm những người có thế lực để ông Vạn được thả ra. Để có tiền lo lót cho một tên sĩ quan, Jeannette nhắm mắt xuôi tay làm người tình một nhà xuất nhập khẩu thuốc Tây nổi tiếngSài Gòn thời đó. Nhưng tên sĩ quan chỉ muốn chiếm đoạt trái tim Jeannette và đánh bài ngữa: “Nếu tôi nhận tiền của cô, tôi sẽ thả anh ta ra. Vậy là cô và anh ta sẽ có nhau. Không bao giờ. Tôi chỉ muốn anh ta chết gục trong tù! Đó là ý muốn của tôi, ý muốn của Chúa!”. “Không bao giờ ông đạt được ý muốn đó!”. Jeannette gào lên căm phẫn, bỏ đi.

 Kể từ đó, năm 1947, Jeannette mất liên lạc với chi đội 12. Cuộc đời bà rẻ sang một hướng khác, lấy chồng, sinh con rồi năm 1975, bà ra nước ngoài sinh sống. Nhưng sâu thẳm trong trái tim bà vẫn nguyên vẹn tình yêu với “cậu Sáu Vạn” năm xưa, dù sau khi ở tù Côn Đảo về, ông chỉ còn là một nắm xương biết đi; dù ông Vạn sau đó vì bảo vệ hạnh phúc cho bà, lặng lẽ làm một cái bóng đi bên cạnh cuộc đời bà. Vì tình yêu ấy mà bà vẫn giữ được lòng trung kiên với cách mạng, vẫn tích cực giúp đỡ thuốc men và tiền của cho cách mạng cho đến ngày giải phóng.

Giữ hồn nem Thủ Đức

Kỳ lạ thay, người phụ nữ mang 2 quốc tịch Pháp và Mỹ, nói và viết tiếng Việt không trôi chảy bằng tiếng Pháp, đã hơn 30 năm rời xa quê vẫn đau đáu nỗi niềm được trở về Việt Nam sống những năm cuối đời; vẫn giữ kín bí quyết làm nem Thủ Đức trong từng chiếc lá dông của quá khứ. Ngày nay, hậu duệ của tiệm nem Thiên Lợi Thành ở Thủ Đức chỉ còn mình bà Jeannette là nắm giữ bí quyết làm nem. Nghề làm nem đã giúp bà chèo chống, trụ lại xứ người, nuôi con cái học hành thành đạt. Những chiếc nem làm cầu nối gắn bà với quê, dù không thể mang được quốc tịch Việt. Bà tiết lộ: “Với tôi bà ngoại không chết. Khi gói những chiếc nem, tôi luôn nhớ đến bà ngoại. Bà là người đầu tiên làm ra món nem Thủ Đức!”. Tôi ngỡ ngàng trước sự tiết lộ của bà, bởi hàng ngày ăn nem Thủ Đức mà mấy ai hỏi nem Thủ Đức ra đời như thế nào. Theo lời bà Jeannette kể, gần ga xe lửa Thủ Đức những năm đầu thế kỷ 19 có một người phụ nữ goá chồng sớm, dựng quán cóc ven đường, tần tảo nuôi đàn con 6 đứa thơ dại. Bà tên là Nguyễn Thị Kỳ nhưng vì có mái tóc quăn nên thường được gọi là Tư Quăn. Thường ghé quán bà Tư Quăn có ông “gác nhíp” xe lửa. Một hôm, bà Tư Quăn cầm trên tay miếng thịt heo tươi rói, định vô bếp nấu nướng cho khách, ông gác nhíp đang ngồi chờ đồ nhậu suýt xoa: “Thịt ngon quá, bà sắt cho tôi một dĩa, cứ để sống, kèm món chuối chát, khế nhậu chơi”. Bà Tư Quăn trợn tròn mắt hỏi lại: “Thịt sống như vầy mà ăn cái gì. Ông này ăn uống thiệt là dị hợm”. Ông gác nhíp nói: “Bà không biết chớ thịt sống nhậu bắc lắm, chỉ cần thêm củ tỏi, vài trái ớt, chút giấm”. Bà Tư Quăn không mấy hào hứng với cách nhậu thịt sống này nhưng chiều khách, bà đề nghị: “Thôi, để tôi quết thịt cho nhuyễn, thêm chút ớt, tiêu tỏi bán mùi chắc dễ nhậu hơn”. Nói là làm, chỉ vài phút sau, bà đã dọn lên dĩa thịt tươi bắt mắt, có rau sống đi kèm. Ông gác nhíp vừa lấy rau gói thịt, chấm nước mấm, khen tấm tắc. Thấy khách khen ngon, bà cũng thấy vui trong bụng, thầm nghĩ: “Món thịt quết nghuyễn này chắc ngon hơn nếu như mình trộn thêm chút muối, nước mắm, thêm tỏi. À, còn mấy miếng da, mình sắt nhuyễn trộn vô luôn...”. Nói là làm; lại thấy cây dông sau nhà ra lá xanh mơn mởn, bà hái xuống lau bụi, tiện tay vắt từng nắm thịt gói kín để ủ trong tô, đậy kín. Quần quật công việc buôn bán, bà Tư Quăn quên phứt món thịt quết nhuyễn. Ba ngày sau, bà chợt nghe mùi thơm nức mũi từ cái tô để trong chạn bếp. Bà mở ra, ăn thử một miếng, thấy thơm ngon khác thường, mừng quá, kêu mọi người cùng nếm. Ai đã nếm một lần cũng chép miệng khen ngon. Vậy là bà Tư Quăn đặt món ăn mới của mình là Nem. Từ hôm đó, quán bà Tư Quăn tấp nập khách tới đòi ăn nem. Khách đông, bà Tư Quăn chế thêm nhiều món nữa. Thịt quết nhuyễn gói trong lá dông để ba ngày sau thành nem sống; muốn ăn liền đem chiên lên nóng sốt thành nem chiên; thêm trứng chiên lên thành ốp-lết nem... Nhờ món nem, việc buôn bán của bà Tư Quăn ngày càng phát đạt. Từ quán lá ven đường bên ga xe lửa, bà cất thêm tòa nhà ngói, rồi sau này là nhà lầu, đến đời con gái bà phát triển thành nhà hàng, khách sạn; dẫu có bán thêm nhiều món ăn nhưng món nem vẫn là chủ đạo. Nhà hàng Thiên Lợi Thành ra đời từ những chiếc nem bé xíu, xinh xinh. Thấy bà Tư Quăn làm ăn phát đạt, nhiều người dân ở Thủ Đức đến học làm nem, cũng mở quán bán buôn nhưng hiệu nem Thiên Lợi Thành của bà Tư Quăn vẫn ngon nhất, đắt khách nhất. Dần dần, nem Thủ Đức trở thành món đặc sản ở ngoại thành Sài Gòn. Năm tháng trôi đi, ông già gác nhíp xe lửa không còn, bà Tư Quăn cũng mất, con cháu bà cũng kế nghiệp làm nem nhưng dòng chảy thời cuộc khiến họ ly tán, rời Thủ Đức ra nước ngoài sinh sống. Dù mang hai quốc tịch Pháp và Mỹ, chứa đựng trong lòng đầy ắp nỗi đau đời riêng khó giãy bày nhưng bà Jeannette vẫn đau đáu ý tưởng phục hồi thương hiệu nem Thủ Đức nổi tiếng một thời. Bà nói: “Rất may mẹ tôi truyền lại công thức làm nem cho tôi trước khi bà lú lẫn rồi qua đời. Trong gia tộc, chỉ mình tôi là biết công thức này”. Bà có ý tưởng kêu gọi các nhà đầu tư cùng bà lập trang trại nuôi heo theo cách của người xưa, không có thuốc tăng trọng, chỉ cho thức ăn thuần cám, rau để có thịt ngon, mềm, dẽo. Món nem Thủ Đức chỉ ngon khi làm từ thứ thịt heo này. Xa quê mấy mươi năm, về Thủ Đức ăn nem, lòng bà Jeannette quặn đau, bởi vị nem bây giờ không ngon, quá ngọt và khác xa ngày trước. Bà tin nếu làm đúng với công thức bí truyền từ bà Tư Quăn, thương hiệu nem Thủ Đức sẽ phục hồi và bay xa khỏi biên giới Tổ quốc. Bà tin một ngày nào đó món Nem Thủ Đức sẽ được đặt trang trọng trong các nhà hàng cao sang trên thế giới, làm vinh danh quê hương Thủ Đức của bà.

Ngày 26.11.2016, Jeannette vĩnh viễn ra đi. Tang lễ bà sẽ được tổ chức vào ngày thứ hai, 29.11.1916 tại Nhà thờ Hàng Xanh, quận Bình Thạnh, theo di nguyện của bà. Sinh thời, bà mong ước được sống những ngày cuối cùng ở Việt Nam và khi chết đã đạt được ước nguyện. Bà từng làm tôi nhói lòng với câu nói: "Tôi là một ngoại kiều chớ không được là Việt Kiều. Tôi có quê mà không có Tổ quốc dù sinh ra ở Thủ Đức, mới mở mắt chào đời đã nhìn thấy ruộng ao muốn, đọt dừa xanh". Linh cảm thời gian không đợi ai, tôi đã nỗ lực hoàn thành, in ấn và ra mắt bộ tiểu thuyết "Trong cơn lốc xoáy" vào tháng 5 năm 2016. Đài truyền hình Việt Nam cũng đã thực hiện bộ phim :Trở về mái nhà xưa" do Bùi Đình Dương làm đạo diễn phát sóng những ngày gần đây. Bà ra đi nhưng tôi tin những giọt nước mắt trĩu nặng thân phận của bà thấm vào những trang giấy, thấu cảm đến những thế hệ hôm sau.

Tác giả và nhân vật Jeannette năm 2006, tại Sài Gòn

Từ trái sang: Nhà văn Trầm Hương, Trịnh Rồng (cháu ngoại Jeannette), Jeannette trong buổi ra mắt bộ tiểu thuyết "Trong cơn lốc xoáy", năm 2016.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm