TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Những cống hiến, hy sinh của người lính đánh đổi để có hoà bình, phát triển kinh tế đất nước

Những cống hiến, hy sinh của người lính đánh đổi để có hoà bình, phát triển kinh tế đất nước

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-08 17:03:51
mail facebook google pos stwis
1835 lượt xem

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN ĐỨC HẢI
Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Quốc phòng/BQP

Tại phiên khai mạc Đại hội XIII của Đảng ngày 26/1/2021, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đó là khát vọng của độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc. Khát vọng của hoà bình, hội nhập, sánh vai với các cường quốc năm châu trong xu thế phát triển của thời đại. Đó là cả một chặng đường đầy chông gai, thử thách trải qua hơn bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, mà bao thế hệ người Việt Nam thân yêu kiên cường chống chọi với thù trong, giặc ngoài, thiên tai, bão tố… Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam đoàn kết vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật, thực dân Pháp và chế độ phong kiến giành chính quyền. Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời; nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do, dân chủ.

Vừa giành được độc lập, tự do sau gần một thế kỷ bị ngoại bang đô hộ. Nhân dân Việt Nam thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng lại quê hương, đất nước. Nhưng thực dân Pháp rắp tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “… chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…”. Với đường lối kháng chiến “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính. Dân tộc Việt Nam tiến hành chiến tranh nhân dân với lực lượng vũ trang làm nòng cốt, vừa tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược, vừa phải đánh bại bọn can thiệp Mỹ; cả nước bước vào cuộc trường chinh đầy hy sinh ác liệt. Trong số đó phải kể đến những người lính cụ Hồ xông pha nơi trận tuyến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Hễ còn một tên xâm lược thì ta còn chiến đấu quét sạch nó đi”. Tiến bước dưới quân kỳ, Quân đội Nhân dân Việt Nam “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” đã anh dũng chiến đấu ngoan cường, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Ra đi từ người lính quần nâu, áo vải, dép cao su, nhưng với lời thề son sắt “Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi; ra đi, ra đi thà chết chớ lui”. Những đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nghiêm trang mà thề dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật – Pháp và bọn việt gian phản quốc làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ, ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới” (1). Chí khí cách mạng, lòng kiên trung yêu nước, thương dân, bản lĩnh chính trị dám xả thân vì nghĩa lớn với ý chí không thể gì lay chuyển “Bao giờ cũng kiên quyết chiến đấu, dù gian lao khổ sở cũng không phàn nàn, vào sống ra chết cũng không sờn chí, khi ra trận quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước” (2) và “… nếu bị quân địch bắt được thì dù cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp giải phóng của toàn dân, không bao giờ cung khai phản bội” (3). Được Đảng và Bác Hồ trực tiếp sáng lập, giáo dục, rèn luyện; trưởng thành và chiến thắng; Quân đội nhân dân Việt Nam càng đánh càng mạnh, xứng đáng “Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Mới ra đời với gậy tày, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật, đưa cách mạng tháng tám đến thành công; lên mười tuổi đã cùng toàn dân giành được thắng lợi lớn Điện Biên Phủ, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp được Mỹ góp sức. Quân đội ta anh dũng trong kháng chiến và cũng anh dũng trong hoà bình… Quân đội ta cũng đã góp phần tích cực xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá và làm tròn nhiệm vụ của một quân đội cách mạng…” (4). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cam go, ác liệt, dân tộc Việt Nam phải chịu đựng biết bao sự hy sinh, mất mát. Lớp lớp thanh niên nam, nữ tình nguyện xung phong lên đường chiến đấu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt”, quyết tâm “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Tám mốt ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị. Dưới mưa bom, bão đạn khốc liệt của kẻ thù, các đơn vị quân giải phóng đã chiến đấu vô cùng quả cảm, kiên cường bám trụ, chốt giữ, giành giật với địch từng mét chiến hào, từng đống đổ nát, mưu trí linh hoạt tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trong 81 ngày đêm ấy, hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh tại đây chưa lấy được hài cốt, xương máu các anh đã hoà quyện vào gạch đá đổ nát, hoà vào dòng sông Thạch Hãn ở tuổi đôi mươi. Những chiến thắng Núi Thành; Phước Long – Bình Long; chiến dịch Tây Nguyên; Huế - Đà Nẵng đã giáng cho Mỹ - Nguỵ những đòn chí mạng, thất bại thảm hại. Quân giải phóng thần tốc, dũng mãnh đập tan và mở tung cánh cửa thép Xuân Lộc, với những cánh quân ào ạt tiến về giải phóng Sài Gòn, thống nhất Tổ quốc. Lá cờ đỏ sao vàng kiêu hãnh tung bay trên nóc dinh Độc Lập; báo hiệu sự cáo chung của chế độ nguỵ quyền Sài Gòn và quan thầy Mỹ. Để có hoà bình là cả một chặng đường dài chiến đấu, hy sinh anh dũng của dân tộc Việt Nam, là sự cống hiến to lớn, không tiếc tuổi xuân của tầng tầng, lớp lớp người lính cụ Hồ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng nói: “Máu đào của các liệt sĩ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”.

Năm tháng đi qua, chiến tranh đã lùi lại. Công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đạt nhiều thành tựu quan trọng. Kinh tế - xã hội đang từng bước vượt qua thử thách, tăng trưởng. Chính trị ổn định, chế độ được giữ vững, đất nước vững bước trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa. Đó là giá trị của hoà bình. Để đi tới mục tiêu thiêng liêng hoà bình – độc lập – tự do – hạnh phúc; hàng triệu liệt sĩ đã hy sinh, nhiều người chưa tìm được hài cốt, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam Pu Chia, biển đông… Hàng trăm ngàn liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính, tên tuổi, quê quán, đơn vị,… Hàng triệu thương binh mang trên mình thương tích chiến tranh, phơi nhiễm chất độc da cam…; có đất nước nào như dân tộc Việt Nam. Suốt chiều dài mảnh đất hình chữ S, nơi đâu cũng trầm mặc những nghĩa trang bốn mùa hương khói. Không chỉ trong chiến tranh; trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, những người lính cụ Hồ vẫn xông pha nơi đầu sóng, ngọn gió, giữa biển khơi, biên cương Tổ quốc, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giữa đại dịch Covid đã hy sinh thầm lặng vì sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Mỗi độ tháng bảy về, trái tim của muôn người con đất Việt lặng lẽ thắp nén tâm nhang tri ân liệt sĩ. Nhà thơ Trần Thế Tuyển đã khắc hoạ trong tâm thức bao thế hệ về một tượng đài liệt sĩ sống mãi trong lòng dân “Thân ngã xuống vì đất đai Tổ quốc/ Hồn bay lên hoá linh khí quốc gia”. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ người trồng cây” thắm đượm nghĩa tình, ngày càng lan toả như một đạo lý, nhân văn cao cả.

Sau quá nhiều đổ máu và mất mát vì chiến tranh, các thế hệ Việt Nam đã và đang chung tay bảo vệ hoà bình; khơi dậy động lực cống hiến – hy sinh vì một Việt Nam phát triển, phồn vinh. Bảo vệ và phát triển những giá trị thiêng liêng mà cha anh để lại; xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở: “Tất cả mọi người chúng ta hãy luôn ghi nhớ và tâm niệm: Hãy sống, chiến đấu, lao động, học tập và làm việc sao cho xứng đáng với những người đã khuất, đã hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân!”. Bởi vậy, bảo vệ hoà bình, giữ vững môi trường hoà bình luôn là mong ước, là lẽ sống còn và khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Chỉ có hoà bình bền vững, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, độc lập dân tộc được bảo vệ, lợi ích quốc gia là tối thượng thì nhân dân ta mới được hưởng tự do, hạnh phúc, tạo điều kiện môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh. Hoà bình là điều kiện, là cơ sở cho sự phát triển thịnh vượng của mỗi quốc gia. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, hơn lúc nào hết, chúng ta cần tự lực, tự cường vượt lên chính mình; phát huy mọi nguồn lực quốc gia. Tự lực cánh sinh, hội nhập quốc tế sâu rộng, đi tắt, đón đầu những thành tự khoa học, tri thức nhân loại để phát triển toàn diện đất nước. Chỉ có sức mạnh nội sinh, niềm tin với Đảng, khát vọng và hoài bảo lớn lao, chúng ta mới thực hiện thành công công cuộc đổi mới; với sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Tôn trọng lịch sử; tri ân bao thế hệ đã ngã xuống vì sự trường tồn của dân tộc; gác lại quá khứ, mỗi người dân Việt Nam cần nỗ lực nhiều hơn nữa để bảo vệ hoà bình, ngăn ngừa chiến tranh, phát triển kinh tế, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính chúng ta đang thực hiện tâm nguyện của người đã khuất. Phát huy bản lĩnh, trí tuệ và ý chí để chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu. Nỗ lực xây dựng một nước Việt Nam hùng cường và thịnh vượng. Ghi sâu lời dạy của Bác “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân, gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân, bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”. Quân đội nhân dân Việt Nam với truyền thống 80 năm anh hùng trong chiến đấu và phòng chống thiên tai thảm hoạ, thông minh, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học – công nghệ và lao động sản xuất. Nguyện xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng, nhân dân. Nâng cao cảnh giác, chủ động sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, bảo vệ vững chắc môi trường hoà bình; đóng góp sức mình cùng cả nước giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh… Phụng sự Đảng, phụng sự Tổ quốc, nhân dân, xứng danh “Bộ đội cụ Hồ”, bộ đội của dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Một vài hình ảnh Trung tướng Nguyễn Đức Hải và các đồng đội trong các hoạt động tri ân các thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ...

TP.HCM, 5/7/2024

N.Đ.H

Chú thích:

  1. (2)  (3) Trích lời thề 1,3,6 (Trong 10 lời thề của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân)

(4) Hồ Chí Minh.

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm