TIN TỨC

Hồn sông, hồn quê trong thơ trong nhạc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-17 08:36:59
mail facebook google pos stwis
1458 lượt xem

NGUYÊN HÙNG

Những dòng sông – khởi nguồn sáng tạo thi ca

Các dòng sông luôn là nơi khởi nguồn cho những áng thơ bất hủ, những giai điệu sống mãi với thời gian. Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc với hơn 2.300 con sông lớn nhỏ, là nguồn cảm hứng thường trực và phong phú cho những lời ca, điệu hát không ngừng được cất lên:

Trong tim ai cũng có một dòng sông riêng mình
Tim tôi luôn gắn bó với dòng sông tuổi thơ
Con sông tôi tắm mát, con sông tôi đã hát
Con sông cho tôi đậm một tình yêu nước non quê nhà…
        (Trở về dòng sông tuổi thơ – Hoàng Hiệp)


Những dòng sông – khởi nguồn sáng tạo thi ca. Ảnh: Hà An

Quả vậy, trong tim mỗi người Việt đều có một dòng sông riêng mình. Con sông ấy luôn chảy trong ta, gắn bó với ta qua mọi khúc thăng trầm từ tình yêu cho đến sự nghiệp, kể cả những phận người vì mưu sinh, vì học hành mà phải tha phương đến những miền đất xa xôi:

Đời hai ta gắn bó với hai sông
Em Vàm Cỏ Tây anh Vàm Cỏ Đông
Mỗi tối chiều lên chao sóng nước
Bìm bịp kêu xao xác cả hai dòng
        (Thì thầm với dòng sông – Hoài Vũ và Thuận Yến).

Dòng sông của người nghệ sĩ có thể mềm mại như sông Đáy hoặc nhiều thác ghềnh như sông Đà. Đó có thể là dòng sông từng làm say bao mặc khách tao nhân như dòng Hương giang thơ mộng: “Sông Hương hóa rượu ta đến uống/ Ta tỉnh, đền đài ngả nghiêng say” (Nguyễn Trọng Tạo); cũng có thể là dòng Lam giang “dạt dào như lòng mẹ/ Chở che con đi qua chớp bể mưa nguồn/… nơi ta ngồi ngóng mẹ/ Vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng” (Khúc hát sông quê – Lê Huy Mậu và Nguyễn Trọng Tạo).
 

Sông Lam – hồn quê xứ Nghệ


Có rất nhiều bài thơ, bài hát về sông Lam làm say đắm lòng người. Ảnh: Hà An

Chỉ riêng về sông Lam, đã có rất nhiều bài thơ, bài hát làm say đắm lòng người. Có lẽ, vì sông Lam là dòng sông di sản; là dòng chảy của lịch sử, của nền văn hóa xứ Nghệ từ bao đời nay; là nơi sản sinh và nuôi dưỡng những câu hò, điệu ví; là nơi đã sinh ra những Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Hồ Chí Minh…  Sông Lam không trong xanh thơ mộng suốt bốn mùa mà khi trong khi đục, khi hiền hòa, khi dữ dội như chính con người xứ Nghệ, chân chất, mộc mạc nhưng chung thủy, kiên cường. Viết về sông Lam, có lẽ khó tìm ai viết hay hơn Trần Mạnh Hảo, một người thơ quê Nam Định:

Sông vắt kiệt lòng mình nuôi đất cát
Thương đất nghèo sông xanh rớt mồng tơi
Sông ẩn hồn trong vại cà, vại nhút
Một củ khoai cũng lấp ló mây trời.

Sông Lam ăn cát mà xanh, uống trời mà mát
Trăng cháy hết lòng sâu quyết liệt cả cơ hàn
Người giàu có nên đất nghèo khô khát
Kìa gió Lào thổi cong sông Lam…
        (Sông Lam – Trần Mạnh Hảo)

Bài thơ “Sông Lam” có nhiều câu thơ xuất sắc và được không ít người làm thơ và yêu thơ đánh giá là bài thơ hay nhất về xứ Nghệ. Khi được hỏi vì sao một người quê Nam Định lại có thể viết về xứ Nghệ hay đến thế, nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã bộc bạch rằng, ông viết thơ về xứ Nghệ nhằm trả món nợ với hai người Nghệ An là thầy giáo hiệu trưởng trường cấp 3 Nghĩa Hưng, Nam Định kiêm dạy văn Lê Văn Trạm (quê Thanh Chương) và nhà thơ Nguyễn Trọng Oánh (tức Nguyễn Thành Vân, quê Nghi Lộc). Nhà thơ Nguyễn Trọng Oánh là người đã đưa Trần Mạnh Hảo từ đơn vị chiến đấu trong rừng về làm báo Văn nghệ quân giải phóng. Và năm 1964, khi đi bè luồng trên Sông La huyện Đức Thọ, Trần Mạnh Hảo suýt chết đuối vì bè chìm. May quá, khi Trần Mạnh Hảo rơi xuống đáy sông, và hình như đám mây xanh dưới sông xưa đã vớt ông lên bờ, sống sót. Món nợ ân tình với những người sinh ra bên dòng sông Lam, với chính dòng sông hộ mệnh nơi xứ Nghệ đã thôi thúc Trần Mạnh Hảo viết nên “Sông Lam” và “Gió Ngàn Hống”, những áng thơ đỉnh cao về sông Lam và xứ Nghệ.

Chính sông Lam đã hình thành nên phong tục tập quán, cách ứng xử; tạo nên bản sắc văn hóa xứ Nghệ độc đáo không thể trộn lẫn với bất kỳ nơi nào khác. Dòng sông đã từng chảy qua bao cuộc đời, chuyên chở biết bao số phận với nỗi nhọc nhằn, cay đắng gian truân. Và đây là ký ức về người mẹ trong ca khúc Chấp chới sông Lam của Nguyễn Lê Trung và Minh Quang:

Hai triền sông Lam… mòn vẹt
Hai triền sông Lam… gió
Một chuyến đò nan
chênh chênh
đẩy đưa thân mẹ,
tóc xanh tận bạc mái đầu…
Một đời mẹ lận đận,
lận đận nuôi con
Một đời
đồng sâu,
sương muối…

Nhà giáo Đường Văn (Hà Nội), coi đây là một trong 2 bài hát hay nhất về mẹ (cùng Mẹ tôi của Trần Tiến). Ông viết: “Lời thơ và câu hát chơi vơi, chênh chao gợi lên hình ảnh bảng lảng, thực hư, ảo huyền, như có, như không của một vong linh, hương hồn mẹ đang mải miết vân du, thích thảng, thênh thênh khắp cõi không màu cùng thế giới các đấng – bậc Tiên Hiền…”


Sông Lam buổi hoàng hôn. Ảnh: Hà An

Với ca khúc “Hồn sông”, cũng là đứa con tinh thần chung của Nguyễn Lê Trung và Minh Quang, người đọc thơ và người nghe nhạc sẽ gặp một sông Lam “ngầu nắng đỏ trời” dưới cái nắng cháy da cháy thịt và “ngầu lũ đỏ đồng” khi lũ từ đầu nguồn đổ về:

Sông Lam trong
Sông Lam đục
Sông Lam ngầu nắng đỏ trời
Sông Lam trong
Sông Lam đục
Sông Lam ngầu lũ đỏ đồng

Dòng đục trong,
mưa nắng lại đi, mưa nắng lại về.
Giọt phù sa,
phù sa trôi nổi,
ngàn năm bồi đắp,
hồn quê.

 Sông Lam ơi,
áo tơi trên đồng, áo tơi che lòng,
người đi.
Sông Lam ơi,
nắng mưa đội đầu,
dẫu trong dẫu đục,
sông ơi.

Cảm nhận về ca khúc “Hồn sông”, nhà báo Bích Thảo, một người yêu nhạc đã viết: “Sự đắc địa, tinh tuý của ngôn từ như những phát súng liên thanh tác động trực tiếp vào tim và não người nghe, tạo ra hàng loạt đối ngẫu về ý thơ, điệu nhạc. Việc vận dụng liên tục các cặp từ đối nhau: trong – đục, mưa – nắng, đầy – vơi, đi – ở… trong kết cấu liên hoàn và biền ngẫu đã làm hiện lên sống động hồn sông Lam toàn vẹn, nhiều chiều kích trong hàng nghìn năm lịch sử. Tất cả tinh hoa, giá trị văn hóa nghệ thuật, truyền thống đánh giặc anh hùng, những cơ cực lầm than trong mỗi kiếp người… đều ôm hết trong Hồn sông!”. Và đây là lời bình của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chu: “Nhờ ca từ chắt lọc, súc tích, đầy hình tượng mà mỗi khi giai điệu cất lên, người nghe lại thảng thốt. Sự lặp lại hai lần Sông Lam trong, Sông Lam đục với ngầu nắng đỏ trờingầu lũ đỏ đồng càng làm cho người nghe thêm day dứt, xúc động. Cách lặp lại này làm cho giai điệu và ca từ có thêm sức cuốn hút người nghe”.

Những đặc điểm tự nhiên của dòng Lam và miền đất nơi đây đã góp phần hình thành phong cách và tố chất văn chương nghệ thuật để sáng tạo nên những giá trị tinh thần của người xứ Nghệ, mà tiến sĩ Nguyễn Lê Trung là một ví dụ. Anh là người con của vùng đất Cửa Hội, nơi sông Lam đổ ra biển, lớn lên và trưởng thành từ hồn sông – hồn quê như thế. Dù đi đâu, làm gì thì trong anh vẫn luôn cất lên tiếng thơ, điệu nhạc của sóng nước Lam giang. Anh không chỉ viết ca từ rất thơ cho các bài hát mà còn có giọng hát trầm ấm, lôi cuốn bởi sự sâu lắng và da diết, đặc biệt với những ca khúc do anh trực tiếp cùng nhạc sĩ Minh Quang sáng tác. Các bài hát về quê hương qua chất giọng Nguyễn Lê Trung giúp người nghe có thể thấu cảm đến tận cùng hồn sông, hồn quê xứ Nghệ.


Nhạc sĩ Minh Quang (trái) và Tiến sĩ Nguyễn Lê Trung, tác giả của chùm ca khúc về các dòng sông. Ảnh: NVCC.

Sinh ra bên dòng Sông Mã và sông Chu, nhạc sĩ nghệ sĩ ưu tú Minh Quang cùng tiến sĩ Nguyễn Lê Trung, người con của sông Lam, đã viết nên ca khúc “Quê tôi” có nhiều hình ảnh chắt lọc quyện vào giai điệu đầy tình tứ và tự hào:

Quê tôi bên bờ sông Mã
Nước gương trong khỏa tím Vọng Phu
Quê tôi bên bờ sông Chu
Bãi dâu bờ lau gọi lời Trống Mái.

Người yêu nhạc có thể nhận thấy, nhạc sĩ Minh Quang rất có duyên với những dòng sông. Trước “Chấp chới sông Lam”, “Hồn sông”, “Quê tôi”, ông đã nổi tiếng với bài hát Sông Lô chiều cuối năm” từng mê hoặc bao thế hệ người nghe nhạc bởi giai điệu và lời ca:

Ai bỏ quên giữa dòng
Câu thơ nói về một người con gái
Bao năm tháng chờ đợi người lính ấy sao mãi không về
Sông Lô chiều cuối năm ai tìm về bên ai
Ta tìm về bên em…

Cây đào ngày Tết sắp ra hoa
Sao người con gái ấy nơi đâu
Để lại bến sông kia bâng khuâng một con đò.

Ngoài chùm ca khúc về những dòng sông, những miền quê cụ thể, cặp đôi Nguyễn Lê Trung – Minh Quang còn có ca khúc “Dòng sông nhân từ” tinh tế và thấm đẫm triết lý nhân sinh:

Sóng vỗ, đại dương bốn mùa sóng vỗ
Núi cao ôm ấp dòng sông
Dòng sông bao dung,
dòng sông nhân từ
Núi cao lại khuất núi cao.
        (Dòng sông nhân từNguyễn Lê Trung và Minh Quang)

Trên mảnh đất hình chữ S, những dòng sông là những mạch nguồn quý giá, đem lại dòng nước mát, tắm xanh cây trái, ruộng đồng. Sông gắn với những vùng đất, những nét văn hóa, những chiến công dựng nước và giữ nước. Sông đi vào thơ, vào nhạc, để lại cho đời những giá trị tinh thần vô giá, làm nên hồn quê không thể phai mờ trong mỗi tâm hồn người Việt. Nhiều thế hệ mai sau sẽ còn ngỡ ngàng trước một “Trường ca sông Lô” của Văn Cao, còn lắng lòng “nghe gió sông Hồng thổi” (“Mong về Hà Nội”) của Dương Thụ, còn xao xuyến khi nghe “Thì thầm với dòng sông” của Thuận Yến – Hoài Vũ…

Riêng với người xứ Nghệ, tôi tin rằng, người yêu thơ yêu nhạc sẽ còn nhớ mãi những thi ảnh “Sông Lam ăn cát mà xanh, uống trời mà mát” (Trần Mạnh Hảo), sẽ còn xúc động trước những hồi ức “vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng” (Nguyễn Trọng Tạo – Lê Huy Mậu) và sẽ còn chênh chao, day dứt, bâng khuâng cùng “hai triền sông Lam mòn vẹt” hay “Sông Lam ngầu nắng đỏ trời” (Minh Quang – Nguyễn Lê Trung)…

Nguồn: Hồn sông, hồn quê trong thơ trong nhạc (Tạp chí Sông Lam) và Văn nghệ Công an số 715, ngày 11/7/2024.

Trích đoạn 2 ca khúc về sông Lam của Nguyễn Lê Trung và Minh Quang


 

Dựng clip: Nguyên Hùng

N.H.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm