TIN TỨC

Phạm Trung Tín và 6 ô cửa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-06-04 20:50:56
mail facebook google pos stwis
596 lượt xem

NGUYỄN THÁNH NGà

Người ta thường ví đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Tôi cũng có thể nói, thơ là ô cửa của tâm hồn được chăng? Nếu được thì trong ngôi nhà văn học, mỗi tập thơ là một ô cửa. Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.

Và đây, một phác thảo đơn sơ mà vô cùng cảm động, trong ô cửa thứ nhất, ta bắt gặp một thời của quê hương nghèo khó:

Chân trần, túi sách, mũ rơm

Đường vui đến lớp lúa thơm tảo tần

Hai chữ "tảo tần" là nói về mẹ, bởi "ta không chơi đồng hồ/ mẹ cha nghèo chẳng có tiền mua/ nhìn tia nắng rọi thềm trưa/ như đồng hồ - báo mười giờ - ăn cơm". Những câu thơ thực đến nỗi trở thành những lời tự sự chân thành nhất của chàng trai bên bờ sông Hóa:

Mẹ cha vất vả bao mùa

Nuôi ta ăn học đồng chua ruộng cằn

Tháng ba ngày tám thiếu ăn

Mót khoai, hôi cá, tiện tằn trả vay
 

Tôi chỉ nói được bằng một từ "xúc động"! Xúc động thật sự, vì bây giờ người làm thơ, ít ai còn giữ được độ cảm xúc như thế này nữa. Đa số đã chạy theo một thứ thơ duy lý, mông lung. Riêng Phạm Trung Tín vẫn trung thành với cũ càng, mộc mạc mà sâu lắng tình quê.

Thế rồi anh trở thành một người lính:

Em yêu ơi, anh chào tạm biệt

Chiến trường xa đang giục bước đi

Phải nói, đó là "Dặm dài ký ức" trong anh - một hồn thơ quê đúng nghĩa, mang một nỗi niềm riêng trong bước chân người lính. Và đôi khi người lính ấy nhận ra:          

Thơ minh triết giữa trần đời

Mặc ai ma mị, xu thời, xảo ngôn

Chẳng phiền toái với dại khôn

Sáng trong cao thượng, tâm hồn thi nhân

Có lẽ đây là triết lý sống trong thơ anh, thiên về dưỡng tâm và rèn luyện trí óc sáng tạo, "Miền tâm tưởng" từ đó gắn với cuộc đời;

Bao ân nghĩa cả cuộc đời

Chưa đền đáp được cho người tri âm

Ta còn nợ những lỗi lầm

Trần lưng công quả âm thầm trả vay

Đây là điều rất riêng, rất xót xa, và chỉ có người tri âm tri kỷ mới hiểu hết những lỗi lầm của nhau. Ở đời ai mà không lỗi lầm nhì? Và chúng ta còn nợ nhau rất nhiều điều, nhất là cuộc sống vợ chồng, người đi kẻ ở!

Được làm bạn thơ với Phạm Trung Tín, tôi tâm đắc nhất không phải là con người tử tế, mà tâm đắc với "chữ hiếu" của anh. Chỉ cần nhìn người con ấy đối với mẹ mình như thế nào, thì hiểu ngay tấm lòng và thơ có thật sự song hành hay không? Phạm Trung Tín là kẻ làm thơ được, đối xử được với bậc song thân, thì ngoài đời anh cũng vậy. Vì thế, mà nhiều người quý tư cách Phạm Trung Tín hơn những cái hay khác. Bởi suy ra mọi thứ đều tan rả, chỉ còn tấm lòng chân thật giữa trời cao đất dày, mới xứng đáng lưu đời mà thôi. Chúng ta hãy nghe nhà thơ viết về song thân:

Cha ơi, chín bốn mùa xuân

Ngựa hồng tung vó phong trần vượt qua

Và đây mới là chân lý mà tôi trọng vọng nhất khi anh viết về cha mình:

Một đời trọng nghĩa hơn vàng

Anh linh sáng giữa muôn vàn nghĩa ân

Tôi cho đây là câu thơ sáng giá nhất, khi viết về thân phụ. Bởi cái cốt cách "trọng nghĩa hơn vàng" của cụ là một thứ gia phong để lại cho con cháu mai sau. Còn viết về người mẹ cũng là những câu thơ tuyệt bút:

Hiếu trung những tấm lòng son

Kết đài dâng Mẹ tuổi tròn tám mươi

Xuân vui rạng đất xanh trời

Chúng con dâng Mẹ ngàn lời kính yêu!

Nếu cha là cuốn sách gia phong, thì mẹ là viên ngọc gia bảo của đại gia đình nhà thơ. Chúng ta có thể kể qua hai ô cửa, Phạm Trung Tín bắt đầu từ cậu học trò nghèo, đến một người lính ra đi bảo vệ đất nước, rồi thành nhà thơ của Hội Nhà Văn Việt Nam. Nhưng trước hết, anh là một người con hiếu thảo vẹn toàn, một người chồng yêu thương vợ tha thiết, một người cha lo cho con hết lòng. Thơ anh vì thế đã là Lời của đá vàng, nghĩa là trung kiên và nhân nghĩa:

Từ ngày em biệt nẻo chân trời

Nơi ấy chưa khi nào sáng

Những tia chớp xé mây

Sấm ầm ào quay quắt

Mười lăm năm em khuất mặt

Hóa đá lòng anh nhòa sắc cầu vồng...

Lời đá ấy là lời của chân cứng đá mềm, của mười lăm năm âm dương cách biệt. Anh lạnh lùng giữa cõi trần khi nhìn thấy "giọt người ta":

Thắc thỏm em, giọt người ta

Xin đừng vội đá để mà...lạnh nhau

Vội đá và lạnh nhau là vĩ thanh của linh hồn. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết Tuổi đá buồn cũng vì lẽ ấy. Đá buồn tức là đá có linh hồn, đá nói với người thơ rằng:

Nhẹ chăng chữ nghĩa áo cơm

Muộn mằn thơ

Quện lửa rơm

Góp đời...

Thơ là góp cho đời đáng sống, để có những lúc "vịn câu thơ mà đứng dậy" như Phùng Quán đã nói. Thơ Phạm Trung Tín thì kham nhẫn và mềm dịu, anh viết: "Đời chông chênh cố lách chen mình/ loang lổ thân đen tối tăm tâm khảm/ quăng số phận mặc cõi trên giam hãm/ xanh vật vờ tầm gởi bình minh/ kẻ sĩ làm thơ trượt nỗi nẻo hồn chữ nghĩa/ lấp lánh nắng về gió tở mở cùng mây..."

Cơn bão bay qua cánh hoa rớt lại

Ám ảnh mấy lần cây hứng gió cay...

Chính là lúc nhà thơ bước qua "Khoảng thức", để thấy đời là cơn bão, nhưng vẫn còn những cánh hoa sót lại. Nhờ thế mà đời vẫn đẹp, hoa vẫn thơm, con người lạc quan vui sống giữa mùa xuân đất trời thơm ngát:

Mây dịu dàng những hơi thở mùa xuân

Không xoa kín bốn mùa trầy xước

Đứng bên lề lối bước

Hương thơm về đâu cùng bước chân người

Hương thơm về đâu cùng bước chân người? Câu hỏi cũng là câu trả lời cho "khoảng thức" trong thủ pháp nghệ thuật. Từ đây tư duy thơ đã được nâng cao, tín hiệu thẩm mỹ cũng đã song hành cùng bước thơ khoáng đạt về vũ trụ, nhân sinh và thế giới tự nhiên. Điều đó giúp ích cho nhà thơ rất nhiều, để anh "bừng tỉnh đốt tim mình thắp lửa/ rời u mê - khoảng thức thiên hà". Và khi ngọn lửa đã cháy lên, ánh sáng đã soi rọi, thì khoảng thức là lúc rời khỏi u mê để nhận diện "Đường chân trời":

 Đường chân trời - nỗi bể dâu

 Chỉ thơ lưu dấu nỗi đau của đời

 Lại về kiếp hạt bụi rơi

 Thơ còn ở lại muôn đời nhân gian

Đường chân trời là con đường vạn dặm thiên lý, người qua ghi lại những đổi thay vô thường đời người. Hóa ra chỉ có thơ mới đủ sức lưu giữ hành trạng đó mà thôi. Nhờ vậy mà thơ luôn ở lại, luôn găm vào lòng người mà thành nhịp điệu trần gian. Nhà thơ biết đau nỗi đau của từng thân phận, sẻ chia với những mảnh đời nghiệt ngã, để chan hòa mình ra với đất nước non sông. Về Cà Mau, nơi cùng trời cuối đất của Tổ Quốc xúc cảm liền bật ra:

 Thiêng liêng phấp phới cờ hồng

 Tọa độ vĩ bắc kinh đông - Mũi Tàu

 Cực nam Tổ quốc - Cà Mau

 Đước xòe chân giữ sắc màu cho sông...

Với cái nhìn Tổ Quốc từ đất mũi Cà Mau, thơ Phạm Trung Tín đã khái quát được "sắc màu" của từng vùng châu thổ. Rồi khi đứng trên Cao Nguyên Lâm Viên, anh đã nhớ đến Hàn Mặc Tử với những câu thơ tuyệt bút "Đà Lạt trăng mờ": "Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều/ Để nghe dưới đáy nước hồ reo/ Để nghe tơ liễu run trong gió/ Và để xem trời giải nghĩa yêu". Bắt được ý thơ đó, Phạm Trung Tín giải bày nỗi riêng rằng:

  Tình giờ đã mấy bão giông

 Dã quỳ bẽn lẽn đồi thông muộn chiều

 Ai người giải được nghĩa yêu

 Nâng lên ta cạn bao điều ly hương

Nỗi lòng Hàn Mặc Tử cũng như nỗi lòng Phạm Trung Tín, hình dung bao la mà không nắm bắt nổi, chỉ có trời mới giải được cái nghĩa yêu vô cùng vô tận ấy. Trần đời khổ hải, người ta luôn hỏi yêu là gì? Yêu là phạm trù mênh mông, hiểu được mà chưa ai giải được là vậy. Trên bước thơ du ký, nhà thơ đi để thưởng thức cảnh đẹp quê hương, nhưng sâu thẳm trong thơ là cõi quê nhà. Bởi quê nhà chính là hình bóng mẹ hiền, cho con cảm giác bình yên nhất, khi "chân con lang bạt mọi miền/ ba lô chật ních nỗi riêng quê nhà!". Khi ấy, bất cứ người con nào cũng cảm thấy mình như đứa trẻ, được sà vào lòng mẹ mà nghe yêu thương dâng tràn khóe mắt:

Hôm nay về lại quê nhà

Sà vào lòng mẹ - con đà tóc sương

Mà nghe thơ ấu lạ thường

Đâu đây giây phút thiên đường đời con

Thế mới biết tình mẹ là cảm hứng nghệ thuật sâu sắc nhất. Những câu thơ chân thật, mộc mạc đã làm nên hồn cốt một đời thơ. Dù có đi hết "đường chân trời" cũng chưa thể đi hết tình mẹ. Vì thế, nhà thơ phải biết "Đối diện chính mình" để nhìn lại và đánh dấu một chặng đường kinh qua, chấp nhận cuộc vô thường và sống nhân hậu hơn như đã từng:

Chính mình đối diện mình thôi

Hẹp vòng quay, chậm gót rời, hoàng hôn

Cộng trừ chi nữa dại khôn,,,

Tôi cho đấy là thái độ sống khôn ngoan, chân thành nhất mà một nhà thơ có được. Chất sống tình cảm, đậm phong cách tự sự và luôn biết nhìn vào trong là thể hiện tấm lòng bao dung, và biết trân trọng những gì quý giá của cha ông để lại. Cuối cùng, chúng ta hãy nghe chính tác giả tóm tắt 5 tập thơ - 5 ô cửa tâm hồn của mình như sau:

Thơ ư, nghiệp vận vào thân

Nỗi đau chữ nghĩa nợ nần tai ương

...

Dặm dài ký ức tơ vương

Miền tâm tưởng giữa vô thường đục trong

Lời của đá khắc ghi lòng

Khoảng thức nhân thế trăm vòng bẫy giăng

Đường chân trời - ánh sao băng...

Năm câu lục bát - 5 tập thơ. Lúc ấy chưa có tập thứ 6 "Đối diện chính mình". Người đọc sẽ thấy một hành trình thơ gian khổ mà rõ ràng, mộc mạc mà chân chính trong từng ý niệm, nhất định sẽ khắc vào thời gian nhiều ấn tượng.

Nhân đây, tôi xin viết tặng nhà thơ Phạm Trung Tín câu bát cho tập thơ thứ 6, nối vào ánh sao băng:

Đối diện mình với ánh trăng... chính mình!

Viết nối tiếp để hy vọng rằng anh đi qua miền khát vọng, vẫn luôn thao thức làm mới thơ, dâng hiến chất xám cho cuộc đời, mà vẫn giữ được sự trong sáng, hồn nhiên của làng quê. Tôi tin đó là phẩm giá của thơ ca giữa bộn bề cuộc sống, trong khi thơ giả thơ, thơ lắp ghép, thơ thị trường đang làm xáo trộn niềm tin yêu của công chúng, thì thơ có bản chất sẽ mang lại giá trị độc đáo cho người yêu thơ.

Ai làm thơ mà không dâng hiến cho đời, nhưng dâng hiến những giá trị cốt lõi, thấm đượm hồn dân tộc, sẽ như hoa nhài thoang thoảng mà thơm lâu...

TP. HCM, tháng 12. 2024
N.T.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm