TIN TỨC

Quang Chuyền: Sáng một tấm lòng lành

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-08-29 23:59:00
mail facebook google pos stwis
1657 lượt xem

Bùi Phan Thảo

Với nhà thơ Quang Chuyền, đã có rất nhiều báo, đài dựng chân dung, phỏng vấn, viết về ông và thơ của ông. Những trình bày của tôi hôm nay, chỉ là góp thêm một góc nhìn về một đời người, một đời thơ khá đồ sộ, một sự nghiệp thơ vững vàng, đáng ngưỡng mộ.

Điểm nổi bật dễ thấy nhất của “Quang Chuyền – thơ và đời” là đậm tình. Đó là những tình cảm sâu sắc, đậm đà, cái tình chung bao la mà cũng là tình riêng nặng nghĩa. Tình trải trong không gian bao la của những vùng miền, đi qua thời gian của đời người thấu tỏ hết buồn vui, sướng khổ. Tình trong thơ đã được câu chữ làm cho mềm mại đi, như một lời tự sự, thủ thỉ chuyện trò nhưng cũng đầy nồng ấm như ngọn lửa trong bóng đêm, cho người về ngồi bên, hơ bàn tay lạnh giá sau quãng đường dài lữ hành…

Nhiều bạn bè, đồng nghiệp đến chúc mừng nhà thơ Quang Chuyền trong buổi ra mắt tác phẩm "Quang Chuyền - Thơ Và Đời"

Có người sẽ hỏi, cái tình ấy có gì mà lạ? Đúng là không lạ, rất quen nữa là khác. Nhưng cái tình là cái kết nối, đưa người đọc đến với tác phẩm. Tình làm cho thơ của Quang Chuyền đầy đặn lên và ý nghĩa hơn.

Tôi không hàm ý so sánh nhưng vẫn muốn nói rằng, Quang Chuyền viết thơ theo lối cổ điển và đơn sơ, không màu mè, làm dáng hay khoe khoang rối rắm. Có nhiều bài thơ viết theo lối hiện đại có hay và tình không? Có chứ. Nhưng cái tình nếu có trong những bài thơ này dữ dội quá, trần trụi quá, riết róng quá, có khi đầy những lập ngôn ngạo mạn nên không dễ để cảm thụ, sẻ chia, ít đi vào tâm trí người đọc. Nên tôi vẫn chọn thơ Quang Chuyền, cổ điển (classic), vẫn mang một nghĩa khác là mẫu mực, thơ chuyên chở tình đi như con thuyền trên sông và lắng nghe âm vọng đôi bờ.

Thơ Quang Chuyền từ đó lan tỏa, thấm sâu, soi vào bản ngã nội tâm. Hành trình thơ Quang Chuyền cho thấy ông luôn xốc vác, sẵn sàng nhập cuộc, đồng hành. Hành trình thơ và đời đúc kết lại, dù đầy những biến động, chênh chao, thì vẫn một tấc lòng chân thật.

Hãy xem chân dung tự họa của ông:

“Ta là một gã nhà quê/ bước đời không định, lạc về phố đông/ nắm tay vào có vào không/ những mong tóc ướp hương đồng đừng phai/ những mong bè bạn hơn tài/ cho ta tìm học thêm vài điều hay” (Tự họa)

Và ông tự nhận “tôi là gió thổi giữa đồng đất quê”. Gió hồn nhiên, phóng khoáng, người bộc bạch chân thành.

Ta sẽ gặp lại ông trong những câu thơ ông viết về đời sống, để thấy rõ hơn chân dung một nhà thơ nồng ấm nghĩa tình. Với ông, không chỉ là những con người ông gặp trên đường đời mà những miền quê ông qua ông sống, đều đọng lại ân tình yêu thương. Đó là miền quê Vĩnh Phúc nơi ông sinh ra, thành Tuyên ông sống thời niên thiếu, là vùng Việt Bắc thuở thanh niên trước khi đi bộ đội vào Nam: “Kỷ niệm đời ta là dòng sông long lanh/ lời hát những cánh rừng Việt Bắc”… Ông nhớ Hà Nội: “Tôi từ đi đứng chiêm bao/ đứng đi Hà Nội lối nào cũng em/ tôi từ ít nhớ nhiều quên/ sân ga lẻ bóng mình lên một tàu” (Thoáng qua Hà Nội). Ông yêu Sài Gòn: “Người đến Sài Gòn không lo áo rét/ người xa Sài Gòn có gió đi theo/ Sài Gòn đấy với tôi bến đỗ/ từ nơi này tôi đi đến trăm sông” (Có một Sài Gòn).

Nhà thơ Bùi Phan Thảo tham gia tọa đàm trong buổi ra mắt tác phẩm "Quang Chuyền - Thơ Và Đời"

Ông cảm về chợ nổi miền Tây Nam Bộ: “Người quê buôn bán kiểu quê/ nói năng thường ít so kè thiệt hơn/ chung nhau chớp bề mưa nguồn/ đổi trao cái khổ cái buồn cho nhau” (Chợ miền sông nước). Và phải yêu, phải là người quê mới có thể viết được những câu thơ da diết, cháy lòng: “Sầu đau cất kín trong nhà/ ước mơ, khao khát phơi ra đồng làng” (Người quê).

Thơ Quang Chuyền còn nặng những nỗi đau đời. Đời riêng của ông, thủy chung nhân hậu. Người con gái ước thề với ông bị tai nạn lao động nặng, lúc đó gần như tàn phế, ông vẫn một lòng cùng bà lập gia thất và trời như thấu lòng ông, hiền thê của ông khỏe mạnh dần lên, cùng ông dựng mái ấm gia đình, đi qua bao nhọc nhằn của cuộc mưu sinh, nhất là những khi ông bị bủa vây bởi những tệ bạc thói đời, rồi ông bà vượt qua, để hôm nay chúng ta có một Quang Chuyền với thơ và đời nặng trĩu trên tay, ấm cả lòng người.

Đời riêng là vậy, nên ông sống nhân từ, khoan hòa, thơ ông cũng hướng về cuộc sống với lòng bao dung cũng là lẽ đương nhiên. Những biến thiên thời cuộc và cả cảnh vật, cũng thường tình, song ông dễ rung động thiết tha. Ông xót xa khi bến phà xưa đã dựng một cây cầu: “Nước cứ chảy, sóng hôn bờ bãi/ thương trăng khuya qua bến lạnh một mình” (Bến lạnh). Khi những giếng khoan thay thế giếng đào, cỏ rêu chen lấp lối chân xưa, ông viết: “Giếng làng từ ấy mồ côi/ đêm đêm chỉ có trăng soi lạnh buồn” (Tiếng gàu giếng thơi).

Chỉ một bông mía, ông nghĩ về sự tận hiến, đưa người đọc đến những chân trời liên tưởng:

“Lơ phơ mía trổ trắng bông/ lòng cây trống rỗng, rỗng không còn gì/ bao nhiêu mát ngọt cho đi/ thân sơ ruột bấc, bấc vì hoa thôi” (Bông mía)

Phải có sự tận hiến, cho đi mới có những ngọt ngào nhận về. Ở phía trống rỗng không còn gì đó, lòng người đọc cũng nương theo mà trắng cùng những bông mía phờ phạc trên đồng.

Dẫn ra những câu thơ trên, tôi cũng muốn nói rằng, viết theo lối cổ điển dung dị đó thôi, song thực ra vẫn rất mới. Mới ở cách nhìn, cách diễn đạt. Trong bài thơ “Phú Quốc một mùa trăng”, “hôm nay tìm em lại lạc vào ngày trước/ gặp núi hoang sơ như gặp thuở ban đầu”, như trò chơi ú tìm trẻ dại, em đã đem vầng trăng đi đâu. Bài thơ sáng lên bởi cái tứ bất ngờ, thơ viết ở đảo và “Tôi thành đảo/ giữa trùng khơi vời vợi/ ngắm biển, nhìn trời, chỉ thấy sắc trong veo”. Mấy ai ra Phú Quốc mà bỗng chòng chành, thấy mình thành đảo như ông, nếu không là thi sĩ?

Tứ thơ về một nửa nhiều người khai thác, nhưng với “Nửa trời trăng khuyết”, Quang Chuyền đưa ánh sáng câu thơ đi vào những một nửa để lòng người cứ cồn cào bởi quá nhiều dang dở, buồn thương:

“Từ ngày vắng bặt tin anh/ hình như một nửa trời xanh bạc màu/ chiến trường khuất nửa xa sâu/ mây đêm vương nửa khuyết vào vầng trăng/ nhà ta nửa lệch nửa bằng/ nắng chênh nửa sáng sương giăng nửa chiều/ cây nhang cháy nửa liêu xiêu/ tóc em bạc nửa vì nhiều buồn đau”…

“Nhà chia nửa sáng nửa chiều/ mới qua được nửa kiếp nghèo rạ rơm/ giá mà còn đủ mặt con/ mẹ đâu nên nỗi nữa buồn nửa lo”

Là một người lính, một nhà báo, một nhà thơ, và hơn hết là một người yêu quê, quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, nơi trưởng thành và cả quê hương Việt Nam trong lòng người dân Việt để luôn đau đáu tự hào, luôn phập phồng từng nhịp thở theo dòng thời sự, theo những nỗi niềm thế sự trầm luân.

Những đổi thay trong đời sống, sinh hoạt, lòng người, những bữa cơm nhà ít dần, máy lạnh đi vào từng ngõ xóm, đẩy nóng nực, nắng mưa ra ngoài đồng quê thì nhà thơ cũng thốt lên: “Từ ngày lối phố rộng ra/ nghĩa tình hẹp lại, ngõ xa nhà gần”

Bây giờ chỉ còn kỷ niệm quân ngũ, bạn bè người hy sinh, người mất liên lạc, người đau yếu bệnh tật, người nghèo khó triền miên, rồi câu thơ chùng xuống:

“Bây giờ nhìn ngược nhìn xuôi/ sao ngỡ mắt nhìn khập khiễng/ ai người kiếm ăn từng miếng/ ai dư của nả chất chồng/ bây giờ chỉ còn mong ước/ kiếp người bớt chút manh mong” (Thấp thoáng suy tư)

Những suy tư chắt lọc trong những bài thơ 4 câu, kiệm lời sâu ý, nhiều tầng cảm xúc:

“Tôi thường lục nhớ trong quên/ lắng nghe Thạch Hãn ngày đêm gọi về/ người nằm trong đất thành quê/ người nằm trong sóng biết về nơi đâu?” (Người nằm trong sóng)

Trồng cây, trồng người đều khó, nên “Ta vun vén một đời dâu bể/ để cuối cùng/ thấy lá toát mồ hôi” (Lá toát mồ hôi)

Có những điều ngỡ đơn sơ mà cùng nhà thơ ngẫm ngợi, lại thấy phải giật mình sau hồi chuông vọng mà không nghe không hay:

“Giật mình nghe tiếng sét/ giật mình nghe tiếng gà/ giật mình không nghe tiếng/ chuông gọi về phía ta” (Giật mình)

Cũng trong ý tưởng không thể thành lời là ý thơ chưng cất qua một diễn ngôn nhẹ nhàng, thấp thoáng một nụ cười, dù là nỗi đau:

“Cái đau không nói thành lời/ cái đau nép ở đứng ngồi lặng thinh/ cái đau khuất chỗ vô tình/ người đau không tự biết mình đang đau” (Cái đau)

Cũng như bao người yêu thơ khác, tôi khâm phục Quang Chuyền bởi ông viết lục bát rất hay rất đẹp. Với người làm thơ, viết một bài lục bát làng nhàng không khó song đời người làm thơ thành công, có khi chỉ một vài bài lục bát mà thôi. Còn với Quang Chuyền, đời thơ của ông lục bát chiếm dung lượng lớn, lại là những bài chất lượng đồng đều, hầu hết đều hay, nhiều bài rất hay, tạo nên thương hiệu thơ Quang Chuyền và ông đóng dấu triện đỏ chói bằng nhiều bài thơ lục bát.

Bao năm qua, sông Lô xanh ngắt đã đi vào thi ca nhạc họa. Sông Lô vào thơ Quang Chuyền nhiều thi ảnh đẹp, nhất là trong chiều mưa nhớ người:

“Giọt mưa sao lại phập phồng/ vỗ trên mặt sóng, lặn trong mắt người/ từ sau ngày ấy tôi đi/ mang theo cả tiếng thầm thì trong mưa” (Bóng người bên sông)

Những bến sông trong thơ ông được khắc ghi bằng lục bát như chẳng muốn con thuyền rời đi, mái chèo dùng dằng. Nhưng đời trai phải dấn bước, kỷ niệm xa xăm và hình bóng mơ hồ:

“Tôi đi từ bấy chưa về/ thành ra lỗi một lời thề với sông/ người xưa thì đã theo chồng/ còn đâu đò chở những dòng ca dao/ cầu vồng bắc nối chiêm bao/ bến quê từ ấy khuất vào dòng sông” (Bến quê)

Có những câu chữ thoạt nghe bình dị, vào thơ Quang Chuyền lại đẹp hơn lên, bởi tình thơ, tiếng lòng người thơ đằm thắm mà xao động:

“Lại nghe trăm ngả đường yêu/ đi đâu cũng gặp tím chiều em qua” (Sóng vỗ bên trời)

Trong nhịp chuông chùa, nhà thơ lắng nghe, luận giải về lẽ sống với những yên lành, xót xa, thiệt hơn, mất còn, trước sau trong kiếm tìm của lẽ phù sinh, và vọng âm từ lòng người trong những đêm đen:

“Chuông gần nối sóng chuông xa/ đường về cát bụi, cũng là đường chung/ ai nghe tiếng vọng chuông lòng/ thường đêm đổ nhịp lẫn trong chuông chùa” (Trong nhịp chuông chùa)

Thì vậy, giữ cho nhau tiếng lòng, nghe cho nhau tiếng vọng. Thấm cho nhau một câu thơ, một bài thơ, đã là tri âm. Thơ Quang Chuyền, vì thế, đi vào người đọc và ở lại, một cách lành hiền như con người ông. Để có buồn bao nhiêu đi nữa, cũng vượt qua, để sống, để nghĩ về đời với sự biết ơn và cầm bút, như để trả những món nợ ân tình.

B.P.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm