TIN TỨC

Trần Thùy Mai: “Viết là đối thoại, chân thành là yếu tính của văn chương”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-08-21 18:40:36
mail facebook google pos stwis
90 lượt xem

LÊ NGỌC TÚ

Trong làng văn Việt Nam đương đại, Trần Thùy Mai được biết đến như một cây bút có hành trình sáng tạo đầy bản lĩnh và không ngừng đổi mới. Từ những truyện ngắn đằm thắm chất Huế đến các tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như Từ Dụ Thái hậuCông chúa Đồng Xuân, chị đã chứng tỏ một tư duy nghệ thuật vừa sâu sắc, vừa giàu chiêm nghiệm. Với hơn 40 năm cầm bút, nhà văn không chỉ làm giàu cho văn chương bằng tài năng mà còn bằng sự dấn thân và trách nhiệm của một người luôn trăn trở với nghề, với đời.

Nhân dịp chuẩn bị xuất bản cuốn Gặp nhà văn Việt Nam đương đại, chúng tôi đã có dịp trò chuyện cùng chị về quan niệm văn chương, những day dứt trong lao động sáng tạo và mối quan hệ giữa nhà văn với thời đại. Dưới đây là những chia sẻ chân thành, giàu suy tư từ một người viết luôn đặt chữ “tâm” lên hàng đầu.

Người làm sách (-):  Được biết chị từng nói: "Viết là một nghề. Nó giống như mọi nghề khác ở chỗ phải có kỹ năng và lương tâm." Chị có thể chia sẻ cụ thể hơn về "kỹ năng" và "lương tâm" mà một nhà văn cần có, theo góc nhìn của chị sau hàng chục năm trong nghề?

Nhà văn Trần Thùy Mai (+):  Khi còn trẻ tôi từng nghĩ vậy, rằng chỉ cần có kỹ năng và lương tâm là có thể đi trên bất kỳ con đường nào mà cuộc đời mở ra trước mặt.

Bây giờ sau nhiều năm cầm bút, tôi hiểu ngoài hai điều đó, nghề viết còn đòi hỏi một trực giác nghệ thuật – một thứ rất khó diễn tả nhưng là quan trọng nhất. Một sức mạnh từ bên trong luôn dẫn dắt tâm hồn mình, một trực giác được tạo hóa cài cắm và thiết kế riêng cho từng người cầm bút. Nó quyết định mình viết điều gì, và viết như thế nào. Nó khiến mỗi người viết có một dáng nét riêng, không ai giống ai.

-Chị quan niệm "viết là đối thoại". Cuộc đối thoại này diễn ra với ai? Với chính mình, với bạn đọc hôm nay, với lịch sử, hay với những nhân vật của chính mình? Và làm thế nào để giữ được sự chân thành trong cuộc đối thoại ấy?

+ Trước hết là đối thoại với chính mình, trả lời những trăn trở của chính mình. Cuộc sống đầy những góc khuất: góc khuất của tâm hồn, góc khuất của cuộc sống, góc khuất của lịch sử. Viết chính là gợi lên những câu hỏi rồi tìm cách trả lời những câu hỏi ấy.

Và, nếu những cảm xúc, suy tư của mình đủ chân thành để chạm tới cảm xúc, suy tư của nhiều người, thì lúc đó đối thoại với chính mình cũng chính là đối thoại với người đọc. Nếu cuộc đối thoại ấy không diễn ra, nếu người đọc không thấy trong trang viết có nỗi niềm của chính họ, thì tác phẩm ấy sẽ không có ai đọc nữa.

Bởi vậy nói rằng người cầm bút phải chân thành là chưa đủ. Phải nói chân thành là yếu tính nhất định phải có của văn chương. Không có chân thành thì không có đối thoại, chỉ có truyền bá, tức là người viết chỉ nói một mình!

-Từ truyện ngắn "rất Huế" đầy nữ tính sang tiểu thuyết lịch sử quy mô, đó có phải là một sự thay đổi có chủ ý trong tư tưởng nghệ thuật của chị? Điều gì thúc đẩy sự chuyển hướng mạnh mẽ này?

+ Khi tôi còn ở Huế, cuộc sống khá nhàn tản, muốn viết một truyện ngắn nhiều khi chỉ cần nhìn quanh ra bốn phía, sẽ bắt được những cảnh đời, những câu chuyện thú vị để làm chất liệu. Tôi đã ở Huế hơn nửa đời người nên những gì ở vùng đất ấy đối với tôi đều rất quen thuộc, có thể cảm nhận và chia sẻ một cách dễ dàng.

Năm 2012 vì hoàn cảnh gia đình tôi phải vào Nam, rồi năm 2017 đi sang Mỹ. Cuộc sống bận rộn hơn, những mẩu đời Huế chung quanh cũng đã xa, không còn cảm nhận được hàng ngày nữa. Nhưng, hình ảnh đền đài cung điện, phong cảnh sông núi và những giai thoại lịch sử về Huế thì vẫn ở trong tôi. Giai đoạn này, tôi đã từng trải hơn và có nhiều suy nghĩ về cuộc sống. Bởi vậy tôi bắt đầu viết tiểu thuyết, với hai nguyện vọng: minh định lịch sử và ôn cố tri tân. Tất nhiên, không phải bằng cách của một sử gia, mà bằng cách của một nhà văn viết truyện sử.

Chắc bạn sẽ thắc mắc vì sao bận rộn hơn mà lại viết sách dày hơn? Đúng vậy đó, viết truyện ngắn giống như thực hiện một chuyến bay, anh phải đổ dầy nhiên liệu cảm xúc và bay cho đến khi hạ cánh. Anh không thể đi dạo phố khi chưa ra khỏi máy bay. Còn viết tiểu thuyết giống như lái một chuyến tàu xuyên Việt, có thể chia hành trình ra làm nhiều chặng, tiếp nhiên liệu dọc đường, và khi cần cũng có thể xuống tàu đi một vòng trước khi đi tiếp...

-Trong một thời đại nhiều xáo động, tốc độ và giải trí, theo chị, một tác phẩm văn chương "xứng tầm" cần phải hội tụ những yếu tố nào? Nó phải đáp ứng những "đòi hỏi" gì từ phía thời đại?

+ Trước hết cần phải nói rằng không có một đáp án chung cho mọi nhà văn. Theo tôi nhà văn viết trước hết là vì sự thôi thúc nội tâm của chính mình, mà chính sự thôi thúc nội tâm đó làm cho tác phẩm thâm nhập được vào vài ngàn hay vài vạn hoặc hàng triệu tấm lòng, tùy theo độ thành công của tác phẩm.

Còn về khái niệm "xứng tầm" thực bụng tôi thấy hơi lấn cấn! Vì khái niệm này bao hàm ý tưởng rằng trong thời đại kỳ vĩ thì văn chương phải gắng có những tác phẩm kỳ vĩ cho xứng đáng. Nhưng cách đòi hỏi như vậy sẽ làm cho nhà văn trở nên những người thợ hướng ngoại chỉ chăm chăm đo ni tấc để đóng ra những chiếc giày cho "thời đại" xỏ chân.

Trên thực tế văn chương lại phát triển theo một lộ trình khác hẳn, nó không phải cặp lộc bình phải có chiều cao tương xứng với căn nhà tráng lệ! Ví dụ như thời Lê Mạt, xã hội Việt lúc đó rất điêu linh tan nát, nhưng lại là thời xuất hiện nhiều tuyệt tác của văn chương: Kiều, Cung Oán, Chinh phụ ngâm...

Thời Thịnh Đường văn chương phát triển rực rỡ, đúng là "xứng tầm" với sự phát triển về kinh tế, chính trị của thời đại! Nhưng được vậy không phải là do các nhà văn của họ cố gắng viết cho "xứng" mà chính là do các vua Đường đã có thái độ cởi mở đa văn hóa hiếm thấy trong những triều đại về sau.

Văn chương phản ánh muôn mặt của đời sống, cái nhỏ nhất vẫn có thể bao hàm cái lớn lao nhất: tiếng khóc của một người đàn bà, có khi lại là tiếng nói tiêu biểu của một thời đại! Viết chân thành, thì nói về một giọt nước cũng có đại dương trong đó. Bằng ngược lại, có tả một đại dương cũng chẳng có gì bên trong cả!

-Khi bắt tay vào hai bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ (Từ Dụ Thái hậu và Công chúa Đồng Xuân), áp lực lớn nhất của chị là gì? Áp lực từ khối tư liệu khổng lồ, từ việc diễn giải lịch sử, hay từ kỳ vọng của công chúng vào một "tác phẩm lớn"?

+ Áp lực lớn nhất là sức khỏe! Khi chuyển sang viết tiểu thuyết, tôi không còn trẻ nữa. Viết Công chúa Đồng Xuân, tôi phải tổng hợp tư liệu mất hơn một năm, từ rất nhiều nguồn. Khâu chót của việc làm tư liệu là soạn ra mốc thời gian, tức là ghi ra theo lịch trình từng năm, từ năm 1858 đến 1888: Từng năm một với hành vi của gần 50 nhân vật, để bảo đảm không nhầm lẫn về các sự kiện trước sau trong đời người của họ. Sau đó mới viết. Buổi sáng viết chương mới, buổi khuya tôi rà soát và chỉnh sửa, đến hai giờ sáng mới tạm nghỉ. Buổi chiều và tối là dành cho những công việc khác của cuộc sống. Cứ đều như vắt chanh, ngày nào cũng vậy trong suốt hai năm. Để trụ được, tôi ngồi thiền mỗi sáng 25 phút. Những thời khắc sau khi tĩnh tọa tôi thường thấy những ý tưởng mới hiện ra, liền vội vàng ghi lại vì có thể vài giờ sau tôi sẽ quên!

Còn áp lực mà hầu như người viết tiểu thuyết lịch sử nào ở nước ta cũng gặp, là xu hướng bình luận sự kiện lịch sử theo cách nhìn một chiều từ một số ít độc giả. Số ít bạn đọc này không thể chấp nhận việc phản tư lịch sử, và thường có phản ứng vượt ngoài phạm vi văn học.

Tôi có thể thấy trước điều đó từ khi đang viết, và phải vượt qua tiên cảm ấy, nếu không tôi sẽ không viết được như ý mình mong muốn. Viết về một câu chuyện lịch sử, rất cần góp một góc nhìn, một phát hiện hay một giả thuyết mới, miễn là giả thuyết đó dựa trên suy đoán hợp lý và sự đối chiếu những nguồn tư liệu mới. Nếu không, thì người đọc cần tiểu thuyết để làm gì? Tôi quan niệm, một tiểu thuyết chỉ lập lại lịch sử theo cách học được ở nhà trường thì chỉ là một chuyện kể minh họa mà thôi.

-Chị từng chia sẻ việc viết "Công chúa Đồng Xuân" khó hơn vì phải đưa ra những luận điểm mới và cần sự chính xác tuyệt đối. Có những lúc chị thấy bế tắc giữa "một rừng tư liệu". Chị đã vượt qua những bế tắc ấy như thế nào? Có bao giờ chị phải đấu tranh giữa sự hấp dẫn của hư cấu nghệ thuật và sự tôn trọng sự thật lịch sử?

+ Khu rừng nào cũng vậy, lúc mới bước vào ta sẽ thấy choáng vì thấy quá rậm rì và ngổn ngang! Nhưng khi nhìn kỹ và phân tích ta sẽ thấy những lối đi, khoảng trống, và sự rối ren kia ẩn giấu một trật tự lớp lang rất logic từ trong nội tại của nó. Lịch sử cũng vậy.

Tôn trọng sự thật lịch sử và xây dựng hư cấu nghệ thuật thật ra không mâu thuẫn với nhau, nếu mình có nguyên tắc về sử dụng chất liệu: chính sử, ngoại sử và giai thoại dân gian.

Về các sự kiện lớn, tôi bám chặt chính sử. Ví dụ, vua Gia Long lên ngôi năm 1802, hoặc kinh đô Huế thất thủ năm 1885, đó là sự kiện đã được chính sử triều Nguyễn và nhiều nguồn tư liệu khác ghi chép, tôi phải tuân thủ chính xác điều đó.

Về những sự kiện tuy chính sử có ghi nhưng thông qua nguồn chứng cứ không đủ thuyết phục, tôi có thể đặt giả thuyết khác, hoặc bổ sung bằng giai thoại ngoại sử. Ví dụ, vương phi Tống Thị Quyên bị xử tội gian dâm với con trai, do có người thấy đôi giày của bà dưới gầm giường của Hoàng tôn Mỹ Đường rồi đi tố giác. Theo tôi, chứng cứ này cũng như nhân chứng (vô danh) không đủ thuyết phục, tôi có thể dùng hư cấu để đặt nghi vấn. Vì một đôi giày xuất hiện dưới chân giường ai đó không đủ để kết luận chủ nhân nó đang ở trên giường, và luật triều Nguyễn cũng như các đời trước đều quy định yếu tố quan trọng để kết tội gian dâm là phải bắt "quả tang". Vậy tại sao trong vụ việc này lại được xử hấp tấp với chứng cứ lỏng lẻo như vậy?

Xây dựng nhân vật, tôi theo sát hoàn cảnh và tính cách, nhưng có thể thêm bớt những chi tiết phụ để tăng hiệu ứng thẩm mỹ nếu không ảnh hưởng đến tình huống của cốt truyện. Ví dụ hoàng phi Ngọc Bình được vua Gia Long lập làm Đức phi trong 8 năm thì qua đời, khi mất bà đã có 4 con với nhà vua. Nhưng trong tiểu thuyết tôi chỉ nhắc tới 2 người con thôi, vì một người đẹp kéo theo một đàn 4 đứa con rất rườm rà trong mắt người đọc thời nay, mà nhắc đến cho đủ số con của bà cũng chẳng có tác dụng gì cả.

Việc giảm chi tiết phụ này là thủ pháp thường xuyên được dùng trong tiểu thuyết lịch sử từ xưa. Ví dụ như trong Hoàng hậu Margot (La Reine Margot) của Alexandre Dumas, vua Henry II có 2 con gái, Elizabeth Valois và Marguerite Valois. Nhưng trong tiểu thuyết tác giả chỉ nhắc tới Marguerite (Margot) thôi. Không phải Alexandre Dumas không biết tới sự tồn tại của Elizabeth, nhưng ông muốn làm nổi bật Margot, vì riêng mối tương quan giữa bà này với ông chồng và các ông anh em trai của bà cũng đã phức tạp lắm rồi!

-Chị có cho rằng nhà văn thời nay cần có "trách nhiệm xã hội" trong sáng tác? Và trách nhiệm ấy được thể hiện ra sao, khi văn chương trước hết phải là văn chương?

+ Trách nhiệm xã hội của nhà văn là viết ra những cuốn sách đem lại cảm xúc thăng hoa cho người đọc. Khi nhỏ tôi mê đọc truyện lắm, (bây giờ vẫn mê). Cho nên tôi biết cái cảm giác hạnh phúc khi đọc được một tác phẩm "hợp gu", giúp mình có thêm tri thức và có sự rung động sâu sắc về đời người. Khi lớn lên cầm bút tôi mong muốn đáp trả cho cuộc đời những gì mình đã thụ nhận: viết ra những trang sách và đem lại cho người đọc những giây phút hạnh phúc.

"Và trách nhiệm ấy được thể hiện ra sao, khi văn chương trước hết phải là văn chương?" Câu hỏi này làm tôi nhớ đến cuộc tranh luận trong làng văn Việt Nam gần một thế kỷ trước, cuộc tranh luận "Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh" giữa hai vị tiền bối là Hoài Thanh và Hải Triều. Theo tôi, Nghệ thuật vị nghệ thuật, và nghệ thuật vị nhân sinh, thật ra không mâu thuẫn với nhau! Bởi nghệ thuật tất nhiên phải vì cuộc đời này, nhưng để tạo được giá trị cho đời thì trước hết nó phải là nghệ thuật!

Như Truyện Kiều, có vị nhân sinh không? Chắc chắn là có rồi! Nó đã là dưỡng chất tinh thần cho bao nhiêu thế hệ người Việt. Và sở dĩ nó có thể vị nhân sinh, thực hiện được thiên chức của mình trong cuộc đời, trước hết vì nó thực sự là nghệ thuật, không phải thứ giả, không phải loại "mì ăn liền". (Tôi thường nghĩ ước gì mình là họa sĩ, sẽ vẽ Tố Như tiên sinh theo trí tưởng tượng của tôi, một thư sinh già ốm yếu nhưng có đôi mắt rất lớn, rất sâu, đầy xót thương, đôi mắt đã nhìn thấu suốt bao nhiêu nỗi đau của nhân gian.)

Sách của chị, như chị đã nói, có thể không phải "best-seller" ồn ào nhưng luôn tìm được bạn đọc trung thành. Chị nghĩ gì về mối quan hệ giữa "giá trị nghệ thuật" và "sự đón nhận của đại chúng"? Làm thế nào để giữ vững "chất lượng" riêng mà vẫn có sự đồng cảm rộng rãi?

+ Hồi tôi còn viết truyện ngắn thì đúng là sách chỉ bán được ở mức trung bình. Nhưng hiện nay khi online tôi thấy hầu hết các truyện ngắn của tôi đều đã được bạn đọc biến thành file audio lan tỏa trên mạng. Không ai nói gì với tôi về bản quyền, nhưng tôi rất vui vì nếu nói viết là đối thoại, thì mục đích của tôi đã đạt.

Từ khi viết tiểu thuyết, nhờ có sự tích cực phát hành của Nhà xuất bản Phụ Nữ, nên đời viết của tôi đã có những cuốn sách có thể xếp vào "best-seller", ra đời là tái bản ngay trong vòng một tháng. Cuốn Từ Dụ Thái Hậu là bán chạy nhất, đến nay phát hành đã 7 năm nhưng số liệu trên nhiều trang bán sách online cho thấy vẫn là sách bán tốt trong hạng mục sách văn học.

Về "mối quan hệ giữa giá trị nghệ thuật và sự đón nhận của đại chúng"? Trước đây tính đại chúng và tính nghệ thuật vẫn được xem là thuộc về hai đẳng cấp khác biệt, trong văn chương cũng như trong điện ảnh. Nhưng hiện nay, khoảng cách đó có xu hướng thu hẹp lại. Theo tôi, đó là vì nhà văn đã nhận ra tính đối thoại của văn học, đặc biệt là trong một thời đại mà văn hóa chữ đang bị cạnh tranh dữ dội bởi văn hóa màn hình. Vào những năm 60, 70, sinh viên ai cũng đọc Albert Camus, Jean Paul Sartre... Có những học sinh mới 14, 15 tuổi đã cầm sách của Phạm Công Thiện, của Krishnamurti trên tay (không biết đọc có hiểu không). Nhưng hôm nay, ngay những trí thức tinh hoa nhất cũng bị hút và chia sẻ rất nhiều thời gian cho các thể loại nghe nhìn đang phát triển như vũ bão. Văn học muốn giữ được người đọc nhất thiết phải rời khỏi tháp ngà của chữ nghĩa để đối thoại với công chúng bằng một ngôn ngữ dễ tiếp cận mà vẫn không đánh mất sự sâu sắc và thâm thúy.

Khi còn đi học, tôi thích cách viết của nhà thơ Bạch Cư Dị: cảm sâu, nghĩ lớn, lời giản dị. Một giai thoại kể rằng, mỗi lần viết xong một bài thơ, ông thường đọc cho nhũ mẫu nghe, nếu nhũ mẫu hiểu được và cảm được thì ông mới cho là đạt. Một cách viết đã rất xa xưa, nhưng lại rất phù hợp với thời đại mới?

-Là một người sống giữa hai nền văn hóa (Việt Nam và Mỹ), việc "nhìn từ xa" đó đã ảnh hưởng thế nào đến đề tài, cách cảm và cách nghĩ của chị khi viết về Huế, về Việt Nam? Nó có giúp chị nhận ra những "đòi hỏi" mới của công chúng trong nước và cả hải ngoại?

+ Đời tôi có ba sở thích: viết, đọc và đi. Có đi xa mới hiểu hết những đặc điểm của quê hương mình, đất nước mình. Có quan sát cuộc sống ở những nơi khác mới chiêm nghiệm được nhiều hơn về dân tộc tính Việt. Tôi đã đi bằng mọi cách. Những chuyến đi có lúc dễ chịu, có lúc vất vả, chúng giúp tôi thấy nhiều dáng nét văn hóa, cách nghĩ, cách sống, lịch sử của con người ở nhiều nơi khác nhau. Từ đó tôi thấy rõ hơn những đặc điểm văn hóa lịch sử của người Việt, của người Huế. Bởi vậy khi viết Công chúa Đồng Xuân, tôi đặt cuộc đối đầu giữa Việt Nam và Pháp vào trong bối cảnh toàn cầu của cuộc chiến.

Cuộc sống ở Mỹ không ai làm phiền ai, rất thuận lợi để ngồi yên viết dài. Phần lớn người Việt ở Mỹ rất bận, ai cũng ham làm việc và tuổi nghỉ hưu khá cao nên họ làm cho đến khi không thể làm được nữa. Bởi vậy thời gian đọc truyện không nhiều và thường người ta nghe nhạc hoặc nghe sách nói trong thời gian lái xe trên đường đến chỗ làm, mỗi ngày vài ba tiếng là thường. Bởi vậy xu thế sách nói đang tăng lên, sách giấy giảm dần xuống. Trong tương lai tình hình ở nước ta có thể cũng tương tự, bởi vậy, các nhà xuất bản rất cần quan tâm đến sách audio, sẽ là tương lai của ngành xuất bản.

Hành trình hơn 40 năm cầm bút, điều "ngọt ngào" nhất và "chua chát" nhất mà nghề văn mang lại cho chị là gì? Có khoảnh khắc nào chị từng nghĩ đến việc buông bút?

+ Nói về cái "chua" thì chắc ai cũng biết rồi, nhà văn phần lớn có cuộc sống thanh bạch. Tôi đã từng làm nghề đi dạy trong mười năm trước khi chuyển sang làm sách và viết sách. Đi dạy phải soạn giáo án, cũng rất công phu, mỗi năm tuy có chỉnh sửa nhưng có thể dùng lại phần lớn. Sáng tác thì không thể, mỗi lần viết là một lần cất cánh, mà mỗi chuyến bay lại phải khác hẳn nhau. Nghề viết là một nghề thuần túy sáng tạo, nhưng sống bằng nhuận bút không phải việc dễ dàng. Trong khi đó, sự đòi hỏi của mọi người đối với nhà văn là rất lớn. Nói cho vui thôi, nhưng là sự thật: Rất nhiều người, khi biết mình là một nhà văn liền hỏi: "Sao Việt Nam chưa có giải Nobel văn chương?" Ôi một câu hỏi thật khó trả lời! Trong khi đó không hề có ai gặp một bác sĩ mà lại hỏi: "Sao Việt Nam chưa có giải Nobel y học?"

Còn ngọt?

Ngọt ngào nhất vẫn luôn là tình cảm của bạn đọc! Lần ra mắt sách Công chúa Đồng Xuân ở Huế, nhiều bạn đọc vượt đường xa từ Hội An, Đà Nẵng ra dự, gặp nhau trong vài giờ đồng hồ ngắn ngủi rồi lại quay về nhiệm sở. Một lần khác, ra mắt Từ Dụ Thái Hậu ở Hà Nội, có một lớp chuyên văn từ Nam Định đi xe ra dự. Hoặc có lần tình cờ tôi thấy trên mạng một hoạt cảnh của học sinh Trung học cơ sở của trường nào đó, các em vào vai Trương Đăng Quế, Miên Tông và Phạm Thị Hằng trong chương "Đàn tràng ở chùa Thiên Mụ" lúc những chàng trai, cô gái này đang thả hoa đăng trên sông Hương. Những lúc đó tôi cảm thấy đời viết văn thật là hạnh phúc. Thực sự không biết làm sao đền đáp được ân tình của các bạn ấy.

Ngọt thứ hai: nhờ nghề văn mà tôi được đi đó đi đây khá nhiều. Thời tôi còn ở Huế, việc đi du lịch còn chưa dễ dàng và thuận tiện như bây giờ, ngay với người giàu có. Nhưng tôi là một nhà văn nghèo kiết, đã được đi những chuyến đi kỳ thú đến Nhật, Pháp, Thụy Điển... Mỗi lần có một truyện ngắn được dịch thì lại được một tổ chức văn học ở nước bạn mời sang chơi.

Cái ngọt thứ ba: Nghề văn cũng cho tôi những người bạn từ khắp xa gần, các bạn viết từ Hà Nội, Sài Gòn, từ nước ngoài đến Huế, luôn gặp nhau trong tinh thần "Tứ hải giai huynh đệ". Và, cũng nhờ viết mà tôi gặp nhà tôi – người đã đọc truyện ngắn của tôi nên gửi mail làm quen. Sau đó 6 năm chúng tôi kết hôn và từ đó tôi có thêm nơi cư trú thứ hai là San Francisco.

Nếu được gửi một lời nhắn nhủ đến những người trẻ đang bắt đầu dấn thân vào con đường sáng tác văn chương đầy thử thách ngày nay, lời khuyên cốt lõi của chị sẽ là gì?

  + Chân thành với bản thân, với tha nhân và với trang viết. Có lúc nào đó thấy hoang mang, thì hãy nghe theo tiếng nói của trực giác nghệ thuật trong lòng mình.

- Cám ơn nhà văn với những chia sẻ chân thành và giàu suy tư !

Lê Ngọc Tú (thực hiện)
(Rút tư sách ”Gặp nhà văn Việt Nam đương đại”, 2 tập. Lê Ngọc Tú. Nhà xuất bản Văn học. 2026)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hữu Thỉnh - Chân dung bạn văn của Nguyễn Quang Lập
Mình quen Hữu Thỉnh năm 1980, hồi đó anh về học trường viết văn Nguyễn Du khoá I, ở khu tập thể Vân Hồ. Đọc thơ anh trước đó, bài nào cũng thích, đặc biệt bài Chuyến đò đêm giáp ranh, đọc lần thứ 2 là thuộc liền.
Xem thêm
Người cày chữ trên thảo nguyên lịch sử
Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi ông là cây bút sung sức của tiểu thuyết lịch sử. Hơn ba mươi năm viết, hơn ba mươi đầu sách, từ một binh nhì làm báo tường đến Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội – Phùng Văn Khai vẫn giữ cái cách nói thẳng, viết thật.
Xem thêm
Quầng sáng tinh thần trong truyện ngắn Nguyễn Trường
Bài đăng Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 216, ngày 9/7/2026
Xem thêm
Theo năm tháng đi...
Bài viết “Theo năm tháng đi” của nhà thơ Hoàng Quý sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm vê miền thơ lấp lánh của Hà Đình Cẩn, mảng sáng tác phong phú nhưng chưa thật nhiều người biết.
Xem thêm
Cầm súng, cầm bút bằng niềm tin, lẽ sống
Nhân chuyến công tác tại Hà Nội, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng, nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 (hiện sống tại phường Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện thú vị. Suốt hơn hai giờ đồng hồ, những câu chuyện của một thời lửa đạn cứ thế ùa về không dứt trong giọng kể trầm ấm và trí nhớ mẫn tiệp của một người lính dày dạn trận mạc đã ở độ tuổi xưa nay hiếm.
Xem thêm
Cố Thượng tướng Phùng Thế Tài được đặt tên đường ở TP. Nha Trang và TP. Lào Cai
Năm 2022, tại TP. Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa), TP. Lào Cai (tỉnh Lào Cai) và một số khu đô thị ở các tỉnh thành khác, các đường phố giao nhau được đặt tên theo một số tướng lĩnh quân đội, trong đó có cố Thượng tướng Phùng Thế Tài.
Xem thêm
Nhạc sư Vĩnh Bảo và hành trình trao truyền gia tài văn hóa Việt
Việc am tường cả âm nhạc Tây phương cùng kinh nghiệm đóng đàn thực tế hơn 60 năm qua đã giúp ông tạo nên những nhạc cụ thương hiệu Vĩnh Bảo độc nhất vô nhị. Mỗi cây đàn do ông làm ra, từ khâu chọn thớ gỗ, xử lý hợp âm đến việc đục khe “thở” đều được tính toán tỉ mỉ như một công trình kiến trúc âm thanh. Chính cố Giáo sư Trần Văn Khê trong hồi ký từng thán phục rằng cây đàn tranh bằng gỗ Kiri mà Nhạc sư Vĩnh Bảo đóng cho ông có âm thanh tuyệt hảo đến mức quá “thượng thừa” mà các chuyên gia âm thanh học người Pháp cũng phải trầm trồ, thán phục.
Xem thêm
Lại Văn Long - Ngòi bút lửa!
Những tháng ngày lăn lộn trong nghề báo nhiều nguy hiểm, nhà văn Lại Văn Long đã trải qua đủ cung bậc cảm xúc. Nhưng anh vẫn yêu nghề mãnh liệt và ước mơ sau này anh sẽ có những cuốn sách, những thước phim phản ánh được cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm rất cam go, nguy hiểm nhưng đầy tính nhân văn của lực lượng Công an Nhân dân. Sau khi tốt nghiệp lớp bồi dưỡng nghiệp vụ 6 tháng ở Đại học An ninh; anh càng tin rằng mình sẽ hoàn thành được ước mơ đó!
Xem thêm
Nhà giáo, nhà thơ Huệ Triệu
Đội ngũ các nhà thơ xuất thân từ nhà giáo từ khắp mọi miền quê đất nước khá đông đảo. Riêng ở Sài Gòn, có thể kể đến các chị: Đặng Nguyệt Anh, Tôn Nữ Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Thanh Long, Huệ Triệu… Nét nổi bật trong thơ của các nhà sư phạm phái đẹp là sự đằm sâu, với nhiều tìm tòi mới mẻ, song vẫn giữ được sự điềm đạm, và đầy trách nhiệm công dân.
Xem thêm
Nhà văn Xuân Phượng - Một bản lĩnh “chân cứng đá mềm” trong sáng tạo và trong cuộc đời
Có những cuộc đời mà khi soi vào, chúng ta không chỉ thấy chiều dài của thời gian, mà còn thấy cả chiều sâu của lịch sử, chiều rộng của một tâm hồn và tình yêu vô bờ bến của một trái tim.
Xem thêm
Người đi vắng của văn chương
LTS: Nguyễn Bình Phương là gương mặt đặc biệt của văn chương đương đại, lặng lẽ, kiệm lời, gần như luôn đứng ngoài những ồn ào của văn đàn. Trong cái nhìn của nhà văn Phạm Ngọc Tiến, ông là “người đi vắng” ở các đám đông, nhưng lại hiện diện bền bỉ và khác biệt trong từng trang viết.
Xem thêm
Phạm Thiên Thư: Người đi tìm bụi đỏ đã hóa thân vào “cát bụi” phận người
Chiều tối, lúc 18h24 phút, Báo Giác Ngộ Online - Cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin về việc “ra đi”, xa lìa cõi tạm của thi sĩ Phạm Thiên Thư với một dòng tin ngắn nhưng trang trọng: “Phạm Thiên Thư tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người “thi hóa kinh Phật” vừa từ trần lúc 6h15 phút, chiều nay, 7/5/2026”.
Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm