TIN TỨC

Tình đầu thơ dại - Bút ký Lại Văn Long

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-07-16 23:15:43
mail facebook google pos stwis
1661 lượt xem

Tôi phá phách, lì lợm, ngày nào cũng đánh nhau với bạn, với cả các anh lớp trên, ngày nào cũng bầm dập, đau nhức mình mẩy.

Nhà văn Lại Văn Long

Tôi 11 tuổi, đang học lớp 5 Trường tiểu học Cộng đồng Đa Nghĩa (nay là Trường tiểu học Lê Lợi, P6, TP.Đà Lạt) thì Đà Lạt được giải phóng (ngày 03-4-1975). Nhà tôi từ đường Hai Bà Trưng chuyển về đường Nguyễn Công Trứ nên mỗi trưa tan học, tôi thường ôm cặp đi bộ về cùng các bạn nữ như: Hằng, Hải, Hạnh và bạn nam là Trí (nhân vật này đã được đổi tên). Trường ở trên đồi, chúng tôi xuống cầu thang cổng phụ băng qua đường Hai Bà Trưng vào con hẻm đất gồ ghề trước nhà cô Huệ bán bánh kẹo, sách vở…, qua một cây cầu gỗ không có lan can bắc qua con suối, rồi đi bộ một đoạn qua những vườn dâu, rau củ lúc nào cũng bốc mùi phân cá với thuốc sâu, để ra đường Phan Đình Phùng. Ở ngã ba đó chúng tôi chia tay nhau, Hằng với Trí rẽ phải, tôi với Hải, Hạnh rẽ trái… Ngày nào cũng vậy nên 5 đứa dần dần thân nhau.

Sau khi nghỉ học khoảng 2 tuần, trường đón học sinh trở lại. Chúng tôi được thầy cô dạy những bài hát cách mạng… Cứ tới giờ học hát, tôi lại nhớ những bài hát đã thuộc lòng trước đó ở trường, hay những bài tôi nghe trên radio, máy hát dĩa: Xuân này con không về, Em nghe gì không hỡi em, Em ước mơ gì tuổi 12 tuổi 13… Giờ nghe, học hát nhạc cách mạng với giai điệu, nội dung hoàn toàn mới, tôi thấy bị kích thích dữ dội, từ ngỡ ngàng sang rung động mãnh liệt với những câu hằn in vào tâm não, như: “Bác chúng em thề cương quyết trả thù nhà…” hay “… Anh Kim Đồng ơi… khi anh xa rồi, gương anh sáng ngời đàn em cố noi theo…” hoặc “… Lòng mở cờ, tim gióng trống quyết trả thù nhà, đền nợ nước… ta đi lên chiến đấu đến cùng”!

Tôi yêu nhạc mới qua hình ảnh người cán bộ cách mạng cùng hai du kích mang súng đến khu nhà trọ tuyên bố: “Những người ở nhà thuê không phải trả tiền nhà nữa. Cách mạng cấm chủ nhà bóc lột dân nghèo!”. Bà chủ nhà hay chửi mắng đám con nít thuê trọ vì chúng ồn ào và bị bà nghi hái trộm bơ với đào, giờ run rẩy, không còn chống nạnh xỉ vả bố mẹ chúng nó mỗi đợt thu tiền nhà. Điều này làm đứa trẻ nghèo ở nhà thuê như tôi hả dạ và xúc động mỗi khi hát những câu ca cách mạng thúc giục “lên đường”. Tôi ước mình lớn hơn tuổi 11 để… “đi lên chiến đấu đến cùng!” như lời bài hát đã thuộc.

Tôi với Hằng học giỏi nên được cử thi “Đố vui để học” trong khối lớp 5. 47 năm rồi tôi vẫn nhớ những câu hỏi mà mình đã trả lời được, như “Đi từ Bắc vô Nam bằng đường bộ, ngoài Quốc lộ 1, còn đường nào?” – đáp án là đường mòn Hồ Chí Minh. “Con cá lặn xuống, trồi lên nhờ cái gì” – đáp án: bong bóng trong bụng cá. “1 tạ bông gòn với 1 tạ sắt, cái nào nặng hơn?” – đáp án: bằng nhau…

Tôi ấm ức, còn Hằng đã khóc vì hai đứa cùng được 25 điểm bằng đôi bạn mà vẫn bị loại, không hiểu tại sao? Lần đầu thấy Hằng khóc, tôi thương bạn vô cùng. Cũng từ đó tôi bỗng phát hiện Hằng xinh đẹp nhất lớp. Tôi thích được nói chuyện với Hằng và ước ao con đường tan trường quen thuộc cứ dài mãi để tôi được sánh bước cùng Hằng. Nhưng sự thật đáng ghét hơn ước mơ. Hằng chỉ đi với tôi hai trăm mét trên đoạn đường tắt, khi ra tới ngã ba Phan Đình Phùng thì nàng rẻ phải theo thằng Trí, bỏ lại tôi hụt hẫng trên từng bước nặng trĩu trở về nhà.

Hải với Hạnh thong thả đi sau, thỉnh thoảng lại cười ré lên như trêu chọc làm tôi càng bực bội. Tôi bỗng ghét thằng Trí – ngày nào nó cũng được đi chung đường với Hằng nhiều hơn, được Hằng tỏ ra thân thiết hơn. Tại sao bất công như vậy khi tôi cao lớn hơn Trí, học giỏi hơn Trí, bắn bi hay nhất lớp, đánh nhau xếp hạng ba và lúc nào cũng muốn nói chuyện, giúp đỡ Hằng!

Càng nghĩ càng ấm ức nên tôi càng ghét Trí. Hai đứa ngồi cùng bàn, tôi tìm cách thúc cùi chỏ, đá chân, giật tập vở, làm tòe ngòi bút lá tre của nó. Giờ ra chơi thì tôi gây sự để gạt chân cho nó té dơ quần áo, cốc trên đầu hay đấm nó thật đau. Trí tức và đau, nhưng hiền lành nên không phản kháng. Tôi được thể leo thang, hôm nào tan trường về cũng cố tình đập rơi cặp của Trí, đá đít, nhéo tai nó. Mỗi khi Trí nhăn nhó vì đau hoặc năn nỉ xin đừng giỡn vậy nữa, tôi càng đắc ý vì nghĩ chắc ba bạn nữ, nhất là Hằng đang “nể” tôi như thằng Trí vậy. Thế là ngày nào tôi cùng diễn trò đó với Trí…

Nhưng hôm đó, tự nhiên Trí phản ứng, chửi và đánh lại tôi. Tôi kinh ngạc và không muốn “mất mặt” với ba bạn nữ nên vất cặp, lao vào vật, đè Trí xuống sàn cầu bắc qua suối. Ba bạn nữ lâu nay rất ác cảm vì tôi cầm đầu nhóm bạn trai quậy phá và hay ức hiếp các bạn khác. Mỗi ngày họ lại chứng kiến tôi hành hạ Trí nên… “tức nước vỡ bờ”. Cả ba cùng buông cặp lao vào phụ Trí lật ngược tình thế rồi giữ tay chân tôi cho Trí “trả thù”. Tôi đã khóc vì trận đòn hội đồng đó. Không phải vì thua, vì đau, vì nhục mà vì… Hằng đã bênh Trí, đánh tôi!

Tôi phá phách, lì lợm, ngày nào cũng đánh nhau với bạn, với cả các anh lớp trên, ngày nào cũng bầm dập, đau nhức mình mẩy. Nhưng chưa bao giờ đau kiểu lạ lùng, tan rã hết ý chí như lần nhận ra Hằng thù ghét, khinh khi tôi. Tôi đứng lên lau nước mắt, phủi bụi, tìm lại cặp rồi thất thiểu, cô đơn, ê chề lê bước trở về. Bốn “kẻ thù” của tôi đi trước một đoạn và vui vẻ bàn tán về chiến thắng toàn diện họ vừa thực hiện với tôi!

Tôi trở lại lớp vào hôm sau với nỗi buồn sâu xa, thấy mình lẻ loi, xấu hổ với cả lớp. Tôi rời nhóm nghịch phá, Trí cũng xin cô đổi chỗ ngồi. Hôm đó cô Thủy chủ nhiệm (nhà cô trên đường Thi Sách gần trường) tập cho cả lớp hát bài “Mùa xuân đến rồi, bản làng ơi…”. Các bạn sôi nổi hát theo cô, chỉ mình tôi ngồi gục đầu, câm lặng. Khi cả lớp đã về, cô giữ tôi lại để tập riêng, nhưng cổ họng tôi cứng đơ không hát nổi như những giờ tập hát trước. Cô dọa mãi không được, đành cho tôi về…

Mùa hè năm đó tôi rời Đà Lạt theo gia đình đi kinh tế mới ở RChai – cách Đà Lạt khoảng 40 cây số. Trên vùng đất mới, tôi và bạn bè hàng ngày vào rừng chặt củi, bắt tổ chim, hái trái dại hoặc đi câu, tát cá. Cuộc sống sôi động như vậy không hiểu sao tôi vẫn không quên được Hằng. Cứ mỗi lần nghe tiếng chim hót, tôi lại nhớ lúc Hằng khóc vì không được vào chung kết “Đố vui để học”. Nếu gặp một con chim màu sắc thật đẹp, không hiểu sao tôi lại tưởng tượng đó là Hằng hóa thân bay đi tìm tôi. Thường thì tôi buồn và thương Hằng khi nghĩ như vậy!

Năm 20 tuổi, tôi quay lại Đà Lạt tìm Hằng. Tôi leo con dốc nhỏ là nhánh hẻm của đường Phan Đình Phùng. Tôi đã từng tới nhà Hằng để mượn tập chép bài và lần ấy Hằng đã cho tôi một củ khoai còn nóng ấm. Căn nhà giản dị vẫn vậy, tôi đứng ở hàng rào gỗ thấp gọi cửa. Một phụ nữ trẻ bước ra và chị ta hoàn toàn không biết Phạm Thị Tuyết Hằng là ai. Chị an ủi tôi rằng: “Chắc nhà ấy về Sài Gòn…”. Tôi đi theo hướng dẫn ấy, lại làm báo nên cơ hội tìm kiếm rộng hơn. Tôi đã gặp vô số cô Hằng ở Sài Gòn và nhiều tỉnh, thành khác, nhưng Hằng làm tôi đau, nhớ và thay đổi năm 11 tuổi vẫn biền biệt. Tôi cũng mong gặp lại các bạn chung lớp, chung đường hồi đó như: Hạnh, Hải, Trí… Giờ này chắc họ cũng đã thành ông, bà ở tuổi xấp xỉ 60 rồi. Có ai nhớ câu chuyện này không nhỉ?

01-7-2022

Theo Lại Văn Long/Công an TPHCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm