TIN TỨC

Về bến Lộc An

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-10-19 15:51:00
mail facebook google pos stwis
108 lượt xem

ĐẬU THANH SƠN

Sau hơn hai tiếng đồng hồ, từ TP. Hồ Chí Minh, hai chiếc xe ô tô du lịch loại 45 chỗ ngồi, đưa đội ngũ văn nghệ sĩ chúng tôi đến bến Lộc An, trong một buổi sáng đẹp trời của mùa mưa phương Nam. Nắng vàng óng ả như rót mật ong lên từng mái nhà và cây cỏ hai bên đường. Nắng tháng 9 là thứ nắng giao mùa đặc trưng, nó rực rỡ nhưng không gay gắt như nắng mùa khô, thỉnh thoảng trong ngày đan xen những cơn mưa chiều bất chợt. Bầu trời sáng nay như xanh trong và cao hơn.

Đoàn VNS TP.HCM trước Đài và bia tưởng niệm Đoàn tàu không số

Đường ven biển Trần Vĩnh Lộc là con đường đưa chúng tôi đến khu di tích lịch sử “Đường Hồ Chí Minh trên biển”, hai bên là những rừng cây xanh mát, khung cảnh thật yên bình. Từ xa chúng tôi đã thấy Tượng đài và Bia di tích lịch sử, có biểu tượng hai ngọn lửa cao sừng sững, vươn lên giữa khung trời xanh lộng gió. Đài tưởng niệm và Bia là nơi ghi dấu chiến công oanh liệt của các chiến sĩ Đoàn tàu không số, đoàn tàu của những năm tháng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Phía trên bia có biểu tượng vô lăng lái tàu, thể hiện ý chí quật cường của quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam Anh hùng.

Sau khi thành kính dâng hương tại Đài tưởng niệm, chúng tôi vào tham quan nhà truyền thống, nghe thuyết minh viên nói về khu di tích, về những bức ảnh và hiện vật được trưng bày tại nhà truyền thống. Đồng chí thượng tá Hà Văn Hậu - Phó Chính ủy Lữ đoàn 125 Hải quân, giới thiệu về quá trình lịch sử và phát triển của Lữ đoàn. Tại hội trường khu di tích, Ban Tuyên giáo thành ủy triển khai sinh hoạt chuyên đề quý III, đồng chí Đại úy, CCB Tống Thành Lập - Thủy thủ tàu 56, là nhân chứng lịch sử của Đoàn tàu không số, kể về những chuyến vượt biển chở vũ khí vào miền Nam…

Sau phong trào đồng khởi Bến Tre năm 1960 và sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1960), là sự kiện hết sức trọng đại của cách mạng miền Nam, nhằm đoàn kết toàn dân chống lại xâm lược của đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Cũng trong thời kỳ này, đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh ở miền Nam. Vì vậy, ngày 23-10-1961, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã quyết định thành lập Đoàn 759, với tên gọi “Đoàn tàu không số”. Ngày 29-1-1964, Đoàn 759 đổi tên thành Lữ đoàn 125. Đơn vị có nhiệm vụ bí mật vận chuyển vũ khí, đạn dược và cán bộ chi viện cho chiến trường miền Nam bằng tuyến đường biển. Thời kỳ đó, căn cứ của Lữ đoàn 125 là Bến Bính (Hải Phòng, với số hiệu K20). Đơn vị sử dụng các tàu vận tải cỡ nhỏ, thâm nhập miền Nam tại các căn cứ ở bến sông Gianh (Quảng Bình), Sa Kỳ (Quảng Ngãi), Vũng Rô (Phú Yên), Lộc An (Bà Rịa - Vũng Tàu), Thạnh Phong (Bến Tre) và Vàm Lũng (Cà Mau).

Đồng chí Đinh Thị Thanh Thủy - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy phát biểu khơi gợi buổi sinh hoạt chuyên đề

Để tìm địa điểm thuận lợi, tạo nên bến bãi an toàn, đảm bảo yếu tố bí mật, đầu năm 1961, Trung ương Cục miền Nam đã cử cán bộ về huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa) để nghiên cứu địa hình, địa vật, tổ chức lực lượng, chuẩn bị bến bãi và cơ sở vật chất cần thiết để tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Đông Nam Bộ. Sau từng bước thăm dò, nghiên cứu địa hình và tình hình hoạt động của địch tại địa bàn, ta đã chọn khu vực ven biển từ Kẻ Gà, Hàm Tân đến Hồ Cốc, Lộc An để xác định đặt bến. Năm 1961, Trung ương Cục miền Nam đã quyết định chọn cửa biển Lộc An làm điểm đón tàu vận chuyển vũ khí của đường Hồ Chí Minh trên biển từ Bắc vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Sở dĩ Lộc An được chọn là một trong những điểm để Tàu không số cập bến, vì nơi đây nằm cuối hạ nguồn nơi sông Ray đổ ra cửa biển Lộc An. Bến Lộc An nằm bên cửa sông Ray, đây là con sông hợp thành từ nhiều con suối, trong đó suối Gia Tiên thuộc vùng núi Xuân Lộc (tỉnh Long Khánh cũ), là con suối chính. Bên phải cửa biển là xã Lộc An thuộc huyện Đất Đỏ, bên trái là xã Phước Thuận (thuộc huyện Xuyên Mộc). Hai bên sông Ray là rừng nguyên sinh ngập mặn, nối liền với rừng Bình Châu, Phước Bửu và hệ thống rừng già rộng lớn ở phía Bắc và Tây Bắc, mạng lưới bố phòng của địch ở vùng này cũng mỏng, do địa hình rừng núi ngăn cách, nên mọi hoạt động của địch tại đây hạn chế. Do đó cửa biển Lộc An sẽ là địa điểm thuận lợi cho việc vận chuyển, cất giấu và chuyển tải vũ khí đến các căn cứ kháng chiến của ta ở miền Đông.

Đồng chí Đại úy Tống Thành Lập - Thủy thủ Tàu 56 (Đoàn tàu không số) và bác sĩ Trần Văn Bản, người đã có 20 năm đi tìm hài cốt liệt sĩ.

Cửa biển Lộc An phía sông Ray có luồng lạch khá sâu, nhân dân trong vùng có truyền thống cách mạng, Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Pháp, cửa biển Lộc An trong tuyến giao thông nối liền miền Đông Nam bộ với miền Bắc. Vì vậy Trung ương Cục chọn bến Lộc An để làm bến bãi cho Tàu không số vừa, bảo đảm yếu tố bí mật, thuận lợi cho việc cất giấu vũ khí, vừa có khả năng tác chiến tốt, có hiệu quả chiến đấu khi có các tình huống xấu do địch gây ra.

Những cán bộ, chiến sĩ được giao nhiệm vụ điều khiển Tàu không số, đều là những người có kinh nghiệm đi biển, khôn khéo ngụy trang, luồn lách, giả làm tàu đánh cá, lợi dụng nước biển để giấu hàng, tránh sự phát hiện của địch. Khi đã cập bến an toàn, các cán bộ, chiến sĩ lập tức kết nối với lực lượng địa phương, tìm cách vận chuyển vũ khí nhanh chóng để trang bị cho các đơn vị chủ lực, bảo vệ an toàn tàu và bến bãi.

Theo lời kể của Đại úy, CCB Tống Thành Lập - Thủy thủ Tàu 56, ông đã có 3 chuyến đi biển ra miền Bắc nhận vũ khí và đã cập bến an toàn, đó là vào các năm 1963, 1964 và 1965. Một chi tiết mới từ trước đến nay chưa từng ghi trong sách báo, trong chuyến đi đầu tiên trên tàu chở theo 5 chiếc quan tài, trong mỗi chiếc để vào một cục đá nặng, nếu trong quá trình hải hành bị lộ phải chiến đấu với địch, thủy thủ hy sinh sẽ thủy táng anh em xuống biển để giữ bí mật. Về sau cấp trên không cho chở theo quan tài. Chuyến đi 10 ngày đêm lênh đênh trên biển, chở theo 20 tấn vũ khí. Số vũ khí này sau đó bổ sung cho các đơn vị chủ lực của Bộ Tư lệnh Miền và các tỉnh miền Đông, kịp thời trang bị và đẩy mạnh các hoạt động đánh địch, mở rộng vùng giải phóng, góp phần giành thắng lợi vang dội trong chiến dịch Bình Giã (2.12.1964 – 3.1.1965).

Chuyến đi thứ 2 năm 1964 cũng cập bến thành công. Số vũ khí này đã kịp thời bổ sung cho bộ đội ta bước vào giai đoạn II của chiến dịch Bình Giã, làm nên chiến thắng Bình Giã và góp phần cùng quân dân miền Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy.

Đặc biệt chuyến đi lần thứ 3, tàu cập bến Lộc An vào đêm giao thừa năm Ất Tỵ (1-2-1965). Đây là chuyến tàu chở 70 tấn vũ khí, lớn nhất so với hai chuyến trước. Số vũ khí này đã trang bị cho các đơn vị quân giải phóng, chuẩn bị cho chiến dịch Phước Long - Đồng Xoài (từ 10-5 đến 22-7-1965). Nhờ có vũ khí trang bị kịp thời, giữa năm 1965 quân và dân huyện Xuyên Mộc đã cơ bản phá toàn bộ hệ thống ấp chiến lược, giải phóng 2/3 đất đai, thế làm chủ vững mạnh, chính quyền ở các xã được thiết lập từng bước ổn định đời sống nhân dân. Cũng theo đồng chí Tống Thành Lập cho biết: Sau chuyến tàu thứ 3, Bộ Tư lệnh Miền dự đoán khả năng bến Lộc An có thể bị lộ, vì vậy ta quyết định xóa bỏ luôn bến này.

Bến Lộc An và các thủy thủ Tàu 56 thuộc Đoàn tàu không số, là một chiến tích đầy thuyết phục về lòng dũng cảm, táo bạo, mưu trí của quân và dân huyện Xuyên Mộc - Long Đất nói riêng và tỉnh Bà Rịa nói chung lúc bấy giờ. Là chứng tích của tuyến đường vận tải chiến lược trên biển của quân và dân ta, với tên gọi “đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”, con đường chở vũ khí từ miền Bắc vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Bến Lộc An hôm nay được nhà nước công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1995. Bến Lộc An khu di tích lịch sử văn hóa, là địa chỉ Đỏ để giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

Về với bến tàu Lộc An, được nghe những chuyến hải hành của Đoàn tàu không số, đội ngũ văn nghệ sĩ chúng tôi cảm nhận như được sống lại cùng lịch sử, về những năm tháng chiến tranh khốc liệt mà quân và dân ta đã trải qua. Càng tìm hiều những câu chuyện của Đoàn tàu không số, chúng tôi càng thêm tự hào về những chiến công anh dũng, sự hy sinh gian khổ của biết bao cán bộ, chiến sỹ trên các chuyến tàu. Những câu chuyện về họ đã trở thành bất tử, là một huyền thoại đẹp cho lớp lớp thế hệ mai sau, biết trân trọng và tự hào về truyền thống yêu nước và ý chí quật cường của một dân tộc đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, đồng thời khơi gợi cảm xúc cho văn nghệ sĩ khai thác các chất liệu trong các sáng tác của mình.

Nguồn: Báo Cựu chiến binh Việt Nam.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm