- Góc nhìn văn học
- Mang phẩm chất văn chương vào giá trị y khoa
Mang phẩm chất văn chương vào giá trị y khoa
NGUYỄN HOÀI NAM
Hiện nay giữa văn chương và y khoa đang là hai lĩnh vực xem ra là khá đối lập nhau. Một bên là y học, đòi hỏi mức độ chính xác khoa học và logic, hợp lý rất là rành mạch. Còn bên kia là văn chương, thì lại là nghệ thuật đầy cảm xúc, có khi bay bổng và chẳng chịu theo một quy tắc nào cả.
Hai thế giới tưởng như là không liên quan gì với nhau, và coi nhau cứ như dầu với nước ấy. Trong thực tế của sự phát triển xã hội, hóa ra chúng lại có những cái mối liên kết bất ngờ và chặt chẽ.
Thử tìm hiểu sâu hơn về sự hữu duyên đặc biệt giữa y học và văn chương. Có một câu hỏi cũng khó trả lời là: Tại sao lại có không ít bác sĩ lại cầm bút trở thành nhà văn? Và ngược lại, liệu văn chương có bổ ích gì cho ngành y không?

PGS.TS, nhà văn Nguyễn Hoài Nam.
Lịch sử nhân loại cho thấy, đã có bao nhiêu tên tuổi lớn trong làng văn chương thế giới từng là bác sĩ. Này nhé, như nhà văn viết truyện trinh thám cực hay, còn là tác giả như của Sherlock Holmes, Somerset Moham, gần đây hơn thì có Khaled Hosseini và những tên tuổi lớn khác. Ở Việt Nam mình cũng có khá nhiều bác sĩ mang văn chương vào y khoa.
Liệu đây có phải chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên không? Hay là có cái lực hút nào đó kéo các bác sĩ từ phòng khám, bệnh viện, phòng thí nghiệm đến với trang viết? Không hẳn là ngẫu nhiên đâu. Có một cách nói khá hình ảnh là các bác sĩ có một cái ghế hạng nhất, một cái vé VIP cơ bản để xem cái vở kịch cuộc đời đang diễn ra hàng ngày. Đúng là như vậy, họ đã được chứng kiến tận mắt những cái cột mốc quan trọng nhất của một kiếp người như sinh, lão, bệnh, tử. Rồi cả những chuyện rất đời thường như tình yêu, hôn nhân, ly dị, thậm chí là cả sa cơ lầm lạc nữa.
Chính xác mà nói, thì đây chính là một nguồn chất liệu vô tận. Những câu chuyện người thật, việc thật, mà có khi một nhà văn chuyên nghiệp cũng khó mà tưởng tượng ra được, trong sự phát triển bùng nổ của y học và công nghệ ngày nay.
Đối với nhiều bác sĩ, việc viết lách trở thành một công cụ ứng xử, một cách để họ lý giải, để họ tiêu hóa những trải nghiệm phức tạp và căng thẳng, thậm chí là những điều mang tính cạm bẫy và hiểm nguy. Khi đó viết văn giống như một cái van xả áp tinh thần, giúp bác sĩ đối mặt với stress, với lo âu và đặc biệt là giúp bác sĩ tránh được cái tình trạng gọi là burnout, kiệt sức nghề nghiệp.
Hiện tượng burnout trong ngành y hay xảy ra lắm. Nhiều nghiên cứu khoa học, ví dụ đến từ Stanford Medicine hay là AMMC cũng đã chỉ ra cái lợi ích của hiện tượng này rồi.
Viết lách còn giúp các bác sĩ có không gian để suy ngẫm về những ca bệnh phức tạp, về những thực trạng mà y học dù tiến bộ đến mấy cũng không xác định được. Ở đó, có cả những sai sót không mong muốn, có cả những cảm xúc yếu đuối nảy sinh trong quá trình hành nghề mà bình thường có nhiều khi bác sĩ phải kìm nén lại.
Như trường hợp bác sĩ Kenneth Weinberg được nhắc đến trong cuốn “Psychology Today”. Ông ấy chia sẻ với mọi người là ông đã tìm thấy sự khuây khỏa rõ rệt khi tham gia một chương trình viết lách giữa lúc công việc bộn bề ở ngay phòng cấp cứu đầy áp lực bủa vây.
Văn chương cũng giúp các bác sĩ tìm lại được ý niệm “lương y như từ mẫu”, tìm lại động lực cống hiến sau những mệt mỏi và chán chường. Như vậy hóa ra viết lách lại có tác dụng như một kiểu tự trị liệu, tự chữa lành cho chính những người thầy thuốc hay sao? Đúng là như vậy.
Giống như viết nhật ký để giải tỏa, nhưng tác phẩm văn chương có cấu trúc và chiều sâu hơn rất nhiều. Có một số nghiên cứu ở đại học Stanford cho thấy, các buổi workshop về viết lách đã làm giảm đáng kể mức độ căng thẳng ở sinh viên y khoa một cách rất hiệu quả.
Cho nên văn chương hỗ trợ chính những người làm nghề y giữ gìn sức khỏe tinh thần của mình. Bởi vì những người thầy thuốc phải đủ khỏe mạnh về tinh thần thì mới tiếp tục công việc chữa bệnh cho người khác.
Sự thật không thể phủ nhận, trong cuộc sống thường nhật, người chữa bệnh cũng cần được chữa lành kể cả thể chất và tinh thần. Việc viết lách tạo ra một không gian an toàn để họ đối mặt và giải tỏa những cái cảm xúc rối bời và nao núng trong khi hành nghề y, mà bất cứ bác sỹ nào cũng có thể mắc phải. Đã có rất nhiều bác sĩ đã tìm đến văn chương để giải tỏa, để suy ngẫm, để thương lượng với chính mình, để chan hòa với xã hội.
Thế còn cái chiều ngược lại thì sao? Có người đặt câu hỏi, liệu có cách nào đưa văn chương vào y học không? Rất nhiều người đã tìm thấy trong các tài liệu có nhắc đến thuật ngữ “y học tường thuật”. Nghe thì cũng khá “kêu” đấy, nhưng mà thú thực là rất khó để cho chúng ta hình dung một cách cụ thể.
Chẳng lẽ bác sĩ thảnh thơi ngồi đọc thơ, phân tích truyện ngắn thì lại chẩn đoán viêm ruột thừa nhanh hơn các bác sĩ cặm cụi khám bệnh hay sao? Mục tiêu của y học tường thuật không phải là thay thế dao mổ bằng bút viết hay thay ống nghe bằng sách văn học. Y học tường thuật mà người khởi xướng là một bác sĩ ở Đại học Columbia, khẳng định văn chương không nhằm thay thế các kỹ năng lâm sàng, mà để làm phong phú thêm, sâu sắc thêm những kỹ năng đó của bác sĩ. Ví dụ, kỹ năng đọc kỹ, phân tích sâu sẽ mài sắc thêm khả năng lắng nghe và quan sát của bác sĩ khi tiếp xúc bệnh nhân có nhiều biểu hiện khó lường.
Nói chính xác hơn, bác sĩ cần tập trung vào việc thực sự thấu hiểu câu chuyện của bệnh nhân, thấu hiểu hoàn cảnh và tâm tư của họ, chứ không chỉ đơn thuần là nhìn vào mấy triệu chứng ghi trên bệnh án. Biết bệnh nhân là người thế nào, đang loay hoay chống đỡ số phận ra sao, thì quan trọng hơn nhiều so với việc biết bệnh nhân mắc bệnh gì. Đó cũng là tinh thần chủ đạo của việc khám và chữa bệnh thực sự vì bệnh nhân.
Mỗi cuộc gặp gỡ bệnh nhân, bác sĩ cần có cái mà người ta gọi là năng lực tường thuật một vấn đề. Tức là khả năng nhận biết, tiếp thu, diễn giải và quan trọng là hành động dựa trên câu chuyện và hoàn cảnh của người khác. Không chỉ là nghe bằng tai mà còn là nghe bằng cả trái tim, bằng sự tinh tế nữa, để tiến hành cá thể hóa từng bệnh nhân cho phương pháp điều trị phù hợp.
Một điều rất cần ở người thầy thuốc là phải hiểu cả con người đằng sau căn bệnh. Hiểu được mối bận tâm chính của họ là gì, chứ không chỉ là cái lý do chính để bệnh nhân đến khám mà họ khai ban đầu. Đôi khi hai cái đó rất khác nhau. Hãy nhớ, đôi khí bệnh nhân ngại nói ra những lo lắng thầm kín trong cuộc sống, như một bản năng tự vệ.
Một điểm cũng rất quan trọng, tinh thần văn học giúp bác sĩ tự nhận diện và gỡ bỏ những định kiến và những thành kiến có thể đã hình thành và tồn tại một cách vô thức. Như vậy mục đích cuối cùng của tình yêu văn học là để bác sĩ bớt máy móc đi, bớt giống hình ảnh của những robot mặc áo blouse trắng.
Liệu việc đưa văn chương vào với y khoa chỉ dừng ở việc giúp bác sĩ trở nên tử tế hơn, dễ thương hơn, hay là thực sự cải thiện được chất lượng khám chữa bệnh? Đó là một vấn đề cần phải phân tích kỹ lưỡng.
Dĩ nhiên, sự thấu cảm đến từ lòng tốt bẩm sinh, từ kinh nghiệm sống, từ hành trang văn hóa, hay là từ kỹ năng giao tiếp được đào tạo bài bản, chứ đâu có nhất thiết cứ phải lôi văn chương vào. Thế nhưng có một điều là, khi bác sĩ có trái tim văn chương sẽ lắng nghe tốt hơn, bao dung hơn, có thể nắm bắt được những chi tiết quan trọng thường dễ bị bỏ qua ở từng ca bệnh. Điều này sẽ đưa đến khả năng chẩn đoán chính xác. Khi đó về phía bệnh nhân cũng cảm thấy mình thực sự được lắng nghe, được thấu hiểu như một người bạn, như một người thân. Và bệnh nhân sẽ tăng thêm lòng tin vào bác sĩ. Trong y khoa thì lòng tin của bệnh nhân rất quan trọng. Khi có lòng tin thì họ sẽ hợp tác tích cực điều trị, họ sẽ tuân thủ y lệnh tốt hơn.
Ngoài ra, y học tường thuật còn thúc đẩy bác sĩ phát triển tư duy phản biện, suy ngẫm độ lượng về các khía cạnh của con người, các khía cạnh của y học. Đây là những điều mà chương trình đào tạo y khoa truyền thống, vốn nặng về y sinh học, đôi khi chưa nhấn mạnh đầy đủ.
Giá trị văn chương còn đóng vai trò như một lăng kính, một tấm gương để soi chiếu những vấn đề đạo đức tối ưu trong y khoa và trong xã hội. Cho nên, điểm mấu chốt không chỉ là xây dựng hình ảnh thầy thuốc đạo mạo hơn, mà hướng đến chăm sóc bệnh nhân hiệu quả hơn, thông qua sự đồng cảm sâu sắc hơn.
Nói đi thì cũng phải nói lại, viết văn, nhất là viết cho hay, không hề đơn giản. Đó là điều chắc chắn đối với mọi người. Đặc biệt là với những người làm khoa học, quen với tư duy logic, quen với ngôn ngữ riêng biệt như các bác sĩ. Trên tạp chí BMCđã chỉ ra khá nhiều lỗi mà bác sĩ mới tập viết văn hay gặp phải. Đó là những lỗi rất thực tế. Bác sĩ Alan, một nhà văn nổi tiếng có chỉ ra một số cái hố mà người làm ngành y dễ rơi vào, khi thử sức với sáng tác văn chương.
Thứ nhất là cái có thể gọi nôm na là bệnh nghề nghiệp trong cách viết. Tức là viết như đang làm báo cáo ca bệnh trước đồng nghiệp hay trước cấp trên, rất là khô khan. Trang viết chỉ liệt kê sự kiện giống như kể lể miễn cưỡng, thay vì cho thấy sự trải nghiệm của con người thật sống động bằng hình ảnh, bằng chi tiết, bằng lời thoại tự nhiên, bằng tâm hồn chan hòa.
Thứ hai là xu hướng thích những cái kết gọn gàng, đâu vào đấy, có hậu, kiểu như phim ngôn tình Hàn Quốc. Cuộc sống đời thường đối diện bệnh tật vốn phức tạp, lắm lúc chộn rộn đau buồn. Không phải lúc nào cũng có cái kết hoàn mỹ, cứ né tránh cái bẽ bàng và cứ né tránh cái nhói buốt, thì trách nhiệm cộng đồng của bác sĩ trở nên mịt mờ.
Thứ ba là đôi khi quên mất độc giả là ai. Tức là viết chủ yếu để cho bản thân mình đọc, mà quên mất là mình đang kể một câu chuyện cho người khác nghe, đặc biệt là những người ngoài ngành y, những người không đọc được thông số xét nghiệm, những người không đọc được chỉ định biệt dược. Một bác sĩ lạm dụng thuật ngữ chuyên môn chi chít, thì khác gì đánh đố độc giả phổ thông. Khi dùng từ chuyên ngành không khéo léo giải thích, khi dùng từ chuyên ngành không đặt đúng bối cảnh suy tư, thì có khác gì đang đứng giữa đám đông lại tự thầm thì một mình.
Và cái cuối cùng, đôi khi thiếu đi một chút khiêm tốn cần thiết. Thiếu khiêm tốn là việc rất hay xảy ra với bác sĩ, vì bác sĩ thường quen với vai trò chuyên gia trong lĩnh vực của mình. Không ít bác sĩ đâu biết rằng, viết lách là một lĩnh vực khác, một sân chơi khác, đòi hỏi sự kiên nhẫn, sự học hỏi từ đầu và sự nhẫn nại khi nhìn nhận một vấn đề nhân sinh.
Có một câu chuyện vui được kể lại, nhà văn Mauget Loren từng nói với một bác sĩ phẫu thuật rất giỏi đang muốn bỏ nghề để đi viết văn: “Có sự trùng hợp thật đấy, tôi cũng đang định khi nào nghỉ viết thì sẽ chuyển sang đảm trách công việc phẫu thuật não đấy”. Đó là một cách nhắc nhở rất thâm thúy. Giỏi cái này không có nghĩa là tự động giỏi cái kia. Một nguyên tắc cơ bản là bác sĩ bước vào văn chương cần phải có sự lễ độ trau dồi, tương kính chữ nghĩa như phu thê “tương kính như tân”.
Còn một vấn đề liên quan đạo đức nghề nghiệp. Đó là khi bác sĩ viết về bí mật sức khỏe của bệnh nhân. Cực kỳ nhạy cảm. Câu hỏi cốt lõi ở đây là câu chuyện ấy thực sự thuộc về ai? Bác sĩ được nghe rất nhiều câu chuyện trong phòng khám, nhưng không có nghĩa là bác sĩ được quyền sở hữu những câu chuyện ấy.
Những câu chuyện trong phòng khám là kết quả của sự tương tác, sự đồng kiến tạo giữa bác sĩ và người bệnh. Cho nên, nếu muốn sử dụng những câu chuyện ấy, để viết thành tác phẩm công bố rộng rãi, bác sĩ phải hết sức đắn đo. Đầu tiên, phải có sự đồng ý rõ ràng từ bệnh nhân. Tiếp theo phải thay đổi thông tin cá nhân, thật cẩn thận, để không đẩy bệnh nhân vào những hoàn cảnh dở khóc dở mếu. Phải tránh mọi xung đột có thể xảy ra, bởi lẽ, ranh giới giữa vai trò bác sĩ đang điều trị và vai trò nhà văn đang tìm kiếm chất liệu, rất là mong manh và rất dễ bị xóa nhòa.
Bác sĩ kiêm nhà văn O Lazares từng đề cập đến cái ranh giới đôi khi khá cởi mở nhưng cũng đầy rủi ro này. Cần phân định, bác sĩ viết văn và nhà văn qua trường học y khoa. Bác sĩ viết văn tức là người chủ yếu vẫn hành nghề bác sĩ, thỉnh thoảng viết lách. Nhà văn qua trường học y khoa có những kiến thức của bác sĩ, nhưng nền tảng chuyên môn được họ phục vụ cho công việc sáng tác chuyên nghiệp. Hai vai trò, bác sĩ viết văn và nhà văn qua trường học y khoa, có những trách nhiệm và góc nhìn khác nhau, càng chứng minh mối quan hệ giữa y học và văn chương luôn hỗ trợ đa chiều, bổ sung trực tiếp.
Y học mang đến cho người viết chất liệu phong phú, góc nhìn độc đáo về con người. Ngược lại, tình yêu văn chương giúp bác sĩ làm tốt hơn sứ mệnh thầy thuốc của mình, chân thành hơn và hiệu quả hơn trong việc chăm sóc bệnh nhân. Y học và văn chương, dù khác biệt, thì cuối cùng đều hướng đến một mục tiêu chung: Đó là cố gắng không ngừng để an ủi nỗi đau con người, thấu hiểu thân phận con người, nâng đỡ giá trị con người.
Hãy đưa văn chương vào y khoa để gia tăng vẻ đẹp cuộc sống, để phía sau bóng áo blouse trắng luôn hiện diện trách nhiệm và tình thương.